Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng (13 bài)

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng 

Phạm Tuyên

27/03/2025 11:00

TP – Với gần một triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách Nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội.

Dù được coi là thành tố quan trọng để phát triển nền kinh tế, đóng góp ngày càng lớn, kinh tế tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản, không thể bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh.

Bài 1: Nguồn lực chưa được khơi thông

Những hạn chế phát triển của doanh nghiệp tư nhân thời gian qua xuất phát một phần từ những bất cập của hệ thống thể chế, chính sách kinh tế và môi trường kinh doanh. Những điểm nghẽn này không chỉ kìm hãm tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân, khiến tỷ trọng đóng góp của khu vực này trong GDP gần như không thay đổi trong hơn một thập kỷ qua, mà còn cản trở nền kinh tế nâng cao giá trị gia tăng, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Doanh nghiệp tư nhân còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các ngành công nghệ, kỹ thuật và tài chính. Ảnh: Nguyễn Bằng

Những sếu đầu đàn vươn tầm thế giới

Thực tế cho thấy, trong khoảng 20 năm trở lại đây, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra những dấu ấn đậm nét trong nền kinh tế với sự lớn mạnh nhanh chóng, nhiều tập đoàn đã vươn tầm thế giới, và liên tục nhiều năm có mặt trong danh sách các doanh nghiệp nộp thuế, đóng góp vào ngân sách lớn nhất Việt Nam.

Sự chuyển dịch trong cơ cấu các doanh nghiệp tư nhân siêu giàu và đóng thuế nhiều nhất Việt Nam không chỉ gói gọn trong lĩnh vực bất động sản như trước kia mà mở rộng cả sang các lĩnh vực khác như ngân hàng, sản xuất, thương mại dịch vụ, công nghệ, tài chính…

Cùng với sự phát triển của quy mô nền kinh tế và thị trường tài chính, năm 2024 cũng chứng kiến sự bùng nổ về nộp thuế của các doanh nghiệp và các ngân hàng tư nhân.

Điều này cũng phản ánh khá rõ trong thống kê theo số liệu thực nộp trong niên độ tài chính (12 tháng) của các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam cho thấy, trong số 10 doanh nghiệp tư nhân nộp thuế và ngân sách cao nhất năm 2024 chỉ có 1 doanh nghiệp hoạt động ngành nghề chính trong lĩnh vực bất động sản, 4 doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính, 4 doanh nghiệp ngành sản xuất với các sản phẩm về ô tô, sữa, thép, và một doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ.

Các số liệu tổng hợp cũng cho thấy, chỉ riêng 100 doanh nghiệp dẫn đầu trong nhóm các doanh nghiệp tư nhân lớn nhất đã đóng góp vào ngân sách tổng cộng gần 173.000 tỷ đồng. Trong đó, hơn 30 doanh nghiệp có số nộp ở mức nghìn tỷ trở lên.

“Một nút thắt quan trọng đang bó buộc kinh tế tư nhân chính là nhân lực và công nghệ. Những yếu tố trên đòi hỏi doanh nghiệp tư nhân phải chủ động hơn trong việc nâng cao năng lực nội tại, đồng thời mong muốn có thêm sự hỗ trợ phù hợp từ các chính sách của Nhà nước để phát triển bền vững”.

Ông Lê Quý Khả, Chủ tịch HĐQT – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cơ điện TOMECO

Trong số này, tốp 10 doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách lớn nhất năm 2024 đều là những tập đoàn tư nhân nổi tiếng gắn liền với các tỷ phú đô la của Việt Nam như Vingroup của ông Phạm Nhật Vượng; THACO của ông Trần Bá Dương, Hòa Phát của ông Trần Đình Long; Techcombank và Masan Group của ông Nguyễn Đăng Quang…

Đáng chú ý, top 10 doanh nghiệp dẫn đầu này đều là những đơn vị có số nộp ngân sách trên 4.000 tỷ đồng, trong đó Vingroup vượt trội với 30.900 tỷ đồng nộp ngân sách.

Cùng sự lớn mạnh, nhiều tập đoàn kinh tế đã khẳng định được thương hiệu không chỉ trong nước mà vươn ra thị trường quốc tế như Vingroup, Vietjet, Trường Hải, Masan, TH… và làm rất tốt nhiều lĩnh vực mà trước đây chỉ có tập đoàn kinh tế Nhà nước độc quyền như làm sân bay, cảng biển, sản xuất ô tô, ngân hàng, hàng không…

Doanh nghiệp chỉ cần… cơ chế

Nhiều doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách nghìn tỷ. Ảnh: PV

Tại nhiều cuộc họp với các bộ ngành thời gian qua, không ít lãnh đạo các doanh nghiệp tư nhân lớn, dù không nói thẳng những góc khuất mà chỉ “người trong cuộc mới hiểu” cũng đã phải cảm thán thừa nhận và ví khối doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam là lực lượng “siêu nhân” khi một mình phải gánh những vai trò khác biệt, chịu đủ mọi thiệt thòi về cơ chế, phải vận hành trong những lĩnh vực khó ngập mặt với những quy định chéo ngoe nhưng vẫn “sống khỏe”, dần vươn lên và trở thành lực lượng mạnh hơn cả các doanh nghiệp nhà nước ở nhiều lĩnh vực.

“Doanh nghiệp sẽ lớn mạnh miễn là Chính phủ, các bộ ngành, địa phương có cơ chế”… Đó là chia sẻ của ông Lê Quý Khả, Chủ tịch HĐQT – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cơ điện TOMECO với PV Tiền Phong khi nói về hành trình trong suốt 30 năm tham gia phát triển kinh tế tư nhân của công ty.

Theo ông Khả, để phát triển từ một xưởng cơ khí nhỏ trở thành nhà sản xuất quạt công nghiệp và cơ khí hỗ trợ xuất khẩu với tầm vóc, quy mô lớn như hiện nay là cả hành trình dài với bao nước mắt, mồ hôi và cả những bài học thương trường đầy thấm thía.

Theo đó, cũng như rất nhiều doanh nghiệp khác trên cả nước, công ty đã liên tục phải vượt qua đủ khó khăn, thử thách, phải không ngừng đổi mới công nghệ, tối ưu hóa quy trình sản xuất và mở rộng phạm vi hoạt động để đến giờ có thể cung cấp sản phẩm cho nhiều nhà máy, xí nghiệp trong nước và từng bước mở rộng ra thị trường quốc tế.

“Doanh nghiệp nào cũng đối mặt với khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực nhưng cái doanh nghiệp cần nhất chính là cơ chế. Chỉ cần tháo rào cản ưu đãi các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp FDI và có cơ chế đặt hàng cho các dự án lớn như các nước đã làm để thúc đẩy ngành cơ khí, doanh nghiệp trong nước sẽ lớn mạnh rất nhanh chóng”.

Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI)

Từ góc độ doanh nghiệp đang “thực chiến” trên thị trường, Chủ tịch TOMECO cho rằng, không thể phủ nhận được việc kinh tế tư nhân đã và đang đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, so với tiềm năng, khu vực này vẫn còn nhiều dư địa để phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ. Doanh nghiệp tư nhân nói chung đang đối mặt không ít khó khăn trong đó nổi lên 3 cái khó chính. Đầu tiên là khó do xuất phát từ quy mô nhỏ, hạn chế về vốn đầu tư để nâng cấp công nghệ, mở rộng sản xuất. Việc tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều rào cản, trong khi đầu tư vào sản xuất đòi hỏi nguồn vốn lớn và dài hạn.

Cái khó nữa liên quan đến việc phát triển chính là khối doanh nghiệp tư nhân không đủ năng lực cạnh tranh với doanh nghiệp FDI. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp FDI thường có lợi thế về công nghệ, tài chính và mạng lưới khách hàng, chưa kể được ưu đãi nhiều hơn về đất đai, chính sách thu hút đầu tư của các địa phương, tạo áp lực cạnh tranh đáng kể đối với doanh nghiệp trong nước.

Một cái khó nữa, theo Chủ tịch TOMECO, hiện cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp còn bất cập. Cụ thể, một số quy định về đầu tư, phòng cháy chữa cháy, môi trường,… đôi khi chưa được thiết kế phù hợp với đặc thù của từng ngành nghề, quy mô doanh nghiệp, gây khó khăn nhất định trong quá trình triển khai thực tế.

Cùng với đó, một số thủ tục liên quan đến đăng ký đầu tư, tiếp cận chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vẫn cần nhiều thời gian để hoàn thiện, gây ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển của doanh nghiệp.

“Để vượt qua những rào cản này, bản thân doanh nghiệp cần có chiến lược phát triển dài hạn, chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời mong muốn có sự hỗ trợ kịp thời từ chính sách của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển”, ông Khả nhấn mạnh.

Quan điểm doanh nghiệp chỉ cần cơ chế để phát triển cũng được ông Nguyễn Chỉ Sáng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) khẳng định với các quan chức và các hiệp hội lớn tham dự cuộc họp của Bộ Công Thương gần đây về phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Theo ông Sáng, doanh nghiệp ngành cơ khí đang chịu đủ thiệt thòi chỉ vì thiếu cơ chế ưu đãi. Nếu có cơ chế rõ ràng, doanh nghiệp tư nhân trong nước hoàn toàn có thể cạnh tranh ngang ngửa với các doanh nghiệp FDI trong rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.

Điển hình như trong lĩnh vực cơ khí, doanh nghiệp sẽ phát triển rất mạnh nếu Chính phủ có cơ chế để thúc đẩy phát triển những sản phẩm cơ khí hoàn chỉnh và mạnh dạn giao cho doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực như điện gió, đường sắt tốc độ cao hoặc như làm đường sắt giao thông thành phố, hay thiết bị y tế, dây chuyền nhà máy bô xít…

***

Ðòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 2:

Chi phí ngoài – ‘Vòi bạch tuộc’ hút máu doanh nghiệp

Phạm Tuyên – Uyên Phương

TP – Thủ tục hành chính “một cửa nhưng nhiều bậc xét duyệt”, tham nhũng vặt của các cán bộ, công chức nhiều lĩnh vực, ngành nghề, môi trường kinh doanh cạnh tranh không lành mạnh, bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, cùng lĩnh vực đang là những rào cản kéo kinh tế tư nhân dần đuối sức, nản lòng.

Chi phí không chính thức đè nặng doanh nghiệp. Ảnh: PV

Nản lòng vì tham nhũng vặt

“Rất tế nhị, cho phép em xin khất để trả lời trong chủ đề khác anh nhé. Em đã trao đổi với anh em doanh nghiệp hội viên nhưng mọi người đều khá e ngại khi nói về việc phải chi phí ngoài trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Những vấn đề khác liên quan đến chính sách, kiến nghị của doanh nghiệp thì bọn em nói được”,…Đó là câu trả lời của một phó chủ tịch hiệp hội doanh nghiệp lớn khi trả lời PV Tiền Phong liên quan đến những góc khuất trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân hiện nay.

Dù được giải thích và trấn an sẽ không nêu tên cũng như địa chỉ công ty khi chia sẻ về những “rào cản mềm” đang khiến doanh nghiệp ngày càng đuối sức trong hành trình phát triển, vị phó chủ tịch này cũng chỉ thừa nhận ngắn gọn: Doanh nghiệp muốn phát triển đều phải đối mặt với những chi phí không chính thức. Tuy nhiên không ai dám nói vì “ai cũng phải sống”, chưa kể nói xong thì sẽ dễ bị “ghi sổ” khiến cho việc kinh doanh sau này gặp khó khăn.

Thậm chí, có trường hợp doanh nghiệp dù đã công khai nêu tên đơn vị đã gây khó khăn, vòi tiền khi làm thủ tục hành chính tại những cuộc họp có đầy đủ quan chức các bộ ngành nhưng sau đó, khi được báo chí phản ánh, dẫn lại, doanh nghiệp đã “quay xe” rút lại lời tố cáo của mình.

“Chỉ khi doanh nghiệp bị ép đến đường cùng, việc tố cáo mới diễn ra chứ chúng em chỉ muốn yên ổn, không bị làm khó dễ khi làm ăn”, giám đốc một doanh nghiệp thương mại có trụ sở ở Hà Giang chia sẻ khi nói về những ẩn ức trong kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân hiện nay.

Cách đây vài năm, khi tham dự một cuộc họp kết nối doanh nghiệp xuất nhập khẩu và Bộ Công Thương với sự tham dự của đầy đủ các bộ ngành, hiệp hội, bức xúc vì bị gây khó dễ, đại diện Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang đề nghị Bộ Công Thương làm việc với Tổng cục Hải quan và Chi cục Hải quan ở Hải Phòng để can thiệp hỗ trợ doanh nghiệp không phải trả những “chi phí ngoài” khi làm thủ tục xuất khẩu hàng.

Cuộc họp lập tức “nóng” khi doanh nghiệp xuất khẩu tiết lộ việc khi làm thủ tục xuất khẩu hàng buộc phải trả những khoản tiền “không có hóa đơn” khiến chi phí của doanh nghiệp đội lên khá nhiều. Tính trung bình doanh nghiệp phải chi khoảng chục triệu đồng phí ngoài cho các khâu làm thủ tục hải quan cho mỗi lô hàng xuất khẩu.

Trước cáo buộc của doanh nghiệp, phía Hải quan sau đó đã làm việc trực tiếp với doanh nghiệp và gửi văn bản xác nhận tới báo Tiền Phong về việc không có chuyện phải chi tiền bồi dưỡng ngoài và thủ tục xuất khẩu hàng của doanh nghiệp luôn được tạo điều kiện thuận lợi.

Tuy nhiên chỉ gần 1 năm sau đó, tại một hội thảo khác, đích thân ông Đào Hữu Huyền, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang cũng kể lại câu chuyện phải chi tiền ngoài khi làm thủ tục hải quan.

Tuy nhiên, mức chi phí ngoài cho cán bộ hải quan cảng Đình Vũ đã giảm từ 10 triệu đồng/container xuống còn 5 triệu đồng/container. Ông Huyền cũng cho biết, cộng các chi phí ngoài, mỗi tấn hàng doanh nghiệp bị mất thêm 8 USD.

Nói ra rất động chạm

Khi trao đổi với PV Tiền Phong bên lề hội thảo về những khoản chi phí ngoài không chính thức phải trả cho hải quan ở cảng Đình Vũ, ông Huyền khi đó cũng xác nhận, chi phí ngoài cho hải quan là cả câu chuyện dài.

Chưa nói, doanh nghiệp phải trả nhiều khoản không chính thức khác nữa, tuy nhiên, nói ra thì rất… “động chạm” và sau khi báo đăng, hải quan bắt doanh nghiệp rút lại lời phát biểu đó.

