Lãng phí ngàn tỷ, xóa sổ cơ hội đầu tư ở khu công nghiệp – 4 bài

***

Lãng phí ngàn tỷ, xóa sổ cơ hội đầu tư ở khu công nghiệp – Bài 1: Phải ngừng thu hút đầu tư vì tiền thuê đất chưa tính được

Ngô Nguyên – 27/03/2021 09:40

 Khu công nghiệp Hiệp Phước phải ngưng thu hút đầu tư trên diện tích 200 ha vì cơ quan chức năng chưa duyệt hình thức thuê đất thay đổi, chưa xác định được giá đất nhà nước đối với KCN

Nhiều khu công nghiệp liên tiếp được cấp phép và mở rộng để đón sẵn cơ hội từ làn sóng dịch chuyển vốn đầu tư toàn cầu. TP.HCM luôn là địa chỉ đỏ để nhà đầu tư cập bến, song do những vướng víu trong quản lý đất đai, cùng mâu thuẫn trong quy định pháp lý, nhiều khu công nghiệp tại TP.HCM đang “đứng hình”, chủ đầu tư không thể kêu gọi đầu tư, doanh nghiệp thuê đất bị tê liệt sản xuất. Đây là sự lãng phí rất lớn cơ hội để gia tăng sức mạnh của nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh môi trường đầu tư – kinh doanh của Việt Nam.

 KCN Hiệp Phước giai đoạn II còn gần 200 ha đất đã đầu tư hạ tầng, có thể thu hút đầu tư 	ảnh: lê toàn
KCN Hiệp Phước giai đoạn II còn gần 200 ha đất đã đầu tư hạ tầng, có thể thu hút đầu tư.   Ảnh: Lê Toàn

Tiếp tục đọc “Lãng phí ngàn tỷ, xóa sổ cơ hội đầu tư ở khu công nghiệp – 4 bài”

Sponsored Post Learn from the experts: Create a successful blog with our brand new courseThe WordPress.com Blog

WordPress.com is excited to announce our newest offering: a course just for beginning bloggers where you’ll learn everything you need to know about blogging from the most trusted experts in the industry. We have helped millions of blogs get up and running, we know what works, and we want you to to know everything we know. This course provides all the fundamental skills and inspiration you need to get your blog started, an interactive community forum, and content updated annually.

Gần 80% bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh

Báo Đầu tưAn Nguyên – 13/04/2021 09:10

 Vẫn còn 6,3% khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị và 17% khối lượng chất thải rắn sinh hoạt nông thôn không được thu gom và bị thải bỏ ra môi trường xung quanh.

.
Theo đánh giá của Chính phủ, rác thải sinh hoạt đô thị, nông thôn chưa được phân loại, thu gom, xử lý hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh.

Hiện nay, khoảng 70% khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom được xử lý bằng phương pháp chôn lấp với khối lượng khoảng 35.000 tấn/ngày nhưng chỉ có khoảng 20% trong số các bãi chôn lấp là bãi chôn lấp hợp vệ sinh, còn lại là các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh hoặc các bãi tập kết chất thải cấp xã.

Đó là thực tế được nêu tại báo cáo vê công tác bảo vệ môi trường năm 2020 của Chính phủ gửi đến các vị đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 11 vừa qua.

Tiếp tục đọc “Gần 80% bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh”

Xuất khẩu gạo: Nên vận hành theo cơ chế thị trường

Đài phát thanh và truyền hình Long An – 21/04/2020 lúc 10:44

Theo các chuyên gia, để việc xuất khẩu gạo đạt được hiệu quả thì nên vận hành theo cơ chế thị trường và sử dụng nhiều công cụ như đánh thuế xuất khẩu gạo. 

Xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường châu Phi tiếp tục tăng | Kinh doanh  | Vietnam+ (VietnamPlus)
Việt Nam là một trong những nước có thế mạnh về xuất khẩu gạo. Ảnh: TTXVN.

Nên vận hành theo cơ chế thị trường

Theo TS. Đặng Kim Sơn, Nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, mọi ngành, lĩnh vực đều rất khó khăn, thì tín hiệu tốt của thị trường lúa gạo là điểm sáng quý giá, cần phải tận dụng ngay để giúp nông dân vượt qua khó khăn hiện nay và gượng dậy sau dịch bệnh.

