Ngày tháng nào hồn nhiên

Truyện ngắn  PHẠM NGA

1.

Đầu những năm 60, không rõ được cất từ thời nào mà một dãy phố trệt ở gần cuối đường Trần Quang Khải, khu Tân Định, trông rất cũ kỹ. Chiều chiều, quanh quẩn bên những gốc cây dầu, cây sao trên vỉa hè, bọn trẻ khu phố kéo nhau ra chơi đủ thứ trò. Có nhiều trò con gái con trai chơi chung như: trốn tìm, nhảy dây, lò cò, đánh đáo…, vài trò khác thì tụi con gái thường chỉ đứng xem mà rất hiếm khi tham gia, như: đá banh, bắn bi, bắn ná, u bắt mọi…

Cứ thế, hai đứa bạn hàng xóm lâu năm, chơi với nhau rất thân là hai tên nhóc ngang tuổi nhau, Hòa và Quan. Cũng hay đi chung, chơi chung với cặp bài trùng này còn có Kim, chị kề của Quan và chỉ lớn hơn 1 tuổi. Hòa cũng xem chị Kim như bạn học, do cả ba đứa đều học chung trường, chỉ khác lớp. Continue reading “Ngày tháng nào hồn nhiên”

Advertisements

Đã lụn tàn những mảnh vườn xanh

:

1.

Ở Sài Gòn, vào đầu những năm 60, ba mẹ tôi dọn nhà về khu Đồng Ông Cộ, gần chợ Bà Chiểu. Cứ khoảng nửa đêm về sáng, đô thành còn say ngủ, chợt nghe êm ả làm sao tiếng xe ngựa lốc cốc chở rau, chở hoa vào chợ. Hay vào các mùa Tết nguyên đán, cứ sau ngày 23 đưa ông Táo về trời là có chợ Tết ban đêm họp tại khu vực xung quanh Lăng Ông, sát bên tòa tỉnh trưởng Gia Định. Những đêm chợ Tết xa xưa ấy, tôi nhớ mặt hàng Tết năm nào cũng mứt, trà, rượu, bánh, kẹo…, cũng như không bao giờ vắng mặt kem đánh răng “anh Bảy Chà”, xà bông Cô Ba và dầu cù-là Mac Phsu. Có điều là bên cạnh những đồ Tết theo truyền thống ấy, luôn luôn có một loại hàng thực phẩm rẻ tiền, thậm chí là tầm thường vì quá quen thuộc hằng ngày, cũng khiêm tốn xuất hiện trong chợ Tết – đó là các loại rau cải. Khi vào chợ, chỉ bước đến gần gần các sạp bán rau cải thôi là đã ngửi được mùi thơm dễ chịu, ngọt ngào của mấy thứ rau thơm, xà lách, tần ô, dền ớt, dền đỏ, cải thảo, cải ngọt, cải bẹ xanh, bồ ngót.v.v…, mà xưa nay giới tiểu thương gọi chung là đồ hàng bông.   Continue reading “Đã lụn tàn những mảnh vườn xanh”

Tháng 6, nhớ “Cơn lốc màu hoa hồng” trên cầu Thị Nghè

Tháng 6 hằng năm, cứ đáo lệ có cách quãng luân phiên là mùa Euro Cup hay World Cup. Vào mùa Euro Cup 2008, về đội bóng tôi thích nhất, kỳ vọng nhất là đội Hà Lan, đội bóng của “đất nước hoa tulip”, thì chỉ đến hết vòng tứ kết là những “cơn lốc màu da cam” không còn cuồn cuộn trên các sân đấu nữa. Tôi còn nhớ năm đó, trước cái đêm oan nghiệt 21 tháng 6, Hà Lan bị Nga loại với tỷ số thê thảm 3 – 1, tôi vẫn tràn trề lạc quan về đội bóng thần tượng của mình. Khi ấy tôi hào hứng đến nổi, từ hình ảnh “cơn lốc màu da cam” của các cầu thủ Hà Lan, tôi đã thiết tha nghĩ ra luôn danh hiệu “những cơn lốc màu hoa hồng” thật kỳ mỹ đặt cho những chị em bán hoa chạy rất dễ mến trên cầu Thị Nghè cũng vào thời gian ấy. Continue reading “Tháng 6, nhớ “Cơn lốc màu hoa hồng” trên cầu Thị Nghè”

Kẻ lai vãng cửa chùa

Tản văn

1.