Sau khi thông tin được đích thân Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang chia sẻ, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Tài chính kiểm tra, xử lý thông tin mà báo Tiền Phong nêu. Sự việc rùm beng cũng khiến doanh nghiệp chịu áp lực và sau đó gửi công văn đến báo xin “đính chính” lại lời đã nói.

“Công ty có chi 5 triệu đồng nhưng không phải cho Hải quan mà là gồm các chi phí thủ tục trong quá trình làm thủ tục tại cảng Đình Vũ”, văn bản do ông Huyền ký gửi đến báo nêu rõ.

Dù không dám đối đầu công khai nhưng cũng vẫn câu chuyện “phong bì ngoài”, khi chia sẻ trước Thủ tướng, Phó Thủ tướng và đông đảo lãnh đạo bộ ngành và địa phương tại Hội nghị Cải thiện năng suất lao động quốc gia hồi năm 2019, những chia sẻ của ông Đào Hữu Huyền, Chủ tịch Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang cũng cho thấy tình trạng “vòi vĩnh vặt” của cán bộ công chức là có.

Nói tới thể chế kinh tế hiện nay, ông Huyền dẫn chứng về thực tế mà doanh nghiệp Đức Giang gặp phải thời gian qua. Ông Huyền có 2 con học ở Anh về và đã làm việc ở Công ty Đức Giang 5 năm nay.

“Đối phó với nhiều rào cản từ các bộ, ngành suốt thời gian qua, nhiều lúc các cháu chán, muốn ra nước ngoài. Có lần lên một cơ quan phải cầm phong bì to nhỏ thì đích thân tôi phải đem lên, chứ để con cái tôi, chúng rất trong sáng cầm lên thì không hay”, ông Huyền kể.

Ông cũng nói: “Nếu không dẹp được tệ phong bì, phong bao, chi phí không chính thức nhiều như hiện nay, chúng ta sẽ làm mất ý chí thế hệ đi trước, làm nản lòng họ”.

Cùng với tình trạng tham nhũng vặt, việc bất bình đẳng trong kinh doanh cũng là vấn đề các doanh nghiệp bức xúc. Trong các cuộc trao đổi với PV Tiền Phong, đại diện nhiều doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu cho rằng, doanh nghiệp xăng dầu mấy năm qua gặp rất nhiều khó khăn do những bất cập từ chính các chính sách của cơ quan quản lý Nhà nước.

Giám đốc một doanh nghiệp xăng dầu thẳng thắn cho rằng, thị trường xăng dầu trong nước các năm 2022 – 2023 và những khó khăn trong kinh doanh xăng dầu trong nước kéo dài sau đó xuất phát từ việc chính cơ quan quản lý là Bộ Công Thương đã buông lỏng quản lý, dẫn đến tham nhũng, tiêu cực, chiếm dụng Quỹ Bình ổn giá và thất thu thuế.

Dù các dự thảo nghị định xăng dầu được Thủ tướng chỉ đạo xử lý các bất cập nhưng gần 2 năm vẫn loay hoay chưa xong. “Những góp ý của cộng đồng doanh nghiệp bán lẻ luôn bị gạt sang một bên, thậm chí không được lắng nghe, tiếp thu và đưa vào dự thảo.

Bức xúc vì bị gạt ra ngoài lề trong việc góp ý xây dựng nghị định mới, hàng chục doanh nghiệp bán lẻ đã buộc liên tục tố lên Thủ tướng. Tuy nhiên, những đòi hỏi chính đáng của doanh nghiệp hiện vẫn chưa được Bộ Công Thương lắng nghe”, vị này chia sẻ.

Phạm Tuyên – Uyên Phương

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 3: Phá ‘cục máu đông’ để cất cánh

Uyên Phương

TP – TPHCM được xem là điểm sáng cho sự phát triển mạnh mẽ của khối doanh nghiệp (DN) tư nhân. Các DN mong muốn nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền, cải thiện chính sách cũng như đơn giản hóa thủ tục hành chính để vươn mình trở thành những đơn vị dẫn dắt ở các lĩnh vực, khối ngành kinh tế.

Tìm động lực của nền kinh tế

Công ty TNHH Lập Phúc (quận 7, TPHCM) chuyên sản xuất về cơ khí khuôn mẫu chính xác vốn là một xưởng cơ khí nhỏ. Bước ngoặt đến với Công ty Lập Phúc là năm 2005, DN này được vay 6 tỷ đồng từ vốn kích cầu của thành phố để phát triển sản xuất. Từ đó, ông Nguyễn Văn Trí – Giám đốc Công ty Lập Phúc mạnh dạn đầu tư máy móc, không ngừng nghiên cứu, cải tiến sản xuất, nhập dây chuyền sản xuất tự động của châu Âu đáp ứng các yêu cầu khắt khe của nhiều công ty, tập đoàn lớn trên thế giới. Công ty đã chế tạo khuôn mẫu cho rất nhiều sản phẩm, chi tiết của các thương hiệu như xe Tesla, Suzuki, Panasonic, Sanyo… với doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm.

TPHCM tìm cách giúp DN tư nhân “cất cánh”, phát triển kinh tế. Ảnh: U.P.

DN tư nhân này còn đóng ngân sách cả chục tỷ đồng/năm cho TPHCM, giải quyết việc làm cho hơn gần 200 lao động. Lập Phúc là một trong những đơn vị dẫn đầu TPHCM trong ứng dụng công nghệ cao lĩnh vực cơ khí tự động, hợp tác với nhiều trường đại học, cao đẳng đào tạo nguồn nhân lực.

“Chính quyền TPHCM kiên quyết thay đổi tư duy từ hành chính, công quyền sang phục vụ, xem nhân dân, cộng đồng DN là đối tượng, là nguồn lực, động lực cho sự phát triển. Đây là thông điệp xuyên suốt mà TPHCM kiên quyết thực hiện. Mong cộng đồng DN đồng hành với chính quyền TPHCM. Để TPHCM phát triển, vai trò DN,doanh nhân rất quan trọng. Mong DN an tâm, tin tưởng vào chính quyền, vào thành phố” – Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được.

Chia sẻ về tiềm năng của khối kinh tế tư nhân khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ông Trí nói rằng, những chính sách ưu đãi thu hút FDI (DN có vốn đầu tư nước ngoài) đã khiến DN ngoại gần như “phủ sóng” mọi lĩnh vực kinh tế, nhất là trong công nghiệp hỗ trợ, song không nhiều DN Việt tham gia được trong chuỗi cung ứng. Do đó, đây là lúc sàng lọc nhà đầu tư, những lĩnh vực nào ưu tiên thu hút FDI và lĩnh vực nào ưu tiên DN trong nước phải có cơ chế khuyến khích, tạo chỗ đứng và giúp cho DN tư nhân Việt lớn mạnh, tăng doanh thu và tăng đóng góp vào ngân sách, tăng trưởng của đất nước. “Cần phải có tư duy xây dựng chính sách để DN nội, DN tư nhân trong nước lớn mạnh” – ông Trí nhấn mạnh.

Bà Lý Kim Chi – Chủ tịch Hội Lương thực thực phẩm TPHCM thông tin, TPHCM hiện có hơn 500.000 DN nhưng chỉ khoảng 230.000 DN có sản xuất thực tế và có doanh thu. Trong khi đó, 400.000 hộ kinh doanh cá thể hoạt động ổn định, phát triển bền vững, đây cũng là lực lượng ít giải thể nhất. Vì vậy, bà Kim Chi kiến nghị thành phố tiếp tục có chính sách khuyến khích hộ kinh doanh cá thể chuyển lên mô hình DN. “Việc này không chỉ giúp mở rộng quy mô nền kinh tế mà còn chính thức hóa khu vực kinh tế tư nhân, tăng thu ngân sách và nâng cao năng lực cạnh tranh” – bà Chi nói.

Lãnh đạo Hội Lương thực thực phẩm TPHCM khẳng định, kinh tế tư nhân chiếm gần 80% công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế tư nhân còn nhỏ lẻ, manh mún. Để sản xuất công nghiệp theo kịp thời đại, kỷ nguyên mới, cần phải thay đổi.

Để hỗ trợ cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển, không nên phân biệt giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước. Tuy nhiên, các chính sách cho kinh tế tư nhân đang còn thiếu, cần có các chính sách để hỗ trợ.

Bên cạnh đó, cũng cần chính sách của từng địa phương để hỗ trợ kinh tế tư nhân. Với sự hỗ trợ này, kinh tế tư nhân sẽ bứt phá, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam. Nên có chính sách miễn thuế 1-2 năm đầu, đơn giản hóa tất cả các thủ tục về thuế, hỗ trợ họ trong việc khai báo theo kinh tế số… “Khi chúng ta có lực lượng DN này, nền kinh tế sẽ có thêm sức mạnh. Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy, hàng trăm nghìn hộ kinh doanh này đang phát triển bền vững, ít giải thể hơn so với các DN thành lập sau này” – bà Chi chia sẻ.

TS Trần Du Lịch ví von, TPHCM rất cần “lót ổ đại bàng, nhưng cần những cánh rừng để tạo mật cho đàn ong”. Cộng đồng DN cần sự hỗ trợ về đất đai, cơ hội làm ăn, chính sách thuận lợi… “Thành phố hiện có khoảng 5 triệu DN nhỏ. Nếu 10% trong số này phát triển lớn mạnh, sẽ có thêm 1,5 triệu đơn vị quy mô lớn, tạo sức bật cho kinh tế” – Ông Lịch nói.

Khơi thông “cục máu đông”

Kinh tế tư nhân đang ngày càng phát huy vai trò động lực trong phát triển kinh tế của TPHCM. Để tiếp tục thu hút nguồn lực này, thành phố tiếp tục triển khai nhiều giải pháp, giúp cộng đồng DN phát huy hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh, góp phần cùng thành phố đạt mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2025.

Theo Sở Tài chính TPHCM, thống kê tổng vốn đầu tư thực hiện trong năm 2024 trên địa bàn thành phố cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân (gồm vốn ngoài nhà nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) đang chiếm 77%, trong đó vốn đầu tư ngoài nhà nước là 67,8%, còn lại là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thời gian qua, khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò động lực tăng trưởng, không chỉ tạo công ăn việc làm cho người lao động, mà còn đóng góp rất lớn vào việc duy trì vai trò đầu tàu kinh tế của TPHCM.

Tuy nhiên, hiện nay các DN vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Bên cạnh thị trường xuất khẩu biến động khó lường, những điểm nghẽn trong cơ chế, chính sách cũng làm giảm sức cạnh tranh của DN trên thương trường. Thậm chí, nhiều DN vẫn đang chật vật với chi phí đầu vào như cước tàu biển, nguyên vật liệu… ngày càng tăng cao.

Trước tình hình đó, bà Tô Thị Kim Thoa, Trưởng phòng Phòng Doanh nghiệp, Kinh tế tập thể và tư nhân thuộc Sở Tài chính, cho biết, TPHCM luôn đồng hành tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là về mặt thủ tục hành chính, cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh, giúp DN tiết giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh. Để cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất – kinh doanh, TPHCM sẽ tận dụng hiệu quả cơ chế đặc thù tại Nghị quyết 98 và 188 về phát triển đường sắt đô thị.

“Trong thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, lệ phí và tiền thuê đất để thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thành phố sẽ phát huy vai trò của các Tổ Công tác đặc biệt trong việc rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các công trình, dự án, khu đất trên địa bàn thành phố; nghiên cứu mô hình Tổ công tác làm việc với từng DN công nghệ lớn toàn cầu, nhà đầu tư chiến lược… Đồng thời rà soát, sửa đổi, hoàn thiện những quy định không còn phù hợp, chồng chéo, theo hướng vướng mắc ở đâu, tháo gỡ ở đó” – bà Thoa cho biết.

Ông Nguyễn Đức Lệnh – Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh TPHCM cho biết, đang triển khai các giải pháp để các tổ chức tín dụng tuân thủ quy định pháp luật, thực hiện đúng chính sách. NHNN chi nhánh TPHCM sẽ trực tiếp làm việc với các sở ngành và DN để tháo gỡ khó khăn, đồng thời đẩy mạnh kết nối giữa NH và DN thông qua việc triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho các lĩnh vực trọng điểm như nông – lâm – sản, nhà ở xã hội, chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, cà phê…

Năm 2025, ngành ngân hàng trên địa bàn TPHCM tiếp tục tổ chức thực hiện chương trình kết nối ngân hàng – DN, với lãi suất ưu đãi khoảng 4% cho vay ngắn hạn để hỗ trợ DN, mở rộng tăng trưởng tín dụng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong đó, có 18 ngân hàng và các tổ chức tài chính trên địa bàn thành phố đăng ký gói tín dụng ưu đãi hơn 517.000 tỷ đồng. “Đặc biệt, chương trình kết nối ngân hàng – DN trong năm nay sẽ có những đổi mới. Thay vì các cấp quận, huyện chủ trì như ba năm qua, năm nay các tổ chức tín dụng sẽ trực tiếp kết nối với doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực động lực tăng trưởng” – Ông Lệnh thông tin.

Tại phiên họp cuối tháng 2, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được xác định hai bài toán thành phố cần giải trong trước mắt cũng như lâu dài là giải ngân đầu tư công và tháo gỡ những “cục máu đông” của nền kinh tế, đưa các dự án vào vận hành, tạo nguồn thu.

Uyên Phương

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 4:

Hợp tác công – tư: Giải pháp đột phá phát triển kinh tế tư nhân

PGS,TS Ngô Trí Long (Chuyên gia Kinh tế)

TP – Tại Việt Nam, quá trình hội nhập sâu rộng cùng với yêu cầu phát triển bền vững đang đặt ra những thách thức lớn đối với mô hình phát triển truyền thống, đòi hỏi phải tìm kiếm những phương thức huy động và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Một trong những giải pháp đang được quan tâm và đánh giá cao là mô hình hợp tác công – tư (Public Private Partnership – PPP).

Hợp tác công – tư(PPP) là hình thức hợp tác giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân nhằm huy động các nguồn lực tài chính, kỹ thuật, và quản lý từ khu vực tư để thực hiện các dự án phát triển hạ tầng và cung cấp dịch vụ công. Với vai trò ngày càng quan trọng, PPP được xem như một động lực chiến lược góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng dịch vụ công và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Đặc biệt, đây là mô hình có thời gian hợp tác dài hạn (thường từ 10 đến 30 năm), đủ giúp khu vực tư nhân tham gia vào khâu đầu tư, xây dựng, vận hành hoặc bảo trì dự án; phân bổ rủi ro hợp lý giữa hai bên.

Để phát triển hạ tầng ở Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, PPP sẽ là giải pháp thu hút được nguồn lực tư nhân tham gia nhiều. Ảnh: Như Ý

Thực tế phát triển ở Việt Nam và các nước cho thấy, vai trò của PPP phát huy nhiều tác dụng trong việc phát triển hạ tầng, dịch vụ công và chuyển giao công nghệ. Chỉ riêng về phát triển hạ tầng, mô hình PPP đã phát huy rất tích cực trong huy động vốn tư nhân, giúp giảm gánh nặng ngân sách Nhà nước.