Tánh anh nóng nảy, nổi cộc lên thì coi hung lắm, phải đi chùa cho nó trầm tính lại”. Đã một thời, nhiều lần vợ tôi đã nhận xét và đề nghị như vậy.

Ngày xưa, bố tôi theo Tây học, từ Bắc vào Nam làm báo, ra cả báo Pháp và dịch sách, tánh khí nghệ sĩ, phóng dật, khiến cho căn nhà nhỏ của gia đình ở khu Đa Kao thời đó thỉnh thoảng lại chộn rộn cái không khí văn chương chữ nghĩa. Có lần, lấy cớ cần khui một chai rượu chát rất xưa, bố tôi mời vài người bạn thân đến nhà chơi. Cần nói thêm là trong bạn bè của bố tôi thời đó, tôi khoái một bác cùng dân Bắc kỳ, để chút râu kiểu Hitler dưới mũi, thường phong nhã với bộ cánh veston, foulard…,  đó là nhà thơ/nhà văn TCHYA Đái Đức Tuấn. Núp phía sau một bức bình phong, tôi lén theo dõi người lớn nói đủ thứ chuyện trên đời. Chợt tôi nghe bác TCHYA cười, vỗ vai bố tôi, gật gù bảo: “…Vậy là toa cũng rất libéral về vấn đề tôn giáo!”. Continue reading “Kẻ lai vãng cửa chùa”

Đêm tối trời, bọn trẻ chơi trò xác ma

Image result for children picture black and white

Truyện kỳ ảo

1.

Thỉnh thoảng, anh em nhà nhỏ Nina và vài đứa bạn học tụ lại để chơi một trò chơi đặc biệt lý thú. Xác ma, nội tên gọi nghe đã dị thường, theo kiểu chỉ nên chơi trò này ở vắng vẻ vào những đêm tối trời, nhất là đêm 30 âm lịch.

Tối bữa nay, nhằm lúc bố mẹ đi ăn đám cưới, cả bọn tụ lại ở một căn phòng nhỏ, đóng kín cửa tối mò vì có mỗi một ngọn đèn dầu leo lét, chập chờn. Lần này, cũng một tên bạn học của Minh phối hợp với cậu ta cùng Đăng – cậu em kế – và nhỏ Nina – cô em út – cho đủ bốn người, tạm gọi là bốn pháp sư, như yêu cầu của trò chơi. Continue reading “Đêm tối trời, bọn trẻ chơi trò xác ma”

BỮA RƯỢU BUỒN THÁNG TƯ

Tạp văn

1.
Cuối tháng 3, trời chuyển mùa nóng bức. Anh Bảy rủ tôi qua nhà anh làm bậy vài chai bia cho mát. Sau khi sai thằng con chạy mua thêm nước đá, anh vô đề chuyện thời sự, rằng mấy năm trước, công ty anh cho lãnh thêm tiền lễ 30-4 khoảng trên dưới ba trăm ngàn, thiệt không nhiều nhặn gì so với mức lương “cứng” một triệu mốt của anh. Đã vậy, năm nay tiền lễ ấy chắc chắn còn bèo hơn nữa vì công ty đã chuyển thành công ty cổ phần, phải “liệu cơm gắp mắm” kỹ hơn thời còn bao cấp, tức thẳng tay xiết lại tất cả các khoản lương, thưởng. Nhưng vì sang năm anh Bảy nghỉ hưu nên đối với anh, tiền lễ sắp lãnh dù có bèo bọt vẫn là món bổng lộc cuối cùng của đời công nhân, sẽ ý nghĩa lắm. Anh kết luận vậy mình phải xài thiệt là có lý, có tình – đó là anh em mình sẽ nhậu một bữa thiệt “chất lượng”. Continue reading “BỮA RƯỢU BUỒN THÁNG TƯ”

Từ lâu đã có Boléro bụi đời, hát rong…

Tản văn

1.