Theo Ngân hàng Thế giới, mỗi năm các nước đang phát triển cần khoảng 1,5 – 2 nghìn tỷ USD để đáp ứng nhu cầu hạ tầng, trong khi ngân sách công chỉ đáp ứng khoảng 40%. Còn theo tính toán của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), nước tính nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam khoảng 480 tỷ USD vào năm 2030.

Triển vọng Cơ sở hạ tầng Toàn cầu, một sáng kiến của G20, ước tính rằng Việt Nam sẽ cần hơn 600 tỷ USD để đạt được các mục tiêu về cơ sở hạ tầng vào năm 2040.

Tính toán của Bộ Tài chính cũng cho thấy, Việt Nam cần hơn 2 triệu tỷ đồng cho đầu tư hạ tầng giai đoạn 2021–2030, trong khi ngân sách chỉ có thể đáp ứng khoảng 50%. PPP giúp tận dụng dòng vốn tư nhân, kể cả đầu tư nước ngoài (FDI), để bù đắp thiếu hụt này. Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, nhiều dự án điện mặt trời, điện gió đã được triển khai với nguồn vốn tư nhân lên tới hàng tỷ USD.

Quá trình triển khai cho thấy, lĩnh vực giao thông chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các dự án PPP tại Việt Nam, đặc biệt là hình thức BOT. Giai đoạn 2011–2020 có hơn 330 dự án giao thông theo hình thức PPP, tổng mức đầu tư khoảng 1,6 triệu tỷ đồng.

Một số dự án tiêu biểu cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn, quốc lộ 1A qua Bình Thuận…

Lĩnh vực y tế mới triển khai dự án thí điểm tại một số bệnh viện tuyến trung ương và địa phương. Trong đó, dự án PPP đáng chú ý hợp tác đầu tư xây dựng Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện E với tổng vốn khoảng 250 tỷ đồng. Hình thức chủ yếu thuê – mua thiết bị y tế, khai thác cơ sở vật chất bệnh viện.

Lĩnh vực giáo dục chưa phổ biến, chủ yếu tập trung ở cấp đại học và dạy nghề. Một số trường đại học hợp tác với doanh nghiệp xây dựng cơ sở vật chất, ví dụ: Trường Đại học Việt – Nhật, Trường Đại học FPT. Các dự án thường mang tính thử nghiệm và đến nay chưa nhân rộng được mô hình PPP trong phổ thông.

Các chính sách và khung pháp lý hiện hành Luật PPP năm 2020 (hiệu lực từ 2021) là văn bản pháp lý cao nhất, tạo khung pháp lý thống nhất. Nghị định 35/2021/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật PPP. Các chính sách ưu đãi miễn, giảm thuế, hỗ trợ đất đai, chia sẻ rủi ro doanh thu (nhà nước – nhà đầu tư chia sẻ 50:50 nếu chênh lệch lớn hơn 25%). Danh mục lĩnh vực ưu tiên PPP giao thông, năng lượng, hạ tầng công nghệ thông tin, giáo dục – đào tạo, y tế, nông nghiệp.

Việc huy động được nguồn vốn lớn từ khu vực tư nhân đã giúp giảm gánh nặng ngân sách, cải thiện đáng kể hệ thống hạ tầng giao thông quốc gia đồng thời tạo môi trường pháp lý đồng bộ hơn từ khi Luật PPP có hiệu lực.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, còn tồn tại những hạn chế: tỷ lệ thực hiện dự án PPP thành công còn thấp chỉ khoảng 20% dự án đăng ký được triển khai thực tế.

Chưa có nhiều dự án PPP lớn trong lĩnh vực y tế, giáo dục, công nghệ. Quá trình lựa chọn nhà đầu tư còn thiếu minh bạch, thủ tục phức tạp. Nhà đầu tư vẫn e ngại rủi ro về pháp lý, tài chính và chia sẻ doanh thu.

Hướng đi chiến lược cho tăng trưởng kinh tế

Với bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, để thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển, hợp tác PPP giúp chia sẻ rủi ro và chi phí giữa nhà nước và tư nhân. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), tổng vốn đầu tư theo hình thức PPP giai đoạn 2011–2021 đạt gần 1,6 triệu tỷ đồng, trong đó phần vốn tư nhân chiếm khoảng 40–50%. Nhờ PPP, ngân sách Nhà nước không phải chi trả toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu, giúp giảm áp lực tài khóa.

Để thúc đẩy sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam, PPP là một giải pháp chiến lược nhằm giải quyết bài toán tài chính, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển hạ tầng bền vững.

Việc hợp tác này cũng giúp các doanh nghiệp tư nhân thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản trị.

Các doanh nghiệp tư nhân thường mang theo kỹ thuật, công nghệ và mô hình quản lý tiên tiến khi tham gia vào dự án PPP.

Ví dụ: Trong dự án đường cao tốc Bắc – Nam, các nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu ứng dụng hệ thống giám sát giao thông thông minh ITS (Intelligent Transportation Systems). Điều này thúc đẩy năng lực vận hành và giám sát hiện đại hóa trong lĩnh vực công.

Nhờ có khu vực tư nhân tham gia, các dịch vụ công như y tế, giáo dục, giao thông… trở nên đa dạng, hiệu quả hơn.Ví dụ: Bệnh viện PPP như Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế, cung cấp dịch vụ cao cấp với chi phí hợp lý.Cơ sở hạ tầng như cảng biển, sân bay, đường cao tốc được vận hành linh hoạt và chất lượng phục vụ được cải thiện rõ rệt.

Tuy nhiên, bên cạnh việc thúc đẩy PPP, các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân cũng phải đối mặt không ít thách thức. Đầu tiên là những hạn chế về khung pháp lý và minh bạch thông tin. Nhiều quy định pháp lý chưa đồng bộ giữa các bộ ngành, gây chồng chéo trong quản lý dự án.

Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2023), 60% nhà đầu tư cho biết, thiếu minh bạch là rào cản lớn nhất khi tham gia dự án hợp tác công tư (PPP) tại Việt Nam. Chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ và minh bạch về các dự án đang và sẽ triển khai. Rủi ro phân bổ không hợp lý giữa hai bên nhà đầu tư thường phải chịu nhiều rủi ro như biến động lãi suất, tỷ giá, trong khi Nhà nước chưa có cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.

Theo thống kê, có tới 45% các dự án PPP bị chậm tiến độ do vướng mắc trong phân chia rủi ro. Thiếu năng lực triển khai và giám sát dự án nhiều cơ quan quản lý địa phương chưa có đủ kinh nghiệm và nguồn lực để thực hiện các dự án lớn.

Báo cáo của ADB năm 2022 cũng cho thấy, chỉ có khoảng 30% địa phương có đội ngũ chuyên trách về quản lý và giám sát dự án PPP. Công tác giám sát thường mang tính hình thức, thiếu tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả rõ ràng.

Một trong những rào cản lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân tham gia PPP chính là sự thiếu vắng trách nhiệm giải trình, luật về PPP chưa được hoàn thiện, tính minh bạch vẫn chưa được nâng cao. Luật PPP ban hành năm 2020, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc trong thực hiện, đặc biệt ở cấp địa phương.

Theo thống kê, đến năm 2023 chỉ có khoảng 200 dự án PPP được triển khai (giai đoạn 2016–2023), giảm mạnh so với tiềm năng. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài e ngại rủi ro pháp lý do quy định chưa rõ ràng về giải quyết tranh chấp và quyền lợi đầu tư.

Theo Ngân hàng Thế giới, một trong những nguyên nhân chính khiến nhà đầu tư rút khỏi dự án PPP tại Việt Nam là rủi ro liên quan đến tỷ giá, rủi ro thay đổi chính sách… không được chia sẻ đồng đều. Chỉ khoảng 30% cán bộ quản lý dự án PPP tại các địa phương được đào tạo chuyên sâu.

Thiếu hệ thống quản lý, đánh giá hiệu quả dự án dẫn đến thất thoát vốn và kéo dài thời gian thực hiện. Ví dụ: Dự án đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận (giai đoạn đầu theo hình thức PPP) bị chậm hơn 3 năm do thay đổi cơ chế và yếu kém trong giám sát.

Để thúc đẩy sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam, PPP là một giải pháp chiến lược nhằm giải quyết bài toán tài chính, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển hạ tầng bền vững. Tuy còn nhiều thách thức về pháp lý.

Nếu quản lý và chia sẻ rủi ro, song với khung pháp lý hoàn thiện và môi trường đầu tư minh bạch hơn, PPP hoàn toàn có thể trở thành động lực đột phá cho tăng trưởng kinh tế quốc gia trong giai đoạn tới cùng với sự tham gia phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 5:

Đau đầu vì nút thắt tín dụng

Phạm Tuyên

TP – Theo các chuyên gia và doanh nghiệp, việc gỡ nút thắt về vốn thông qua xây dựng chính sách và cơ chế bảo lãnh tín dụng cởi mở, thông thoáng hơn, thủ tục vay vốn đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện hơn, các kênh tiếp cận tài chính đa dạng hơn sẽ là giải pháp đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể hình thành các tập đoàn tư nhân lớn mạnh.
 

Cần đồng bộ hóa chính sách từ Nhà nước

Chia sẻ với PV Tiền Phong về hành trình từ một xưởng sản xuất nhỏ trở thành nhà sản xuất linh kiện xi lanh trục vít đứng đầu tại Việt Nam và xuất khẩu ra thế giới, ông Nguyễn Xuân Ngọc, Giám đốc Công ty TNHH Kỹ thuật ASG Việt Nam cho biết, phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam là hành trình đầy khổ nhọc với bất cứ doanh nghiệp nào.

Theo ông Ngọc, năm 2012, với khát vọng muốn trở thành một công ty có những sản phẩm có vị thế đứng đầu Việt Nam và vươn ra thế giới, ông chính thức bước chân sang làm chủ doanh nghiệp chuyên cung cấp linh kiện máy móc và giải pháp ngành nhựa. Tài sản ban đầu của công ty vỏn vẹn chỉ là kinh nghiệm sâu trong ngành ép nhựa cùng kiến thức nền tảng khi đi làm tại các tập đoàn lớn.

Theo ông Ngọc, trong giai đoạn đầu phát triển, thiếu phương tiện công nghệ, thiết bị và vốn luôn là những vấn đề khi công ty đặt mục tiêu vào nghiên cứu các công nghệ chế tạo ra xi lanh trục vít cho máy ép nhựa. Do là ngành khá đặc thù nên dù đã quay trở lại trường ĐH Bách Khoa hỏi các thầy giáo nhưng cũng không tìm được lối ra.

Doanh thu những năm đầu của công ty chỉ vài tỷ đồng và đối mặt nhiều khó khăn. Sau một thời gian đặt hàng sản xuất OEM từ một số nhà chế tạo từ Nhật Bản, Đài Loan, công ty xác định phải chuyển hướng sang sản xuất trực tiếp để tránh phụ thuộc nhà cung cấp, giảm giá thành do các sản phẩm với chi phí rẻ hơn nhập khẩu. Dần dần vượt qua trở ngại ở thị trường ngách, sản phẩm của công ty dần được sự tin tưởng của các khách hàng là các công ty Nhật lớn nhất ở Việt Nam.

“Tháng 5/2016, chúng tôi thành lập nhà máy gia công CNC, chế tạo theo bản vẽ đặt hàng của khách hàng, tạo tiền đề nghiên cứu chuyên sâu về xi lanh trục vít và chính thức đi vào giai đoạn sản xuất chuyên sâu. Đây là giai đoạn công ty tối ưu được chi phí, bắt đầu bước chân vào sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, áp dụng các công nghệ tiên tiến về vật liệu mới”, ông Ngọc cho hay.

Theo lãnh đạo ASG Việt Nam, để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khối công nghiệp hỗ trợ, Nhà nước cần có các chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu ngành sản xuất máy cái (máy cắt gọt kim loại có độ chính xác rất cao, dùng để chế tạo các chi tiết chính xác, chủ yếu của máy công cụ) tạo ra một thị trường rất lớn của riêng Việt Nam, giúp tối ưu được công nghệ cho cả ngành sản xuất và cả thị trường.

“Việc cần tiếp theo đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là có chính sách hỗ trợ tiếp cận thuê đất đai. Hiện các khu công nghiệp thường cho thuê theo lô diện tích rất lớn, từ 10.000 m2 trở lên trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ cần diện tích từ 3.000 – 5.000m2 để phù hợp với quy mô sản xuất và kế hoạch phát triển của doanh nghiệp”, ông Ngọc đề xuất.

Ông cũng cho biết, với đặc thù của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc có các chính sách hỗ trợ lãi suất, ưu đãi đầu tư cho các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ sẽ là nền tảng để doanh nghiệp có thể có nguồn lực để nhanh chóng vươn lên.

Thiếu tài sản thế chấp, thiếu vốn đang là rào cản lớn nhất với doanh nghiệp tư nhân hiện nay Ảnh: Nguyễn Bằng

Đồng quan điểm, ông Lê Quý Khả, Chủ tịch HĐQT – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cơ điện TOMECO cho rằng, doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực sản xuất hiện không chỉ cạnh tranh với doanh nghiệp FDI mà còn phải thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, yêu cầu thị trường và biến động kinh tế.

Vì vậy, việc có các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp, tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, đơn giản hoá các thủ tục đăng ký đầu tư, tiếp cận chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sẽ là những giải pháp tốt và cần nhất trong giai đoạn hiện nay.

“Các ngân hàng cần cải tiến quy trình thẩm định tín dụng theo hướng đơn giản, minh bạch và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ. Việc áp dụng mô hình thẩm định tín dụng theo rủi ro, kết hợp đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp bằng các tiêu chí linh hoạt, giảm bớt yêu cầu giấy tờ không cần thiết cũng sẽ giúp doanh nghiệp rộng cửa tiếp cận vốn vay hơn”. ông Nguyễn Thanh Khiết

Theo ông Khả, để kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, cần kết hợp hai yếu tố đến từ sự đồng bộ hóa chính sách từ Nhà nước và đến từ sự nâng cao nội lực doanh nghiệp.

Để gỡ các nút thắt này, Chính phủ cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tư nhân trong việc tiếp cận vốn, đất đai và các chính sách hỗ trợ sản xuất. Cùng đó, cần đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bản thân doanh nghiệp cũng phải không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh doanh, mà còn cần đảm bảo phát triển theo hướng bền vững để từ đó có thể đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển kinh tế quốc gia.