Có thể nói, từ sau tháng 4-75, chưa lúc nào dòng nhạc Boléro được hát nhiều, trình diễn nhiều như hiện tại. Khắp từ Nam ra Bắc, Boléro tràn ngập các vidéo, album, các chương trình ca nhạc sân khấu, phòng trà, karaôkê… Boléro chễm chệ lên ngôi trong các show truyền hình thực tế, nào là ‘Sol vàng” trên VTV9, “Thần tượng Boléro” trên VTV3, nào “Solo cùng Boléro” hay “Tình Boléro” trên Vĩnh Long 1/Vĩnh Long 2…   Continue reading “Từ lâu đã có Boléro bụi đời, hát rong…”

Về Quê Ăn Tết Với Cái Bụng Đói


Nhìn chung, đối với nhiều người trong chúng ta, dù gì thì cuộc sống trong nước hiện nay cũng ít nhiều dễ chịu hơn so với cái thời ‘ăn độn’ thập niên 80. Có vài cái Tết trong cái thời khó khăn, thiếu thốn đủ mọi mặt ấy đã để lại trong tâm khảm tôi dư vị thật chua chát, nay ngồi chợt nhớ lại mà không khỏi chạnh lòng áy náy, sượng sùng với chính mình và tội nghiệp mình quá!

Khi tôi đi học tập cải tạo về rồi lập gia đình (1977) thì thời thế sau 30 tháng 4  đã chất chồng khó khăn về mọi mặt. Gia đình cha mẹ, anh em tôi thì ở Sài Gòn, gia đình bên vợ tôi thì ở Vũng Tàu, cách nhau khoảng hơn 100 cây số, còn tôi thì sau ngày học cải tạo về đã bị chỉ định phải nhận việc ở một nông trường vùng Củ Chi, cách Sài Gòn 45 cây số. Bên nào cũng nghèo, nhất là nhà bên ba má tôi rất chật hẹp, nên vợ tôi cùng hai đứa con phải về nhờ đỡ bên ông bà ngoại ở Vũng Tàu. Ngày thường thì đã phải sống xa vợ con, cha mẹ nên mùa Tết đến là tôi lại đắn đo và thường là tôi chọn (gọi là) ăn Tết ở quê vợ, vì dù sao cũng là gần vợ, gần con mình.

Thế là, khoảng 27, 28 tháng chạp, từ Củ Chi về Sài Gòn là tôi chỉ ngủ lại một đêm, rạng sáng hôm sau lại tất tả ra bến xe miền Đông đón xe về Vũng Tàu. Cái thời các năm 1976- 1979 ấy, phương tiện giao thông công cộng rất eo hẹp và khó khăn, vài năm đầu còn phải đi xe than. Vì xăng dầu khan hiếm, ngày thường xe khách tại bến rất ít chuyến, còn vào mùa Tết, có tăng cường thêm xe nhưng không bao giờ đủ cho nhu cầu người dân đổ xô về quê ăn Tết. Do đó, tôi phải thức dậy lúc 3 – 4 giờ sáng, vội vội vàng vàng kiếm xe lam chạy ra bến xe, xếp vào cái hàng người đã dài thượt trước quấy vé, thấp thỏm chờ mua cho được chiếc vé giá chính thức quý giá để về quê vợ, mới mong có mặt bên cạnh vợ con trong ba ngày Tết.

Có năm, liên tiếp các chiều 29, 30 tháng chạp tôi lại thất thểu quay về nhà ba mẹ, vì dù nhịn cả cơm trưa, đứng lì tại chỗ, không dám bỏ hàng nhưng kết quả thảm hại là không hề mua được vé chính thức vào các ngày cao điểm cận Tết này. Khoảng vào giấc 5 giờ chiều, hàng người còn không bao nhiêu nhưng loa phóng thanh ở bến đã lạnh lùng thông báo: “Đã hết vé tuyền đường Bà Rịa – Vũng Tàu. Bến xe sẽ bán vé tiếp vào 4 giờ 30 sáng mai. Mời bà con về nghỉ hoặc tìm phương tiện khác mà đi!”. ‘Phương tiện khác’ có nghĩa là xe chui, xe dù đậu rải rác quanh bến xe, 8 – 9 giờ đêm cũng còn nhưng vé giá chợ đen gấp 2 – 3 lần giá chính thức tại quầy vé.

Tôi buồn rầu, nhớ vợ con đến quặng cả lòng và vô cùng nóng ruột (thời đó không có điện thoại bàn hay đi động tràn ngập như bây giờ để gọi cho vợ con đỡ mong ngóng) nên tính toán đổi ‘chiến thuật’, đó là sáng sớm mùng Tết mới ra bến xe. Sáng đó cũng có vài chuyến xe về Vũng Tàu và được cái là khách rất vắng, mua vé chính thức rất dễ… Niềm hạnh phúc lớn lao của tôi năm đó là dù hơi muộn nhưng trưa mồng 1 Tết tôi đã được có mặt bên vợ con ở quê vợ.

Cũng là niềm hạnh phúc đơn sơ, mộc mạc ấy là vào ngày thường, chờ dịp cuối tháng lãnh lương, tôi vất vả làm cuộc hành trình Củ Chi – Sài Gòn – Vũng Tàu về với vợ con mình. Chuyến đi chỉ dài tổng cộng 145 – 150 cây số nhưng từ khoảng 9 – 10 giờ sáng thứ bảy, tôi đã ‘dù’ sớm (11 giờ 30 mới hết giờ làm việc tại nông trường bộ) sau khi không quên xuống nhà bếp báo cắt cơm đến hết bữa điểm tâm sáng thứ hai tới, leo hàng rào ra hương lộ 7 (dài 3 cây số) mà lội bộ thật nhanh ra tới quốc lộ 13 rồi quắt xe Daihatsu hay xe đò nhỏ về ngã tư Bảy Hiền, từ đây lại xe lam, xe bus về bến xe Miền Đông. Phải tất bật tranh thủ thời gian như thế để kịp đứng vào hàng, chờ đến 12 giờ trưa là phòng vé rục rịch bán vé tiếp cho buổi chiều.

Không hiểu sao cái gã thanh niên xung phong/nông trường viên gốc nhà giáo, tuổi đã trung niên là tôi thời đó lại khỏe đến thế, vì suốt cuộc hành trình tất tả về thăm vợ con, thường là tôi nhịn đói hay chỉ ‘thủ’ gói xôi hay ổ bánh mì không để ăn trưa, nước uống thì đã có bình toong nhà binh mang theo, nghĩa là sao cho ít tốn nhất để tháng lương được giữ cứng nguyên trong túi. Thèm thuốc lá thì tôi đã có loại thuốc ‘cũi’ Quốc Hùng, chỉ mấy đồng là được một bó.

Tất nhiên, bây giờ nói ra vẫn thấy xấu hổ, là khi ngồi trên xe đò ‘tịnh tâm’( không ăn nên tâm hồn thanh tịnh!) và ‘tịnh khẩu’ (có gì bỏ vô miệng đâu nên miệng cũng rất sạch sẽ, thanh tịnh) như thế, tôi đã không khỏi ước ao, thèm thuồng trước đủ thứ món ăn vặt, giá rẻ mạt, bán tại bến xe hay ở những chặng xe dừng bắt thêm khách, bất kể là ổ bánh mì thịt, gói xôi mặn tôm khô, chai nước ngọt hay củ khoai lang, khoai mì, bịch mía ghim…

Còn xấu hổ hơn là một lần, khi xe dừng lâu ở ngã ba Vũng Tàu, quà bánh rao bán nườm nượp, ngồi bên cạnh tôi là một anh nói giọng Bắc, có vẻ hiền lành với cặp kính cận và chiếc sơ mi trắng, đã mua một bịch đậu hủ chiên chấm muối tiêu, mời tôi một miếng. Tôi đã lịch sự’ từ chối và cám ơn anh đã mời.