 

Ngân hàng phải đồng hành với doanh nghiệp

Hỗ trợ doanh nghiệp lớn mạnh thông qua tạo cơ chế, bơm vốn để khi doanh nghiệp “sống khoẻ” sẽ quay lại đóng thuế, nộp ngân sách là một trong những chiến lược đồng hành với doanh nghiệp được TPHCM triển khai từ tháng 11/2024 đến nay.

Ông Nguyễn Quang Thanh – Phó Tổng Giám đốc Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TPHCM (HFIC) cho biết, thành phố hướng tới cho vay các dự án của các các doanh nghiệp 100% vốn trong nước thực hiện trên địa bàn TPHCM và các đơn vị công lập.

HFIC sẽ cho vay với lãi suất 0% đối với số tiền 200 tỷ đồng, thời hạn vay 7 năm để doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết bị mới, nhà xưởng… thuộc các lĩnh vực công nghệ cao, thương mại, sản xuất nông nghiệp, y tế, giáo dục, môi trường, cơ khí hóa tự động, chế biến thực phẩm, dệt may, da giày.

Cùng đó, thành phố ưu tiên hỗ trợ lĩnh vực công nghệ cao, chuyển đổi số, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; thương mại và phục vụ sản xuất nông nghiệp, giáo dục nghề nghiệp; hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và môi trường. Trong đó, các lĩnh vực được ưu tiên cho vay hỗ trợ lãi suất, bao gồm cơ khí tự động hóa, cao su, nhựa, hóa dược, chế biến thực phẩm, điện tử và công nghệ thông tin, dệt may và da giày với mức hỗ trợ 50% hoặc 100%, mức vốn vay tối đa lên đến 200 tỷ đồng/dự án.

Cũng theo ông Thanh, để tháo gỡ rào cản đối với doanh nghiệp không còn tài sản thế chấp, HFIC sẵn sàng chấp nhận thế chấp tài sản hình thành trong tương lai của doanh nghiệp khi ký hợp đồng vay vốn.. Tuy nhiên, tài sản này được định giá khoảng 50% giá trị mà doanh nghiệp đã mua, từ đó quyết định số tiền cho vay.

Theo ông Nguyễn Thanh Khiết, Chủ tịch Hãng kiểm toán ASCO, một trong những thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp phải là khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng.

Dù ngân hàng có các gói tín dụng cho nhiều lĩnh vực, từng phân khúc với các mức lãi suất khác nhau nhưng hầu như doanh nghiệp không tiếp cận được do bản thân doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu tài sản đảm bảo, hồ sơ tài chính chưa minh bạch…

Để giải quyết nút thắt này, cần triển khai các giải pháp đồng bộ từ phía ngân hàng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.

Ở chiều ngược lại, nếu muốn thúc đẩy vốn tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa, các ngân hàng cũng cần nghiên cứu thiết kế các sản phẩm tài chính chuyên biệt như khoản vay tín chấp dựa trên dòng tiền kinh doanh, khoản vay theo hợp đồng đầu ra hoặc khoản vay dựa trên tài sản hình thành từ vốn vay.

Cùng với đó, ngân hàng cần mở rộng việc đánh giá tín dụng dựa trên dữ liệu giao dịch thực tế của doanh nghiệp thay vì chỉ tập trung vào tài sản đảm bảo hoặc khoản vay dựa trên tài sản hình thành từ vốn vay.

***

Ðòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 6: Mãi ở phân khúc thấp, vì sao?

Phạm Tuyên

TP – Sau nhiều năm, hàng loạt đại bàng, doanh nghiệp FDI toàn cầu đã có mặt và kinh doanh ở Việt Nam. Tuy nhiên, đằng sau mặt trái của tấm huy chương về thu hút FDI chính là sự phụ thuộc về năng lực công nghệ, cũng như định hướng lại cơ cấu ngành nghề để doanh nghiệp Việt làm chủ công nghệ, đi sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ DN đầu tư nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ.

Khó lớn vì thiếu tư duy

Trả lời câu hỏi về việc các doanh nghiệp hiện vẫn gia công nhiều, làm sao đi vào sâu hơn chuỗi cung ứng, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn cho từng sản phẩm, chia sẻ với PV Tiền Phong, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho rằng, điều này xuất phát từ việc các doanh nghiệp điện tử của Việt Nam nói riêng và ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung hiện đang là các doanh nghiệp nhỏ và vừa là chủ yếu. Các doanh nghiệp thuộc nhóm này luôn đối mặt 3 vấn đề cơ bản: Thiếu vốn cho đầu tư, sản xuất; Nguồn nhân lực quản trị sản xuất; đặc biệt là vận hành dây chuyền sản xuất là điều các doanh nghiệp Việt đang yếu.

Theo bà Hương, hiện có nhiều chương trình của Chính phủ và các tổ chức quốc tế trong hỗ trợ doanh nghiệp Việt. Tuy nhiên, các chương trình đó cần đi vào chiều sâu hơn. Các chương trình đào tạo hiện vẫn chung chung, chưa tập trung cho con người cụ thể, sản xuất chuyên môn cụ thể. Bản thân các doanh nghiệp tiếp cận các thông tin nhiều nhưng hỗ trợ thực tế cho doanh nghiệp còn khá hạn chế. “Hiện trong ngành điện tử, chủ yếu chúng ta bị cạnh tranh của các doanh nghiệp Trung Quốc. Trong khi do thiếu nguồn vốn nên các doanh nghiệp Việt rất khó để mở rộng phát triển, đầu tư nâng cao công nghệ. Đây là việc cần khơi thông. Các chính sách của Nhà nước về thuế, hải quan cũng cần cụ thể hơn. Không nên có những thay đổi bất ngờ về chính sách làm cho doanh nghiệp trở tay không kịp”, bà Hương nói.

Chỉ ra loạt vấn đề “cười ra nước mắt” tại một cuộc họp của Bộ Công Thương về thúc đẩy xuất khẩu, ông Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) cho biết, dù doanh số về máy móc, thiết bị hàng năm rất lớn, lên tới hàng chục tỷ USD nhưng số tiền này chủ yếu là đóng góp từ khối doanh nghiệp FDI, phần của doanh nghiệp nội hiện rất khiêm tốn.

Theo ông Sáng, ngoài các vấn đề về vốn, nhân lực, công nghệ, doanh nghiệp Việt hiện thiếu nhiều kỹ năng liên quan đến tiếp thị khách hàng, triển lãm, tổ chức xúc tiến thương mại cũng như làm hình ảnh trên các nền tảng mạng xã hội, trên Facebook, Tiktok…, thậm chí các website của công ty cũng rất nghèo nàn thông tin. Như vậy làm sao quảng bá được thương hiệu, làm sao tạo được sự tin tưởng đặt hàng từ các đối tác. Nghịch lý nữa của ngành cơ khí, cũng như trong hầu hết các ngành nghề chính là bên cạnh việc hầu như không biết đến tận dụng thương mại điện tử để phát triển, doanh nghiệp nào cũng bo bo phần của mình, rất khó kết nối với nhau. Thậm chí hai doanh nghiệp cùng ngành cùng làm một lĩnh vực nhưng không nói chuyện được với nhau. Điều này dẫn đến việc rất khó kết nối với các doanh nghiệp hay hiệp hội nước ngoài cũng như không thể làm việc được với các nhà nhập khẩu lớn.

Một tư duy cũ bộc lộ đó là khi các doanh nghiệp đã làm được một sản phẩm tốt thì lại ngại thay đổi, cải tiến sản phẩm. Điển hình như trường hợp của một công ty TNHH Cơ khí công nông nghiệp thực phẩm ở TPHCM sản xuất được hệ thống máy xay xát lúa gạo liên hoàn thống trị được thị trường và xuất khẩu được tới 4 triệu USD/năm. Nhưng doanh nghiệp này quyết không mở rộng thị trường dù tiềm năm xuất khẩu sang các nước châu Phi lên tới hàng chục triệu USD.

Tổng giám đốc một doanh nghiệp cơ khí lớn doanh thu nghìn tỷ đồng có trụ sở ở Hà Nội cũng cho biết, một điểm “khó lớn” mang tính cốt tử của các doanh nghiệp Việt xuất phát từ tư duy và tầm nhìn chiến lược trong phát triển doanh nghiệp là chủ yếu cạnh tranh nhờ có nguồn nhân công rẻ mạt. Trong khi đó, Trung Quốc hay Ấn Độ, ngoài nhân công rẻ, họ thành công nhờ tổ chức sản xuất được theo chuỗi với quy mô lớn. Họ phân công các doanh nghiệp đầu tư chuyên môn hoá sâu trong từng lĩnh vực sản xuất, cho đến linh kiện. Ông nào có thế mạnh gì thì tập trung đầu tư con người và nghiên cứu (R&D). Sự chuyên môn hoá cao này đã giúp doanh nghiệp có lợi thế không thể so sánh. Đặc biệt “chữ tín” trong kinh doanh của các doanh nghiệp Trung Quốc hay Ấn Độ được hình thành từ những hợp đồng rất nhỏ cho đến các hợp đồng lớn.

Theo vị này, doanh nghiệp Việt sẽ rất cần sự chung tay của Chính phủ, các cơ quan bộ ngành, đặc biệt là hệ thống thương vụ trong việc đưa hàng ra thế giới. Hiện Việt Nam có hệ thống tham tán thương mại rất rộng, phủ khắp các nước nhưng các kênh thông tin đến được với doanh nghiệp còn rất hạn chế. Chính vì vậy có tình trạng doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng bị vướng hoặc gặp khó vì không phù hợp đặc điểm thị trường và hay bị lừa đảo khi xuất khẩu.

“Nếu không có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Nhà nước, các doanh nghiệp sẽ gặp khó trong đầu tư vì mỗi một nhà máy đều cần tới số vốn hàng trăm tỷ đồng. Khi ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, việc tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI sẽ chậm theo, thậm chí đánh mất cơ hội phát triển cùng với sự phát triển của các tập đoàn toàn cầu”.

Ông Ðỗ Phước Tống,

Chủ tịch Hội doanh nghiệp Cơ khí Ðiện TP Hồ Chí Minh (HAMEE)

Cần cơ chế đặt hàng đặc thù

Chia sẻ với PV Tiền Phong, nhiều chuyên gia và doanh nghiệp khẳng định, việc Chính phủ mạnh dạn giao đặt các đơn hàng lớn trong lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao, vốn đầu tư lớn, mức độ phức tạp cao là cách “tôi rèn” tốt nhất để các doanh nghiệp trong nước vượt qua “cái bóng” của doanh nghiệp FDI trong nhiều lĩnh vực. Những thử nghiệm đặt hàng này là bệ đỡ tốt nhất giúp cộng đồng doanh nghiệp trong nước lớn mạnh. Bài học về làm chủ công nghệ trong thi công các hệ cầu, các công trình thủy điện lớn như Lai Châu, Sơn La hay đường dây 500kV đi suốt dọc chiều dài đất nước hoặc những dự án, nhà máy đặc thù chuyên sản xuất linh kiện cho các hãng hàng không lớn trên thế giới như Airbus, Boeing ở Việt Nam thời gian qua là những minh hoạ rõ nét nhất trong việc tự lực, tự cường trong sản xuất, nghiên cứu khoa học công nghệ.

Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Vân – Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA) luôn day dứt về việc làm sao có một cơ chế, một đòn bẩy thật sự mạnh mẽ, hiệu quả để các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ vươn lên.

Theo ông Vân, những năm gần đây, doanh nghiệp nhiều ngành nghề đối mặt đủ khó khăn, do tác động của dịch COVID-19, từ biến động của thị trường cũng như đứt gãy chuỗi giá trị cung ứng, hàng tồn kho do tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc. Trong hoạt động thực tế của doanh nghiệp, những khó khăn chủ yếu thường sẽ hay được đề cập nhiều nhất về vốn vì đây là một trong những yếu tố tiên quyết nhất để doanh nghiệp tồn tại, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đầu tư cho nghiên cứu, phát triển (R&D). Theo ông Vân, thực tế HANSIBA cho thấy, các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ trong lĩnh vực ngành sản xuất công nghiệp hỗ trợ luôn cần sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý cơ chế chính sách, hạ tầng đất đai sản xuất, công nghệ mới. “Doanh nghiệp cũng rất cần có các chính sách hỗ trợ thúc đẩy cung ứng hàng hóa, sản phẩm cũng như chính sách hỗ trợ về mặt công nghệ để doanh nghiệp phát triển, vươn lên. Cùng đó cần có chính sách cụ thể để thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các ngành chiến lược như năng lượng tái tạo, công nghiệp bán dẫn, công nghệ thông tin, dược phẩm”, Phó Chủ tịch HANSIBA đề xuất.

Đồng quan điểm, ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch Hội doanh nghiệp Cơ khí Điện TP Hồ Chí Minh (HAMEE) cho rằng, đã là doanh nghiệp bước vào sân chơi thì phải chấp nhận mọi sự cạnh tranh và cả sự bất bình đẳng. Chỉ những doanh nghiệp có lối đi riêng, biết thích ứng nhanh với diễn biến thị trường, sẽ là người thắng cuộc. Trong đó, việc chuyển đổi công nghệ, có cơ chế đặc thù cho doanh nghiệp, gỡ được những rào cản, những bất cập của chính sách thuế với ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp tạo bệ phóng để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi cung ứng, tăng đầu tư, nâng cao năng lực.

Ông Tống cho biết, bản thân hiệp hội cũng đang tìm cách hỗ trợ doanh nghiệp trong ngành tự lực thông qua việc hình thành chương trình “Made by Vietnam” tạo ra những sản phẩm của chính các doanh nghiệp Việt. Đây là hành trình gian nan nhưng không có giải pháp nào hơn nếu doanh nghiệp thật sự muốn cạnh tranh được và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các ông lớn FDI. Tuy nhiên, để đạt được khát vọng, doanh nghiệp Việt sẽ phải “trả giá lớn” trong việc giải bài toán đầu tư, đổi mới quản trị, quy trình sản xuất.

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 7: Không để doanh nghiệp chết yểu do thiếu luật

Phạm Tuyên

TP – Trả lời câu hỏi của PV Tiền Phong, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên nói rằng, Bộ Công Thương luôn tích cực triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, tạo môi trường sản xuất, kinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho các doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Hồng Diên, khó khăn, vướng mắc hiện nay của doanh nghiệp tập trung vào chi phí sản xuất, kinh doanh cao làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến “sức khỏe” của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những khó khăn, vướng mắc này cũng xuất phát từ chất lượng cơ sở hạ tầng mặc dù không ngừng được cải thiện nhưng hiện vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế. Chi phí sản xuất kinh doanh cao làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, bao gồm các chi phí có liên quan đến lao động, chi phí tài chính (ngoài thuế), chi phí vốn; chi phí vận tải, logistics…

Doanh nghiệp tư nhân cần khung pháp lý đủ mạnh

“Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, lực lượng doanh nghiệp trong nước phát triển còn hạn chế, chưa tạo lập được năng lực cạnh tranh tốt và thương hiệu mạnh với các chủ doanh nghiệp là các tập đoàn công nghiệp lớn. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn do các doanh nghiệp, doanh nhân nước ngoài chi phối, các doanh nghiệp trong nước chỉ tập trung ở một số công đoạn sử dụng nhiều lao động, công nghệ trung bình trong chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp như: gia công (dệt may, da giày, chế biến gỗ), lắp ráp (điện tử, ô tô, xe gắn máy…) với quy mô nhỏ, trình độ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp”, Bộ trưởng Công Thương cho hay.