Tôi làm bộ ngó chỗ khác – khốn nỗi ngay lúc này bao tử tôi lại chơi xấu, cứ sôi lên òn ọt như kêu gào, nhắc nhở… – khi anh ta nhấm nháp hết miếng đậu thứ nhất. Rồi anh lại gật gù: “Chà, cái thứ quà này rẻ thôi mà ăn cũng thích thích ấy chứ!”, rồi quay sang tôi chìa bịch đậu ra ân cần mời lần nữa:“Này, anh cứ thử một miếng đi, quà vặt rẻ mạt ấy mà, có gì mà ngại!”.

Trước thành ý của người lạ này, tôi đã buông thả ý thức tự trọng mà mình, ‘nhắm mắt đưa …tay’ mà nhón lấy một miếng đậu hủ.

Xưa nay có ai lạ gì món đậu hủ chiên nhưng lúc này, riêng đối với tôi, phải nói là cái miếng đậu hủ nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, đạm bạc và lạt lẽo ấy lại ngon, thơm cực kỳ!

Nhưng đồng thời tôi cũng chua chát nhận ra là trước đó vài phút, cái mà người ta xem chỉ là “quà vặt, rẻ thôi mà” ấy mỉa mai lại có luôn trong danh sách những thứ mà tôi đã xốn xang ước gì mình có thể thong dong mua ăn – một tí thôi – để dỗ dành cái dạ dày lép kẹp.

Suốt chuyến đi gọi là về quê ĂN tết thời ấy – đúng hơn là một thảm kịch vong thân bởi cái ĂN, tôi đã chịu đói đến hoa mắt, mệt mỏi giằng co giữa một bên là ý định bỏ đại ra vài đồng mua cái gì đó ăn cho đỡ đói, một bên là quyết tâm phải hết sức tiện tặn, giữ thật nguyên vẹn số tiền lương còm cõi để giao hết cho vợ con…

PHẠM NGA

(Trích bút ký Về Quê Ăn Tết)

 

T

Đi chùa, đi cúng tháng Giêng

img_3390

           

1.

Ở đất Sài Gòn, vào những đêm giao thừa xa xưa hầu như gia đình nào cũng bỏ lệ nhắc bọn trẻ đi ngủ sớm. Ở nhà tôi, trong khi mấy đứa em được tha hồ xem chương trình ti-vi đặc biệt với chủ đề mừng năm mới, tôi được phụ mẹ tôi chuẩn bị mâm cúng đón giao thừa đúng 12 giờ khuya. Rồi khi mẹ tôi cùng mấy bà hàng xóm đi Lăng Ông Bà Chiểu, tôi cũng được tháp tùng. Ngoài đường đông vui hết sức! Continue reading “Đi chùa, đi cúng tháng Giêng”

Niềm lạc quan vui sống trong nhạc đồng quê Mỹ Quốc

Từ lâu, không hề là nhạc sĩ, ca sĩ hay nhà phê bình âm nhạc chuyên nghiệp, mà chỉ qua cảm thụ bình thường, ngoài chuyên môn của một thính giả/khán giả phó-thường-dân thường xuyên nghe hay xem trình diễn âm nhạc, không hiểu sao tôi đã tò mò rất nhiều cũng như đặc biệt ưa chuộng đối với dòng nhạc đồng quê Mỹ Quốc.

country Continue reading “Niềm lạc quan vui sống trong nhạc đồng quê Mỹ Quốc”

Nhớ cà phê lá me bay

 

Cà phê vỉa hè Sài Gòn  thập niên 1970
Cà phê vỉa hè Sài Gòn thập niên 1970

1.

Ngày xưa, những năm 70 nhiễu nhương, loạn lạc lại trúng vào thời sinh viên của bọn tôi ở Sài Gòn. Dù đa số trong bọn đều là con nhà nghèo hay chỉ trung lưu, nhiều bạn phải đi dạy kèm mới đủ tiền mua cours mà học, nhưng bọn tôi lại khá phong lưu, rộng rãi ở cái khoản cà phê. Continue reading “Nhớ cà phê lá me bay”

Vui, Buồn Tháng 12

thuong-xa-tax-tai-sai-gon

1.