Ông cũng cho rằng, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, nhất là các khoản vay trung và dài hạn, để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, khó khăn vướng mắc liên quan đến phát triển thương mại điện tử, vấn đề hàng giả, hàng nhái trên thị trường cũng đang là vấn đề kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp. Bộ Công Thương đang tập trung nghiên cứu đề xuất sửa đổi các quy định liên quan để hỗ trợ doanh nghiệp.

“Khó khăn vướng mắc nữa của doanh nghiệp liên quan đến mở rộng thị trường tiêu thụ và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của các thị trường xuất khẩu. Ngược lại, bản thân doanh nghiệp cũng gặp khó khăn do sự thiếu chủ động để thích ứng với bối cảnh mới. Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh bài bản để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường, nhất là yêu cầu về phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế bền vững”, ông Diên cho hay.

“Bộ Công Thương đang tập trung nghiên cứu đề xuất sửa đổi các quy định liên quan để hỗ trợ doanh nghiệp”.

Bộ trưởng Công Thương Nguyễn Hồng Diên

Cần khung pháp lý đủ mạnh

Chia sẻ với PV Tiền Phong, một lãnh đạo Bộ Công Thương cho rằng, thực tế phải thừa nhận thời gian qua, việc phát triển công nghiệp, phát triển doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân gắn kết chưa chặt chẽ với các ngành kinh tế khác. Sự liên kết vùng trong phát triển công nghiệp còn hạn chế và kém hiệu quả. Đặc biệt, sự phân bố không gian công nghiệp tuy đã hình thành nhưng chưa thể hiện rõ nét, còn bị chia cắt theo địa giới hành chính, thiếu sự hợp tác và phân công lao động trong vùng khiến cho lợi thế của từng địa phương, từng vùng kinh tế chưa được khai thác hết. Cùng đó, tình trạng trùng lặp về cơ cấu ngành, lĩnh vực đầu tư giữa các địa phương trong nội bộ vùng vẫn xảy ra đã gây lãng phí nguồn lực và triệt tiêu các lợi thế của các địa phương trong nội bộ vùng.

Theo vị này, các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, muốn phát triển thì rất cần đến các quy định rõ ràng được thể chế hoá bằng các quy định trong luật. Như với ngành công nghiệp hỗ trợ, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, dù có hàng chục nghìn doanh nghiệp đang hoạt động nhưng đến nay Nhà nước mới chỉ quản lý trực tiếp chủ yếu thông qua các chiến lược, quy hoạch phát triển ngành và gián tiếp thông qua các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác (đầu tư, doanh nghiệp, đấu thầu, việc làm, thuế, tín dụng…). Đáng nói, các chiến lược, quy hoạch này không có tính ràng buộc về mặt pháp lý, do đó thiếu cơ sở vững chắc để triển khai cũng như giám sát, đánh giá các kết quả đạt được trong quá trình phát triển các ngành chế biến, chế tạo. Việc quản lý phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo gián tiếp thông qua pháp luật chuyên ngành (thuế, đầu tư, đất đai…) tạo ra sự không thống nhất, chồng chéo trong áp dụng, đặc biệt là không có các cơ chế hỗ trợ đặc thù riêng cho các ngành công nghiệp để khuyến khích phát triển.

Việc chưa có khung pháp lý đủ mạnh (ở cấp luật) để quản lý, phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách công nghiệp quốc gia trong thời gian vừa qua không đạt được những kết quả như mong đợi.

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng, bài 8: Gỡ điểm nghẽn cho start-up Việt

Dương Hưng

TP – Thiếu vốn, bất cập về pháp lý, thủ tục rườm rà đang khiến nhiều start-up công nghệ ở Việt Nam chưa kịp lớn đã nguy cơ “chết yểu”. Có lãnh đạo doanh nghiệp còn ví von: “Có cơ quan chức năng nhìn start-up (tạm dịch Công ty khởi nghiệp) như người nhà quê lên phố”. Việc thiếu một môi trường kinh doanh cởi mở, sẵn sàng chấp nhận những vấn đề mới đang bóp nghẹt các start-up công nghệ Việt và chưa tạo được động lực để lực lượng này dấn thân bứt phá.

Khởi nghiệp 5 năm vẫn chật vật xin giấy phép

Chia sẻ với PV Tiền Phong về hành trình sau nhiều năm khởi nghiệp trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, Chủ tịch HĐQT một start-up trong lĩnh vực protech (công nghệ – bất động sản) đúc kết: “Gian nan nhất không phải ở vấn đề thị trường, mà đang mắc kẹt bởi cơ chế và cung cách của một bộ phận cán bộ”.

Môi trường kinh doanh thiếu cởi mở đang là lực cản kìm hãm các start-up công nghệ Việt phát triển

Theo vị này, dù Nhà nước có chủ trương và chính sách rất đúng về khuyến khích các start-up công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhưng khi xuống các bộ, ngành và đơn vị thực thi lại “hành” doanh nghiệp đủ đường. Họ nhìn start-up như kiểu “người nhà quê lên phố xin việc, xin giấy tờ”, lấy quan điểm cũ để áp đặt cho cái mới và thiếu cảm thông trong những vấn đề mới; điều này khiến doanh nghiệp rất chật vật và hầu như không có vị thế gì khi làm việc với cơ quan chức năng.

Điển hình là câu chuyện xin cấp phép trang thương mại điện tử của doanh nghiệp. Theo vị này, start-up công nghệ ở Việt Nam hầu hết đều có nhu cầu vốn lớn, nhưng bất cập ở chỗ không có tài sản hay bất động sản nên rất khó tiếp cận các nguồn vốn như vay ngân hàng, trái phiếu…Để có nguồn vốn hoạt động doanh nghiệp phải sử dụng nhiều cách, trong đó có thể huy động vốn cộng đồng – (crowfunding) một hình thức phổ biến trên thế giới, song còn mới ở Việt Nam.

“Khi xin cấp phép trang thương mại điện tử cho sản phẩm, Bộ Công Thương lấy lý do doanh nghiệp huy động vốn có rủi ro nên hơn 5 năm qua doanh nghiệp gửi hồ sơ lên không biết bao nhiêu lần, giải thích đủ kiểu vẫn bị gác lại. Cán bộ viện hết lí do này đến lí do khác dù đây là hai việc hoàn toàn khác nhau”, vị này chia sẻ.

Chính vì lý do này khi ký hợp đồng hợp tác, doanh nghiệp gặp rất nhiều vướng mắc. Các đối tác trong nước có thể cảm thông bởi vì hiểu cơ chế ở Việt Nam và quan trọng là sản phẩm sử dụng thực tế hiệu quả. Nhưng với đối tác nước ngoài, họ rất ngại, đỉnh điểm là mới đây có quỹ đầu tư nước ngoài đồng ý đầu tư hàng chục triệu USD vào doanh nghiệp. Hai bên đã ký hợp đồng hợp tác nhưng ở bước cuối cùng khi đi vào rà soát thủ tục, phía quỹ quyết định dừng lại vì e ngại pháp lý ở Việt Nam.

“Để tiếp tục hợp tác, họ khuyến nghị doanh nghiệp sang Singapore lập pháp nhân mới. Với hàng mớ rào cản như thế, chúng tôi đành sang Singapore mở doanh nghiệp. Bản chất là sản phẩm vẫn do người Việt Nam mình tạo ra, nhưng doanh nghiệp, thương hiệu thuộc sở hữu của doanh nghiệp ở Singapore”, vị này nói. Đồng thời, vị này cho biết thêm, đến nay sau bao năm, hoạt động của doanh nghiệp vẫn bình thường, việc huy động vốn không ảnh hưởng gì thì cán bộ lại viện dẫn lý do phải chia tách từng sản phẩm mới được cấp phép, trong khi chiến lược của doanh nghiệp là phát triển cả hệ sinh thái sản phẩm để tận dụng các dữ liệu liên quan.

“Ở nước ngoài trong thời gian như vậy, một start-up đã có thể trở thành kỳ lân, nhưng ở Việt Nam doanh nghiệp vẫn còn vật lộn với chuyện giấy phép. Với điều kiện như thế, start-up làm gì có thể đổi mới sáng tạo hay làm gì khác biệt để tạo đột phá. Đến giờ doanh nghiệp chưa chết đã là may lắm rồi”, vị này đúc kết.

Khó khăn về huy động vốn và rào cản về pháp lý đã khiến nhiều start-up Việt ra nước ngoài mở doanh nghiệp. Ảnh: PV.

Cần sự thay đổi toàn diện

Đây không phải là start-up công nghệ đầu tiên của Việt Nam phải sang nước ngoài để lập pháp nhân vì những rào cản về hàng lang pháp lý, môi trường kinh doanh hay cung cách phục vụ của một bộ phận cán bộ. Trước đây, Sky Mavis hoạt động trong lĩnh vực blockchain, do quy định hành lang pháp lý của Việt Nam chưa rõ ràng, doanh nghiệp phải thành lập trụ sở chính ở Singapore để hợp pháp hóa hoạt động. Đến nay, Sky Mavis đã gọi vốn thành công hàng trăm triệu USD từ các quỹ quốc tế, và trở thành 1 trong 4 kỳ lân công nghệ của Việt Nam – theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Ngay cả kỳ lân MoMo, trong quá trình huy động vốn hàng trăm triệu USD, đạt mức định giá 2 tỷ USD vào năm 2022, cũng gặp không ít khó khăn. Chia sẻ với PV Tiền Phong, một lãnh đạo của MoMo biết, quá trình tiếp cận vốn mất nhiều tháng và các quỹ phải chi rất nhiều tiền để nghiên cứu về các hợp đồng. Họ rất quan tâm đến MoMo, nhưng cuối cùng, các nhà đầu tư ở Mỹ lại quyết định không đầu tư, vì lo lắng về tính thanh khoản hoặc khả năng thoái vốn trong vòng 5 năm, 10 năm hay 15 năm, chủ yếu do liên quan đến các quy định của Việt Nam.

“Khi xin cấp phép trang thương mại điện tử cho sản phẩm, Bộ Công Thương lấy lý do doanh nghiệp huy động vốn có rủi ro nên hơn 5 năm qua doanh nghiệp gửi hồ sơ lên hàng chục lần, giải thích đủ kiểu vẫn bị gác lại. Cán bộ viện hết lí do này đến lí do khác dù đây là hai việc hoàn toàn khác nhau”.

Chủ tịch HĐQT một start-up trong lĩnh vực protech (công nghệ – bất động sản)

Hàng loạt doanh nghiệp công nghệ khác như Tiki, VNG đã từng lập pháp nhân có trụ sở ở nước ngoài rồi sở hữu ngược trở lại mới có thể gọi được vốn đầu tư. “Những rào cản này đang khiến các start-up công nghệ ở Việt Nam đặt câu hỏi: Liệu họ có thể huy động vốn tại các thị trường nước ngoài hay không, thay vì đặt câu hỏi rằng, liệu họ có thể huy động vốn và niêm yết tại thị trường Việt Nam. Hành lang pháp lý ở Việt Nam hiện chưa thực sự mở đường cho các start-up, nặng về quản lý và khó thúc đẩy đổi mới sáng tạo”, một chuyên gia về quản lý Quỹ đầu tư doanh nghiệp công nghệ nhận xét.

Ông Nguyễn Quang Huy – Phó Chủ tịch Hiệp hội Khởi nghiệp quốc gia, Chủ tịch Quỹ Khởi nghiệp quốc gia cho rằng, sau 6 năm triển khai Nghị định 38 quy định về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo – chính sách được xem là nền tảng cho hệ sinh thái khởi nghiệp, tổng vốn huy động cho các startup đổi mới sáng tạo ở Việt Nam chỉ đạt vài trăm tỷ đồng. “Đây là con số quá nhỏ nếu so với tiềm năng hàng chục tỷ USD đang nằm rải rác trong khu vực kiều bào, doanh nghiệp tư nhân lớn và các nhà đầu tư mạo hiểm trong nước”, ông Huy nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Ngọc Hòa – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM cho rằng, không thể phát triển start-up đổi mới sáng tạo nếu không có chính sách minh bạch, cụ thể và đo lường được. “Chúng ta cần những bộ chỉ số (KPI) phản ánh trực tiếp hiệu quả của từng bộ, ngành trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân và khởi nghiệp”, ông khẳng định. Muốn có kỳ lân công nghệ, Việt Nam không chỉ cần thay đổi về mặt chính sách, mà cần một cuộc chuyển đổi toàn diện tư duy thể chế, hành chính, đầu tư và quản lý công. Chỉ khi đó, sức mạnh nội lực của khu vực tư nhân mới thực sự được khai mở để đưa Việt Nam bước vào một kỷ nguyên kinh tế mới dựa trên sáng tạo, công nghệ và khát vọng vươn xa.

“Nghị quyết 57 đặt đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực tăng trưởng trong thời gian tới. Đây là những tín hiệu tích cực, được cộng đồng doanh nghiệp phấn khởi đón chờ. Nhưng bao giờ Nhà nước cụ thể hóa được bằng các chính sách, đặc biệt là lan tỏa tinh thần này xuống được các đơn vị, cán bộ thực thi ở dưới và có đội ngũ cán bộ am hiểu về công nghệ, cởi mở trong những vấn đề mới, khi đó đổi mới sáng tạo mới có đất diễn ở Việt Nam”, ông Hòa nói.

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 9:

Xóa lợi ích nhóm, bỏ cơ chế xin – cho

Phạm Tuyên

TP – Chia sẻ với PV Tiền Phong, các doanh nghiệp và chuyên gia cho rằng, một trong những rào cản lớn nhất chính là doanh nghiệp tư nhân không được đối xử công bằng với các doanh nghiệp Nhà nước và cả các doanh nghiệp FDI.

Tình trạng lợi ích nhóm, thiếu cơ chế hỗ trợ lãi suất đang bào mòn sức khỏe, khiến doanh nghiệp tư nhân chậm lớn.

Cần mạnh tay xóa bỏ tình trạng xin – cho, tình trạng ‘không quản được thì cấm’, bất bình đẳng trong kinh doanh… là những vấn đề được các doanh nghiệp đồng tình khi được hỏi về việc cần làm gì để phát triển doanh nghiệp khi chia sẻ với PV Tiền Phong.

Tại toạ đàm về phát triển kinh tế tư nhân cách đây ít ngày, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng, sự bất bình đẳng trong kinh doanh với doanh nghiệp tư nhân hiện nay rất trầm trọng. Có nghịch lý, doanh nghiệp làm tốt, làm chân chính không được quan tâm. Những doanh nghiệp “chạy cửa sau” thì lại có được dự án. Không ít doanh nghiệp thân hữu, sân sau bị phát hiện trong các vụ án gần đây đã cho thấy rõ việc này.

Một biến tướng liên quan đến tình trạng bất bình đẳng xuất phát từ lợi ích nhóm với việc tiếp tay của cán bộ, công chức trong việc xây dựng, thiết kế các quy định, chính sách có lợi cho một nhóm doanh nghiệp “sân sau”.

Những quy định, chính sách này khi triển khai sẽ tạo thuận lợi cho một nhóm doanh nghiệp lớn nhưng lại tạo khó khăn, khiến các doanh nghiệp nhỏ hơn bị chèn ép, thua thiệt khi cạnh tranh cùng lĩnh vực. Những quy định này cũng hướng tới việc tạo cơ chế xin – cho, cơ chế chạy vạy nổi lên. Những việc này thể hiện khá rõ ở các thông tư, nghị định mà có thể hiểu A cũng được, hiểu B cũng được hoặc tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau.

Việc tạo, cài cắm các lợi ích nhóm thông qua các “quy định” trong các thông tư, nghị định dẫn đến hạn chế việc cạnh tranh, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đồng thời khiến doanh nghiệp bị yếu thế trước các doanh nghiệp thuộc lợi ích nhóm lớn. “Trong khi kinh doanh, sản xuất, khi anh đã bị yếu thế hơn vì môi trường kinh doanh không thuận lợi thì sẽ không phát triển được”, ông Nam nói.

Về tình trạng cài cắm lợi ích nhóm, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, chúng ta không thể nhìn thấy bất cứ dấu hiệu “lợi ích” nào trong các nội dung được ban hành. Nhưng khi đưa vào thực thi thì mới bộc lộ vấn đề và khá phổ biến. Điển hình trong thanh, kiểm tra các doanh nghiệp tư nhân bị kiểm tra nhiều hơn.

Doanh nghiệp tư nhân không được đối xử bình đẳng như các doanh nghiệp FDI. “Doanh nghiệp FDI được săn đón, chào mời còn doanh nghiệp tư nhân không được như vậy. Nếu khi gặp một việc gì đó, doanh nghiệp tư nhân phản ánh, thì qua nhiều tầng nấc xem nhưng không được giải quyết ngay.

Nhưng khi các doanh nghiệp FDI phản ánh là lập tức được xử lý ngay. Điều này thể hiện rất rõ ở các địa phương. Việc tiếp cận nguồn lực vốn trung, dài hạn, đất đai cũng vậy. Các doanh nghiệp tư nhân hầu như không được tiếp cận và được hưởng ưu đãi. Ngay cả các khu công nghiệp, chúng ta phát triển nhưng là dành cho các doanh nghiệp FDI còn khu vực tư nhân không tiếp cận được”, ông Cung phân tích.

Doanh nghiệp tư nhân muốn được đối xử công bằng để phát triển. Ảnh: Nguyễn Bằng

Cũng theo ông Cung, sự bất cập còn thể hiện ở việc doanh nghiệp Nhà nước có quá nhiều đất đai và nhiều trường hợp không sử dụng được hết trong khi doanh nghiệp tư nhân chỉ biết nhìn mà ước. Chính vì những bất cập này mới có tình trạng “doanh nghiệp không muốn lớn” và cũng có doanh nghiệp muốn lớn nhưng không lớn được.

“Không tiếp cận được vốn, đất đai, công nghệ thì doanh nghiệp làm sao lớn được. Chúng ta cứ xây dựng tổ để đi đón đại bàng nhưng tại sao chúng ta không xây dựng các cánh rừng, cánh đồng đầy hoa để đàn ong lấy mật? Chúng ta phải thay đổi, xóa bỏ những bất cập trong phát triển doanh nghiệp”, ông Cung nói.

Cần cơ chế cho người dám làm

Chia sẻ với PV Tiền Phong, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành khẳng định: Việt Nam cần đặc biệt quan tâm đến hai yếu tố “sống còn” với doanh nghiệp: Có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và loại bỏ các những khoản “phí bôi trơn”, “phí xin cho”.

“Chỉ khi nào chúng ta tạo được môi trường cạnh tranh sòng phẳng giữa các nhóm doanh nghiệp, loại bỏ vấn đề nhức nhối “bôi trơn”, chạy dự án thì doanh nghiệp mới có thể phát triển mạnh mẽ”, ông Thành chia sẻ.

Ông Thành cho rằng, cải cách mạnh mẽ bộ máy hành chính rất quan trọng nhưng quan trọng hơn nữa là phải cải cách tư duy về vấn đề nhân sự. Nếu con người chưa tốt thì bộ máy khó có thể vận hành trơn tru.

Ông Giang Chấn Tây cho rằng, khi hệ thống bán lẻ thuộc doanh nghiệp đầu mối tách thành các công ty độc lập về tài chính, Nhà nước sẽ không thất thoát thuế và lợi nhuận không bị chuyển giá lòng vòng khó kiểm soát. Thị trường sẽ cạnh tranh để phát triển tốt hơn.

“Xoá lợi ích nhóm cài cắm các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật là yếu tố đặc biệt quan trọng trong vận hành xã hội cũng như thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.

Phải làm sao để những người được giao viết các thông tư, nghị định không “cài” lợi ích nhóm khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Doanh nghiệp sẽ không thể thoát khỏi cái vòng kim cô khi các văn bản như này được ban hành”, ông Thành nói.

Để thúc đẩy khối doanh nghiệp tư nhân, phải có cơ chế hỗ trợ lãi suất đặc thù như gói hỗ trợ lãi suất lên tới 30.000 tỷ đồng cách đây nhiều năm. Cần có các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, đào tạo nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ quản trị, cung cấp thông tin dự báo thị trường… để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.

“Với doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, không doanh nghiệp nào có thể phát triển đột phá được nếu lãi suất cứ duy trì lên tới 10%-14%. Ở các nước, doanh nghiệp vay vốn làm ăn chỉ vài phần trăm đã là cao vậy sao ngành ngân hàng nhiều năm rồi chưa áp dụng được?’, ông Thành chia sẻ.

Chia sẻ với PV Tiền Phong, TS Giang Chấn Tây, Giám đốc Công ty Xăng dầu Bội Ngọc (Trà Vinh) cho rằng, sự mất công bằng trong hoạt động kinh doanh xăng dầu là vấn đề khiến nhiều doanh nghiệp bán lẻ rất bức xúc nhiều năm qua.

 

Nhiều doanh nghiệp trong ngành xăng dầu đã bị thua lỗ lớn, thậm chí mất vốn, buộc phải rời bỏ thị do sự yếu kém trong điều hành của cơ quan quản lý là Bộ Công Thương. Các doanh nghiệp bán lẻ cũng nêu nhiều vấn đề nóng của ngành xăng dầu hơn 2 năm qua và góp ý bằng văn bản nhiều lần cho Bộ Công Thương nhưng những vấn đề này không được được xử lý triệt để.

Để ổn định thị trường, thúc đẩy cạnh tranh đúng nghĩa cần tách các doanh nghiệp nhập khẩu (các doanh nghiệp đầu mối) ra khỏi hệ thống cửa hàng bán lẻ của họ để các cửa hàng bán lẻ hạch toán độc lập. Giải quyết vấn đề như thế thì toàn bộ các doanh nghiệp bán lẻ trên toàn quốc mới hoạt động bình đẳng.

“Bộ Công Thương hiện đang thiết kế các quy định có lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu (đầu mối) quá nhiều quyền: Đầu mối lại làm cả bán lẻ, rồi lại giao quyền cho đầu mối định đoạt giá bán lẻ thì chẳng khác nào Bộ Công Thương vừa “giao quyền sinh quyền sát vào tay họ. Đây là vấn đề thuộc dạng lỗi hệ thống, vi phạm Luật Cạnh tranh nghiêm trọng. Việc Bộ Công Thương cần làm ngay và đưa vào Nghị định là không cho phép thương nhân đầu mối được bán lẻ”, ông Tây đề xuất.

***

Ðòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 10: Ðặt hàng những công trình lớn

Ngọc Mai

TP – Việc xã hội hóa, huy động nguồn lực tư nhân tham gia làm hạ tầng giao thông quy mô lớn như sân bay, tàu điện, đường cao tốc, cảng biển… là xu thế tất yếu. Tuy nhiên, để phát triển hơn nữa, cần thêm chính sách để đặt hàng doanh nghiệp tư nhân cho các công trình lớn.

Cầu Vĩnh Tuy 2 do doanh nghiệp tư nhân thi công vượt tiến độ. Ảnh: Trọng Tài

Thần tốc làm hạ tầng giao thông

Sân bay quốc tế Vân Đồn, sân bay đầu tiên do doanh nghiệp tư nhân triển khai tại Việt Nam, được thi công thần tốc chỉ trong 2 năm (2016 – 2018). Thời điểm khánh thành, sân bay Vân Đồn có khả năng đón các tàu bay loại lớn như B777, B747, A350, điều mà chỉ những sân bay quốc tế lớn như Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Nội Bài… mới đáp ứng được.

So với 21 sân bay trước đó ở Việt Nam do Nhà nước đầu tư, Vân Đồn là trường hợp đặc biệt. Chủ đầu tư Sun Group đồng thời là đơn vị vận hành, khai thác sân bay này, thay vì Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) quản lý. Doanh nghiệp tư nhân có thể đảm đương tốt những lĩnh vực khó tưởng chừng chỉ có thể giao cho doanh nghiệp Nhà nước.

Sau sân bay Vân Đồn, Sun Group khởi công Sân bay Gia Bình (Bắc Ninh) từ cuối tháng 12/2024 và cam kết hoàn thành trong 12 tháng. Đây tiếp tục là dấu ấn của một doanh nghiệp tư nhân về tiến độ thi công.

Tập đoàn Vingroup xây dựng dự án đường Vành đai 2 Hà Nội, đoạn từ chân cầu Vĩnh Tuy đến Ngã Tư Vọng thông xe vào tháng 1/2023, về đích trước tiến độ 3 tháng so với kế hoạch đề ra. Việc Vingroup nhanh chóng xây dựng tuyến đường Vành đai 2 trên cao đã khắc phục được tình trạng ùn tắc giao thông trên tuyến, tạo sự thông suốt, thuận lợi cho người và phương tiện khi lưu thông trên tuyến, gia tăng phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu vực.

Nhiều công trình cao tốc Bắc Nam cũng ghi dấu ấn doanh nghiệp tư nhân tham gia như Vinaconex, Đèo Cả, Sơn Hải, Hòa Bình… Các doanh nghiệp này đều thi công vượt tiến độ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình.

Sân bay Vân Ðồn do doanh nghiệp tư nhân xây dựng, vận hành.

Cần có chính sách ưu đãi

Trao đổi với PV Tiền Phong, GS.TS Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, nói rằng, giao thông được ví như mạch máu trong cơ thể của một nền kinh tế; bất cứ đâu trong cơ thể, mạch máu luôn được lưu thông, luân chuyển thuận lợi sẽ tạo ra một cơ thể khỏe mạnh. Hạ tầng giao thông xuyên suốt từ Bắc và Nam từ đường bộ, đường sắt, hàng không đã và đang được hoàn thiện với quyết tâm, nỗ lực rất lớn, khơi thông nguồn lực của các địa phương đóng góp cho tăng trưởng kinh tế cả nước.

Theo GS.TS Hạnh, thời gian qua, khối doanh nghiệp tư nhân đã chứng minh năng lực trong việc phát triển dự án hạ tầng trọng điểm. Các công trình được triển khai nhanh, quyết liệt, đặc biệt không đội vốn, thể hiện tinh thần chống lãng phí, tiết kiệm nguồn lực to lớn cho đất nước. Doanh nghiệp tư nhân có khả năng làm tốt những nhiệm vụ quan trọng để kiến thiết quốc gia. Đóng góp của doanh nghiệp tư nhân đã giúp thay đổi luôn hình ảnh của Việt Nam theo chiều hướng rất tích cực.

“Theo tôi, Chính phủ cần có những chính sách thu hút đầu tư như ưu đãi và cơ chế chính sách phù hợp yêu cầu phát triển chung, hài hòa của cả đất nước, doanh nghiệp và người dân. Cụ thể, Nhà nước cần thêm ưu đãi về thuế hoặc một số ưu đãi khác nơi công trình có hàm chứa rủi ro lớn. Ví dụ, xây đoạn đường qua vùng nào đó có địa chất kém thì cho họ quyền hoặc ưu đãi nào đó để hỗ trợ, giảm chi phí Nhà nước tính trên đầu doanh nghiệp. Với thiết bị thi công cao tốc, có thiết bị bình thường nhập nhưng doanh nghiệp tư nhân trong nước họ làm nên giảm thuế cho doanh nghiệp để doanh nghiệp làm được. Rõ ràng, chúng ta cần chính sách cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân”, ông Hạnh nói.

Theo ông Hạnh, doanh nghiệp có phát triển thì đất nước mới có thể giàu mạnh, nhưng những rào cản vô hình từ tư duy cố hữu trước đây vẫn còn, khiến doanh nghiệp tư nhân vẫn đi sau, không được đối xử bình đẳng. Tư duy đó một phần xuất phát từ chủ trương coi kinh tế Nhà nước là chủ đạo. Trong quá trình thực thi, dù chủ trương là bình đẳng giữa các thành phần kinh tế nhưng ở góc độ nào đó, doanh nghiệp Nhà nước vì là chủ đạo nên vẫn thường được ưu tiên hơn so với doanh nghiệp tư nhân, trong cả việc vay vốn hay giao đất làm các dự án lớn. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty quy mô được Nhà nước đầu tư để thành lập. Đóng góp chưa đong đếm nhưng tham nhũng, mất mát gây ra từ phía các doanh nghiệp Nhà nước là không ít.

“Doanh nghiệp tư nhân chưa được hưởng nhiều từ ngân sách nhưng lại đóng góp cho ngân sách rất lớn. Hiệu quả nằm ở chỗ đó. Thứ hai là khu vực kinh tế tư nhân có nòng cốt là các doanh nghiệp đã tạo ra thị trường lao động, giải quyết tới 85% việc làm cho người dân và quyết định tới số lượng, chất lượng của gần 50% GDP của Việt Nam”.

GS.TS Lê Hồng Hạnh,

Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Trong lúc đó, dù tự lực nhưng doanh nghiệp tư nhân đã có sự phát triển vượt bậc, như Vingroup, Sun Group, THACO, TH, Hòa Phát… và hàng loạt doanh nghiệp khác, góp phần đưa kinh tế đất nước đi lên, khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân.