Xa xưa, vài năm đầu thập kỷ 60, chiến tranh còn chưa khốc liệt mà chỉ mới có mặt đâu đó ở những vùng rừng núi thật xa đô thành Sài Gòn, lâu lắm mới nghe tiếng đại bác chợt vọng về thành phố ban đêm. Do đó, ít ra là đối với tuổi niên thiếu hồn nhiên của những cậu bé dân Sài Gòn như tôi, những tháng 12 của vài năm đầu 60 quả là “bình yên dưới thế”, nên bọn nhóc chúng tôi đều háo hức trông chờ những lễ hội lớn lao, thật vui vẻ là Noel và Tết dương lịch.

Chính vào thời ấy, tôi mới bắt đầu hiểu lễ mừng Chúa Giáng sinh hằng năm không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng của riêng người Thiên Chúa giáo mà thực tế còn là một lễ hội lớn của toàn cầu, gắn liền với lễ hội đón Năm mới của toàn nhân loại, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, màu da, châu lục nào. Vào mùa Giáng sinh, giáo dân lo hành lễ ở nhà thờ của mình rồi cùng toàn thể mọi người chúc tụng, tặng quà qua lại, họp mặt, tiệc tùng, vui chơi, hẹn hò, khiêu vũ,… Continue reading “Vui, Buồn Tháng 12”

Những ngôi miếu thờ Ngũ Hành Nương Nương ở vùng Sài Gòn – Gia Định

Ký:

h-1
Tượng Ngũ Hành Nương Nương ở chùa Thiền Lâm, quận 8 – Saigon

Từ thời cổ đại ở Trung Hoa, Ngũ Hành vốn là một khái niệm siêu hình học nền tảng trong các học thuyết về Âm Dương/Ngũ Hành của Khổng tử và Lão tử. Ngũ Hành là năm loại vật chất căn bản, gồm: Kim (kim loại), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa) và Thổ (đất).

Như giải thích trong kinh Dịch và kinh Thư, năm chất liệu ấy vận động, phát triển theo hướng “tương sinh” và “ tương khắc”, đồng thời biểu thị quy luật sinh thành/vận động của toàn vũ trụ, thế giới và cả trong cuộc sinh tồn của nhân loại. Xuất phát từ Trung Quốc, lần hồi thuyết Ngũ Hành được tín ngưỡng hóa, thành sự thờ phượng “vạn vật linh thiêng”, rất phổ biến trong nhiều dân tộc Á Đông cho đến ngày nay.

Continue reading “Những ngôi miếu thờ Ngũ Hành Nương Nương ở vùng Sài Gòn – Gia Định”

Chuyện ở lò thiêu

maxresdefault

1.

Thể theo nguyện vọng của bạn tôi, gia đình và bạn bè đưa anh đến lò thiêu Bình Hưng Hòa. Tôi nhớ khá rõ là đã rất lâu trước đây, trong lúc chè chén bạn bè, anh từng nói khi anh chết cứ thiêu, tức anh thật lòng muốn thế và chọn lựa “thiêu cho nó gọn, khỏi chiếm đất” của anh không dính dáng gì đến việc nhà nước có ra qui định tặng cho mỗi đám thiêu 3 -4 triệu đồng gì đó nhằm khuyến khích dân chúng chọn thiêu, đừng chôn mà gây thêm khó khăn cho quỹ đất đang eo hẹp. Continue reading “Chuyện ở lò thiêu”

Campuchia, ảo và thực…

img_2335

 1.

Gần đây, báo chí Việt Nam thường đề cập đến tình hình chính trị căng thẳng ở nước Campuchia láng giềng. Nào là quân đội chính phủ bao vây trụ sở phe đối lập, các đảng đối lập không nhượng bộ còn lên kế hoạch đại biểu tình, nào là Campuchia phản ứng Mỹ can thiệp nội bộ… Continue reading “Campuchia, ảo và thực…”