“Doanh nghiệp tư nhân chưa được hưởng nhiều từ ngân sách nhưng lại đóng góp cho ngân sách rất lớn. Hiệu quả nằm ở chỗ đó. Thứ hai là khu vực kinh tế tư nhân có nòng cốt là các doanh nghiệp đã tạo ra thị trường lao động, giải quyết tới 85% việc làm cho người dân và quyết định tới số lượng, chất lượng của gần 50% GDP của Việt Nam”, ông Hạnh nói.

Ông Thân Văn Thanh, nguyên Chánh Văn phòng Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia nói rằng, hạ tầng giao thông là huyết mạch của nền kinh tế và đi trước dẫn đường. Việc các doanh nghiệp tư nhân tham gia lĩnh vực hạ tầng giao thông đã làm rất tốt cách đây 10 năm. “Tại lĩnh vực đường bộ, lần đầu tiên có doanh nghiệp như Tập đoàn Sơn Hải thi công đường cao tốc bảo hành 10 năm mà không có doanh nghiệp Nhà nước nào làm được điều này. Chúng ta phải ghi nhận những gì họ làm được và sự đóng góp của họ vào sự phát triển kinh tế đất nước khi thi công đường vừa đảm bảo chất lượng lại rút ngắn thời gian thi công”, ông Thanh nói.

Theo ông Thanh, việc các doanh nghiệp tham gia làm chủ đầu tư các công trình giao thông trọng điểm phải đảm bảo nguyên tắc đấu thầu. Tuy nhiên, những quy định về đấu thầu từ chấm điểm hồ sơ có quy định về chủ đầu tư từng tham gia các công trình trước đó. Việc này làm khó nhiều doanh nghiệp bởi trước nay họ chỉ làm thầu phụ. Vì vậy, ông Thanh cho rằng, để mở rộng hơn nữa doanh nghiệp tư nhân tham gia xây dựng các công trình hạ tầng giao thông trọng điểm, cần mở hơn nữa điều kiện tham gia đấu thầu ngay từ vòng hồ sơ.

“Doanh nghiệp tư nhân có khả năng làm tốt những nhiệm vụ quan trọng để kiến thiết quốc gia. Theo tôi, Chính phủ cần có những chính sách thu hút đầu tư như ưu đãi, cơ chế chính sách phù hợp yêu cầu phát triển chung, hài hòa của cả đất nước, doanh nghiệp và người dân”, ông Thanh nói.

Ông Thanh đề xuất thêm “chìa khóa trao tay” cho doanh nghiệp tư nhân bằng thí điểm chỉ định thầu các công trình hạ tầng giao thông. Việc chỉ định thầu theo quy định hiện nay rất phức tạp. “Vẫn biết rằng pháp luật công bằng giữa cả doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân nhưng với những doanh nghiệp tư nhân đã có kinh nghiệm làm và làm rất tốt trong nhiều năm sao chúng ta không mạnh dạn trao cơ hội để họ làm”, ông Thanh nói.

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 11: Đừng để ưu đãi thành bạc đãi

Dương Hưng

TP – Để thu hút doanh nghiệp tư nhân tham gia một số lĩnh vực mới, có tác động đến đời sống kinh tế, xã hội, Chính phủ đã đưa ra danh mục 32 ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Nghịch lý thay, trong một số lĩnh vực này các doanh nghiệp lại “lên bờ xuống ruộng” bởi ma trận thủ tục phức tạp và bấp bênh về cơ chế.

Chẳng hạn, đầu tư nhà máy điện rác, có dự án đến 7 năm vẫn chưa lọt qua vòng thủ tục khiến hơn chục năm qua số lượng dự án điện rác đưa vào vận hành chỉ đếm trên đầu ngón tay.

“Rừng” thủ tục

Lãnh đạo một doanh nghiệp năng lượng tái tạo (xin được giấu tên) chia sẻ với PV Tiền Phong, Luật Đầu tư năm 2014 cho đến sửa đổi năm 2020 đều quy định, điện rác là dự án đầu tư thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế đầu tư vào lĩnh vực này thời gian qua như “bắt gió bỏ tay”. Khó không phải các doanh nghiệp thiếu vốn, công nghệ, vận hành mà bởi bị trói chân giữa “rừng” thủ tục.

Vướng mắc về pháp lý khiến nhiều dự án điện rác bế tắc. Ảnh: P.V

Theo vị này, đặc tính của dự án điện rác là vừa nhà máy xử lý rác, vừa là nhà máy phát điện nên cần phải làm đủ thủ tục như 2 nhà máy. Theo đó, dự án bị chi phối bởi rất nhiều quy hoạch như đất đai, môi trường, điện, xây dựng… nên có dự án hoàn thiện quy hoạch môi trường thì lại không có quy hoạch xây dựng hoặc ngược lại có quy hoạch xây dựng và môi trường nhưng không có quy hoạch điện. Có dự án đủ quy hoạch nhưng vướng tiêu chuẩn, quy chuẩn về đánh giá tác động môi trường với những tiêu chí không còn phù hợp.

Chỉ riêng thủ tục đánh giá tác động môi trường, doanh nghiệp đã mất từ 6 tháng đến 1 năm. Quá trình thẩm định, thẩm tra, nghiệm thu của dự án điện rác liên quan đến hầu như tất cả các cơ quan, ban ngành.

“Việc nghiệm thu phải có hàng chục hội đồng như phòng cháy chữa cháy, đường dây, trạm bơm và đường ống nước thô, nghiệm thu của Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và của các cơ quan điện lực, thậm chí thủ tục cấp giấy phép như khai thác nước ngọt từ dòng sông, giấy phép điện lực của Bộ Công Thương, giấy phép môi trường…

Riêng khâu hoàn thiện thủ tục pháp lý, trung bình một dự án điện rác phải mất từ 1,5 – 2 năm kể từ thời điểm được cấp chủ trương đầu tư, có những dự án mất 6 – 7 năm vẫn chưa xong thủ tục. Doanh nghiệp đầu tư vào dự án điện rác vượt qua được vòng thủ tục đều vật vã, hết hơi”, vị này chia sẻ.

Bấp bênh giá điện, mắc trên, kẹt dưới

Không chỉ phải vượt qua hàng trăm thủ tục rườm rà, quy trình phê duyệt phức tạp, theo các doanh nghiệp, nhà máy điện rác hiện còn gặp bấp bênh cả đầu vào lẫn đầu ra.

Đặc biệt, dù đây là dự án có ý nghĩa môi trường trên địa bàn, song các địa phương thường chưa bố trí các bãi chôn lấp tro bay, mà chủ yếu nhà đầu tư phải tự tìm cách xử lý, dẫn đến giá thành xử lý rác tăng lên. Một số còn phó mặc cho nhà đầu tư tự vận động tìm kiếm và chưa được nhìn nhận đúng nghĩa.

Dù được đặc biệt ưu đãi, dự án điện rác mất tới 2 năm để hoàn thiện thủ tục, có dự án mất tới 6-7 năm

Việc “bạc đãi” với các lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đã khiến các dự án nhà máy điện rác tại Việt Nam kéo dài thời gian so với dự kiến. Theo Hiệp hội Môi trường đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam, nhà máy điện rác Thiên Ý (Sóc Sơn, TP Hà Nội) được cấp phép năm 2016, nhưng mãi đến năm 2024 mới đi vào khai thác. Dự án điện rác Phú Sơn (Huế) cũng mất hơn 6 năm. Nhà máy điện rác Hậu Giang vật vã tới 8 năm mới có thể chạy thử, trong khi công suất chỉ 7,5 MW. Nhanh nhất hiện nay là nhà máy điện rác Seraphin (Hà Nội), song cũng mất tới gần 4 năm từ khi được phê duyệt đến dự kiến vận hành. Trong vòng 11 năm qua kể từ khi Thủ tướng ban hành cơ chế ưu đãi, cả nước chỉ có 5 nhà máy đi vào vận hành.

Chia sẻ với PV Tiền Phong, Giám đốc một doanh nghiệp điện tái tạo tại Hà Nội cho biết, bản chất của nhà máy điện rác là phục vụ môi trường, phần xử lý rác sẽ được địa phương thanh toán, còn việc phát điện để bán (với công suất rất nhỏ) là phần giá trị tăng thêm để tăng hiệu quả đầu tư.

Tuy nhiên, hiện nay luật chưa có hướng dẫn cụ thể để các địa phương có thể ký hợp đồng cam kết cung cấp rác và giá rác xử lý dẫn tới lượng rác không đủ và đơn giá không đảm bảo lợi nhuận tối thiểu cho nhà đầu tư. Còn nếu doanh nghiệp chỉ trông chờ vào chi phí phát điện để bán cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thì chỉ được một nửa chi phí “nuôi” nhà máy.

Điều đáng nói, theo chính sách ưu đãi đầu tư, giá bán điện từ nhà máy rác sẽ được hưởng giá khuyến khích (FIT) là 10,05 USCents/kWh nhưng trên thực tế con số này lại thay đổi xoành xoạch và thiếu thống nhất. Mới đây nhất, EVN đưa ra giá điện rác chỉ còn 1.914,3 đồng/kWh, giảm 33% so với giá FIT.

“Nếu giá điện giảm xuống, buộc giá xử lý rác phải tăng lên, nhưng điều này không dễ bởi địa phương nào cũng muốn giá xử lý rác thấp nhất để đỡ tốn ngân sách. Chúng tôi tính toán nếu áp dụng khung giá điện mới, các dự án điện rác đang triển khai đầu tư sẽ không thể tiếp tục vì chắc chắn lỗ khi đưa vào vận hành.

Ngay cả khi áp dụng giá FIT còn chưa ăn thua bởi hơn chục năm qua cả nước mới có mấy dự án mới lẹt đẹt đi vào vận hành”, vị này nói, đồng thời cho rằng đây là sự thiệt thòi đối với lĩnh vực mang tiếng là đặc biệt ưu đãi đầu tư.

Theo vị này, với các dự án điện gió, điện mặt trời, khi Chính phủ ban hành giá FIT, chỉ sau 3 năm (từ năm 2018-2021) đã có hàng nghìn doanh nghiệp đầu tư nhà máy và vài trăm dự án đi vào vận hành. Ngay như ở Trung Quốc, giá điện rác cũng không cao hơn nhiều so với Việt Nam nhưng nhờ chính sách ổn định và thủ tục minh bạch, chỉ trong vòng thời gian ngắn đã có hơn 1.000 nhà máy đốt rác phát điện đi vào vận hành, con số lớn nhất thế giới.

Hiệp hội Môi trường đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam cho rằng, trước hàng loạt vướng mắc đối với dự án điện rác, Chính phủ và các bộ ngành cần sớm tháo gỡ, bổ sung các thông tư, nghị định hướng dẫn, sớm xem xét ký hợp đồng dịch vụ cam kết giá rác và khối lượng rác cho các nhà đầu tư.

Đặc biệt với các dự án chuyển đổi công nghệ cũ từ đốt rác thủ công lạc hậu sang đốt rác phát điện (đang làm thủ tục dở dang), hiệp hội này cho rằng cần có sự tháo gỡ của các bộ ngành, đặc biệt là sở ngành, UBND các địa phương để các nhà máy sớm được xây dựng

“Các chính sách về khung giá phát điện cho loại hình này cũng cần phải phù hợp, đảm bảo sự ổn định của môi trường đầu tư kinh doanh, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Nếu không, dù mang tiếng là lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư thì các dự án điện rác vẫn nằm trên giấy”, vị này cho hay.

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài 12: Nghịch lí ‘dìm chân nhau’, ưu đãi nửa vời

Minh Tuấn – Thùy Dương

TP – Nhiều bệnh viện công lập quá tải, trong khi đó bệnh viện tư rất khó phát triển do chính sách thiếu mạch lạc, ưu đãi nửa vời. Nằm trong danh mục ưu đãi đầu tư nhưng nhiều bệnh viện tư nhân đều quy mô nhỏ, cơ sở vật chất đi thuê rất khó khăn…

Ưu đãi nửa vời

Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Phạm Văn Học, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam, Tổng Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương cho biết: Khó khăn lớn nhất với các bệnh viện tư đó là về đất đai. Đa số các nhà đầu tư phải bỏ tiền ra mua, sau đó nhà nước mới giao, càng về sau càng khó.

“Như bây giờ giá cao muốn mua cũng không được, thủ tục phức tạp. Mà muốn có bệnh viện thì đầu tiên phải có được đất”, ông Học cho hay.

Đơn vị Thận nhân tạo, khoa Nội thận – Lọc máu, với nhiều máy móc tại Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh ở Tây Nguyên. Nguồn: BVĐK Thiện Hạnh

Cái khó thứ hai là thuế. Dịch vụ cung cấp như nhau nhưng viện công thì chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp được ưu ái hơn rất nhiều, còn bệnh viện tư nhân vẫn phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Nói thuế giá trị gia tăng không phải nộp thì cũng chưa hoàn toàn đúng.

Ví dụ như một năm mua 100 tỷ tiền thuốc, tiền vật tư thì toàn bộ thuốc từ đó bản chất đã phải nộp thuế giá trị gia tăng rồi. Nói ưu đãi nhưng thực ra là ưu đãi nửa vời! Điều đó khiến cho các nhà đầu tư thấy chưa đủ can đảm để bước chân vào.

Cũng theo ông Học, sau mấy chục năm, đến thời điểm này thống kê cũng chỉ có khoảng dưới 400 bệnh viện tư hoạt động trên cả nước trong đó chỉ có khoảng 1/3 là bệnh viện quy mô từ 200 giường trở lên, còn lại chủ yếu quy mô nhỏ và vừa, có những bệnh viện chỉ 10 giường, 20 giường.

Theo thống kê năm 2022 cả nước mới có 5,6% giường bệnh tư nhân. Và theo Nghị quyết Trung ương đến 2030 phấn đấu đạt 15% nhưng đến 2025 mà chỉ đạt dưới 10% thì mục tiêu đặt ra khó đạt được. Trong khi đó nhiều quốc gia gần Việt Nam như Trung Quốc bệnh viện tư nhân đã chiếm tỷ lệ 60%, Nhật Bản 80% tổng số giường bệnh…

Ông Phạm Văn Học, Tổng Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương trao quà thăm hỏi bệnh nhân hoàn cảnh khó khăn

Một cái khó của tư nhân hiện nay nữa là giá dịch vụ y tế còn quá thấp. Giá tại bệnh viện công quá thấp dẫn đến giá bệnh viện tư không thể cao được do người bệnh có sự so sánh. Cho dù làm dịch vụ chất lượng tốt, chi phí đầu vào cao nhưng khó mà tăng gấp 2-3 lần được, đành rằng trong quy định là bệnh viện tư nhân có quyền quyết định giá nhưng mà không phải thích bao nhiêu là được, nhất là khi chịu tác động mặt bằng giá của một địa phương cụ thể. Hệ lụy là chưa thu đúng, thu đủ thì không thể tiếp tục tái đầu tư và vì vậy không thể nâng cao được trình độ, đời sống y bác sĩ. Cho nên ở Việt Nam hiện nay đấy là những cái dìm chân nhau.

Ông Học xin nêu ví dụ cụ thể: Mổ một ca ruột thừa mà khống chế giá 3 triệu đồng là không phù hợp. Đầu tiên phải xét nghiệm, sinh hoá, chụp X quang tim phổi… nếu suôn sẻ xét nghiệm chụp không có gì đặc biệt thì coi như xong nhưng có những tình huống sau khi chụp lại nghi ngờ thì lại phải làm thêm các xét nghiệm.

“Một cái khó của tư nhân hiện nay nữa là giá dịch vụ y tế còn quá thấp. Giá tại bệnh viện công quá thấp dẫn đến giá bệnh viện tư không thể cao được. Cho dù làm rất tốt, chi phí đầu vào cao cũng khó mà tăng gấp 2-3 lần được. Tôi ví dụ 1 ca mổ ruột thừa với bao nhiêu phát sinh mà khống chế giá khoảng gần 3 triệu đồng thì làm sao nâng cao chất lượng được?”.

Ông Phạm Văn Học, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân VN, Tổng Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương

Sau đó vào nhà mổ thì cần một bác sĩ mổ chính, một bác sĩ mổ phụ, một bác sĩ gây mê, một tuýp dụng cụ, 1 điều dưỡng nhưng trước khi vào được cuộc mổ đó thì một tổ phải sát khuẩn, sau cuộc mổ lại sát khuẩn một lần nữa. Thế thì một ca mổ phải bao nhiêu người phục vụ mà bây giờ lại có giá 2,8 triệu thì làm sao mà phát triển, chất lượng được?

“Đầu tư phải có lãi mới sống được!”

Đại diện Bệnh viện Hùng Vương cho hay, chính sách với bệnh viện tư làm sao phải giúp cho hệ thống y tế tư nhân có lãi! “Khi bệnh viện đầu tư thật, kinh doanh thật thì phải có lãi vì không có lãi thì bệnh viện ấy sẽ chết, hoặc chất lượng sẽ không đảm bảo”, ông Phạm Văn Học phân tích.

Ông Học cho biết, hệ thống Bệnh viện Hùng Vương có tại hai tỉnh: Phú Thọ và Pleiku, tổng là 700 giường và có 4 phòng khám vệ tinh vận hành theo chuỗi. Tổng cán bộ nhân viên hiện nay là khoảng 1.600 y bác sĩ… đòi hỏi phải có lượng kinh phí vận hành rất lớn.

Bệnh viện Hùng Vương có số lượng bệnh nhân khám xếp thứ hai sau Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ (khám ngoại trú khoảng 300.000 bệnh nhân/1 năm). Ngoài ưu đãi về thuế và đất ban đầu thì không còn gì khác. “Bệnh viện tư không bao giờ có ngân sách, tài trợ hay trợ giá, tất cả đều tự cân đối”, đại diện Bệnh viện Hùng Vương chia sẻ.

Đại diện nhiều bệnh viện tư nhân cho biết, gần đây, kinh tế tư nhân tiếp tục được khẳng định vị trí. Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tiễn có rất nhiều việc cần làm. Cần phải giải quyết tổng thể, tạo ra sân chơi sòng phẳng. Ví dụ như hiện nay 90% người dân có bảo hiểm y tế nhưng ngay bảo hiểm y tế cũng không thanh toán đủ.

Để giải quyết được bài toán khó cho y tế nói chung và y tế tư nhân nói riêng thì phải cải thiện chính sách đầu tư, mạch lạc trong việc công và tư, mạch lạc trong việc an sinh xã hội và chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế.

Hiệp hội Bệnh viện tư nhân VN cho rằng, bên cạnh điều chỉnh cơ chế chính sách, bản thân các bệnh viện tư cần nâng cao đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị, tìm mọi giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ, hỗ trợ cho người bệnh.

“Tôi kiến nghị Bộ Y tế quy định các bệnh viện kể cả công hay tư thì cần làm việc cả thứ 7 chủ nhật. Người bệnh khỏi lúc nào thì ra viện lúc đấy, bớt tốn kém rất nhiều. Tại Bệnh viện Hùng Vương, thủ tục hành chính rút gọn thuận tiện cho người bệnh như việc thanh toán, làm hồ sơ bệnh án”, vị đại diện Hiệp hội cho hay.

Một chuyên gia khác cho biết, chính sách phát triển bệnh viện tư gặp nhiều khó khăn. Ví dụ như: Trong nhiều năm, Hà Nội không cho tăng giường khu vực 4 quận nội thành (Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa). Trong khi đó, bệnh viện phải theo nguyên tắc gần dân, người dân ốm đâu thì đến đó, không phải đi quá xa. Cho đến khi Luật Thủ đô ra đời cơ chế mới có phần tháo gỡ.

PGS.TS.BS Trần Quang Bính – Giám đốc chuyên môn, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TPHCM kiến nghị cần xóa rào cản phân biệt giữa hệ thống y tế công và tư vì dù là công hay tư thì cũng chung mục tiêu là chăm sóc sức khỏe người dân. Do đó, việc tư nhân có thể nhận được các nguồn đầu tư, hỗ trợ về nguồn vốn, ưu đãi vay, quỹ đất, các thủ tục hành chính… thì sẽ giúp các đơn vị y tế tư nhân có thể được tiếp thêm sức mạnh và vượt qua khó khăn

Cũng theo PGS.TS.BS Trần Quang Bính, chính sách thanh toán Bảo hiểm thuận tiện cũng là yếu tố quan trọng để y tế tư nhân có được điều kiện chia sẻ gánh nặng áp lực về số lượng lớn bệnh nhân ở các cơ sở y tế công lập, cũng như hỗ trợ cho bệnh nhân khám chữa bệnh thuận tiện hơn.

Giống như nhiều đơn vị y tế tư nhân, hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cũng đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng, phát triển và hoạt động. Chủ yếu tập trung ở các nguồn lực đầu tư và phát triển của hoạt động khám chữa bệnh, trong đó bao gồm cả cơ chế chính sách, nguồn vốn đầu tư, cơ chế chính sách cho y tế tư nhân, hạn chế nguồn nhân lực cũng như các vấn đề còn phân biệt công tư trong kinh tế thị trường nói chung, ngành y tế nói riêng.

***

Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng – Bài cuối: Loay hoay tìm đất cho trường tư

Hà Linh

TP – Giáo dục, y tế là lĩnh vực ưu đãi đầu tư nhằm thu hút các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia. Hà Nội là địa phương có số lượng học sinh đông nhất cả nước, với khoảng 2,3 triệu học sinh. Trung bình mỗi năm thành phố tăng thêm 40.000-50.000 học sinh đặt ra bài toán phải xây mới thêm 30-40 trường học. Tuy nhiên, việc xây trường tư gặp nhiều khó khăn…

Lo làm nhà, “quên” xây trường

Hiệu trưởng một trường THCS – THPT tư thục có tên tuổi tại Hà Nội chia sẻ sự trăn trở vì 3 năm nay vẫn loanh quanh với việc ôm tiền đi tìm đất mở trường. Những tưởng, có chuyên môn sâu về giáo dục, có kinh nghiệm điều hành trường học cộng với khát vọng mở rộng cơ sở giáo dục trong bối cảnh Hà Nội vẫn thừa học sinh – thiếu trường đơn vị sẽ có thuận lợi. “Nhưng 3 năm nay, chúng tôi vẫn miệt mài đi tìm đất. Có khi tìm được đất đủ rộng, giá cả hợp lý lại vướng quy hoạch không thể xây dựng. Nơi có quỹ đất nhưng giá cả thị trường tăng vọt, nhà đầu tư không đủ sức mua. Giải bài toán diện tích đất có hạn và quy định không được xây dựng cao tầng, đảm bảo diện tích sử dụng/học sinh thật sự rất khó ”, hiệu trưởng này nói.

Hà Nội có những ô đất quy hoạch xây trường học bị bỏ hoang, người dân sử dụng trồng rau. Ảnh: Trọng Tài.

Thực tế có những nơi chung cư cao tầng mọc lên dày đặc nhưng thiếu trường do chủ đầu tư không xây trường. Nếu quy hoạch tốt và có chính sách hợp lý để người làm giáo dục có thể “bắt tay” cùng các DN bất động sản xây dựng trường sẽ tháo gỡ được nhiều vướng mắc.

Cũng theo vị hiệu trưởng này, ở một địa phương có tốc độ phát triển nhanh như Thủ đô Hà Nội, việc xây dựng trường tư thục vừa nhằm giảm áp lực cho trường công vừa đảm bảo nguồn tuyển dồi dào nên rất mong mỏi được làm trường. Trường mở ra hoạt động bài bản sẽ không lo thiếu học sinh. Thực tế, những năm qua, đã có những nhà giáo dục có tiềm lực đủ mạnh xây trường mới, mở thêm cơ sở giáo dục thành công, thu hút sự quan tâm của đông đảo phụ huynh, học sinh.

Bà Nguyễn Thị Minh Thuý, Hiệu trưởng Trường THCS – THPT Nguyễn Siêu, quận Cầu Giấy (Hà Nội) cho rằng, cái khó lớn nhất của các trường tư thục hiện nay là về quỹ đất, thiếu đất dự án dành cho giáo dục.

Sĩ số học sinh ở nhiều trường công lập vượt quá quy định.

Thực tế các nhà làm giáo dục muốn đầu tư để phát triển, xây dựng trường vấp phải khó khăn trong việc tìm đất dự án giao trực tiếp. Họ phải thông qua môi giới hoặc các công ty cổ phần khác để xin được chuyển nhượng dự án, dẫn đến giá thành đất dự án cao, vượt khả năng tài chính của các nhà giáo dục. “Tóm lại, nhà giáo muốn làm nhưng không có tiền. Còn những người có khả năng tài chính thì lại khó khăn trong quản lí điều hành chuyên môn. Giáo dục và y tế là hai ngành đặc thù đòi hỏi các nhà đầu tư phải có chuyên môn mới có thể vận hành được”, bà Thuý nói.

Lãnh đạo phòng GD&ĐT một quận tại Hà Nội cho biết, trước đây, có thời điểm, lớp mầm non công lập sĩ số hơn 40 trẻ/lớp, gần đây trường tư phát triển, áp lực sĩ số giảm đáng kể. Nhưng việc xây dựng và quản lí trường tư khó trăm bề. Một cơ sở giáo dục mầm non đào tạo theo chương trình nước ngoài chưa có cơ sở vật chất phải thuê mặt bằng có đủ phòng học, phòng chức năng đảm bảo hoạt động mỗi tháng lên tới 300 triệu đồng. Nếu không có chính sách thu hút, hỗ trợ, các trường sẽ khó khăn.

“Nếu có sự quyết tâm và thực hiện đầy đủ các chính sách đã ban hành sẽ tháo gỡ được cái vướng, cái khó cho các trường tư thục phát triển. Ví dụ như, thành phố Hà Nội đã từng có văn bản về việc dành quỹ đất sạch hoặc xây dựng trường cho các nhà đầu tư thuê mở trường… nhưng nhiều chục năm qua chưa triển khai”.

TS Hoàng Hữu Niềm

Gỡ vướng từ đâu?

Năm 2024, UBND TP Hà Nội ban hành kế hoạch huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, trong đó, đặt chỉ tiêu thúc đẩy cơ sở giáo dục tư thục đạt tỉ lệ 21% và đạt 14-16% số học sinh theo học ở khối này vào năm 2025. Tính theo từng bậc học, phấn đấu đến năm 2025, mầm non đạt tỉ lệ 30%; tiểu học 8%, THCS 7%. Cao nhất là bậc THPT đặt mục tiêu đạt 40% học sinh học trường tư thục.

Theo Sở GD&ĐT Hà Nội, năm học 2023-2024 có gần 2.900 trường học các cấp, số trường công lập là gần 2.300 trường (chiếm gần 79%), trường tư thục khoảng 600 trường (chiếm hơn 20%) với hơn 330.000 học sinh theo học. Bà Phạm Thị Lệ Hằng, Trưởng Phòng GD&ĐT quận Hà Đông cho rằng: “Phát triển trường tư thục ở các cấp học đã hỗ trợ giảm tải rất lớn cho trường công lập”.

Ông Trần Thế Cương, Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội từng ví ngành GD&ĐT như một con chim, một cánh là khối các trường tư, một cánh là khối các trường công. Cần có sự phát triển hài hoà, đồng bộ của cả trường công lẫn trường tư. Hà Nội là địa phương có số lượng học sinh đông nhất cả nước, với khoảng 2,3 triệu học sinh, trung bình mỗi năm tăng lên 40.000 – 50.000 học sinh đặt ra bài toán phải xây mới, mở rộng thêm 30-40 trường học mới có thể đáp ứng. Những năm qua, các quận, huyện của Thủ đô đã rất quan tâm, đầu tư xây trường nhưng thực tế vẫn có những quận thiếu trường, lớp. Giải pháp mà lãnh đạo Hà Nội cũng như Sở GD&ĐT Hà Nội đưa ra đó là kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai, đề xuất các cơ quan, xí nghiệp, trường cao đẳng, đại học di dời ra khỏi nội đô dành lại quỹ đất đó xây trường học.

TS Hoàng Hữu Niềm, Chủ tịch Hội tâm lý giáo dục Hà Nội cho rằng, các Nghị quyết của Trung ương Đảng đến các luật, nghị định và thông tư đã tạo cơ chế, chính sách đối với việc phát triển trường tư thục khá đầy đủ. Tuy trường tư vẫn gặp rất nhiều khó khăn.“Nơi có đất nhưng không phải đất quy hoạch làm giáo dục thì cũng không thể làm. Quy hoạch mạng lưới trường hàng chục năm mới phê duyệt lại hoặc điều chỉnh”, TS Niềm nói.

Nhiều nhà quản lí cơ sở giáo dục cho rằng, quá tải sĩ số học sinh đối với các trường công lập là bài toán nóng của giáo dục. Các cơ quan quản lí cần tạo cơ chế, chính sách, điều kiện để thúc đẩy phát triển khối tư thục, đảm bảo cơ sở vật chất để học sinh có sự lựa chọn môi trường học tập đa dạng.

Cần chính sách ưu đãi để các nhà giáo dục có thể thực hiện được các dự án giáo dục như: Giao đất trực tiếp, tạo điều kiện, cơ chế để hỗ trợ vay vốn ưu đãi xây trường cũng như các ưu đãi cụ thể, khả thi.
***

Bình luận về bài viết này