TS Đặng Kim Sơn khẳng định, trong thời điểm này, việc Chính phủ đặt ra những lo ngại về an ninh lương thực là vô cùng cần thiết. Nhưng sự thay đổi quá đột ngột trong điều hành xuất khẩu gạo của các bộ ngành đã tạo ra cơn sóng trong ngành lúa gạo những ngày vừa qua. 

Tiếp tục đọc “Xuất khẩu gạo: Nên vận hành theo cơ chế thị trường”

Ca COVID tăng vọt 3 con số, chuyện gì xảy ra ở Campuchia, Thái Lan?

11/04/2021 05:40 GMT+7

TTOSố ca mắc mới COVID-19 mỗi ngày bất ngờ tăng vọt lên 3 con số ở cả Campuchia lẫn Thái Lan khiến dư luận sửng sốt đặt câu hỏi: Chuyện gì đang xảy ra với tình hình dịch bệnh COVID-19 tại đây?

Ca COVID tăng vọt 3 con số, chuyện gì xảy ra ở Campuchia, Thái Lan? - Ảnh 1.

Cảnh sát phong tỏa một tuyến đường ở thủ đô Phnom Penh (Campuchia) để phòng chống dịch COVID-19 – Ảnh: KHMER TIMES

Thủ tướng Samdech Hun Sen ngày 10-4 thông báo nước này có thêm 477 ca COVID-19, nâng tổng số ca nhiễm virus corona tại Campuchia lên 4.081 ca. Cùng ngày, Thái Lan ghi nhận gần 800 ca mới, nhà chức trách đã phải dựng gấp 10 bệnh viện dã chiến để có chỗ tiếp nhận bệnh nhân COVID-19.

Tiếp tục đọc “Ca COVID tăng vọt 3 con số, chuyện gì xảy ra ở Campuchia, Thái Lan?”

Từ 1-7, TPHCM sẽ chỉ còn một cấp chính quyền là UBND TPHCM

Lê Anh, Thứ Tư,  7/4/2021, 21:31

(KTSG Online) – Thực hiện mô hình chính quyền đô thị, từ ngày 1-7-2021, chính quyền TPHCM tại 16 quận và Thành phố Thủ Đức sẽ chỉ còn một cấp (thay vì 3 cấp); việc sao y, chứng thực chữ ký được ủy quyền cho công chức tư pháp, hộ tịch thực hiện thay vì chủ tịch hoặc phó chủ tịch phường ký.


Tổ chức mô hình chính quyền đô thị nhằm giải quyết kịp thời nhu cầu làm hồ sơ giấy tờ của người dân- Ảnh: Lê Anh

Đây là một số điểm mới được phổ biến tại hội nghị triển khai thực hiện Nghị định số 33/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14 về tổ chức chính quyền đô thị tại TPHCM diễn ra chiều 7-4. Tiếp tục đọc “Từ 1-7, TPHCM sẽ chỉ còn một cấp chính quyền là UBND TPHCM”

Xóa bất bình đẳng cực điểm: Mục tiêu phát triển bền vững, 2015–2030

Sợ nghèo | Đọt Chuối Non

Eliminating Extreme Inequality: A Sustainable Development Goal, 2015–2030

Michael W. Doyle and Joseph E. Stiglitz | March 2014

At the United Nations Millennium Summit in September 2000, UN member states took a dramatic step by putting people rather than states at the center of the UN’s agenda. In their Millennium Declaration,*1 the assembled world leaders agreed to a set of breathtakingly broad goals touching on peace through development, the environment, human rights, the protection of the vulnerable, the special needs of Africa, and reforms of UN institutions. Particularly influential was the codification of the Declaration’s development related objectives, which emerged in the summer of 2001 as the now familiar eight Millennium Development Goals (MDGs), to be realized by 2015:2

  1. Eradicate extreme poverty and hunger.3
    • Halve the proportion of people living on less than a dollar a day and those who suffer from hunger.
  2. Achieve universal primary education.
    • Ensure that all boys and girls complete primary school.
  3. Promote gender equality and empower women.
    • Eliminate gender disparities in primary and secondary education preferably by 2005, and at all levels by 2015.
  4. Reduce child mortality.
    • Reduce by two-thirds the mortality rate among children under five.
  5. Improve maternal health.
    • Reduce by three-quarters the ratio of women dying in childbirth.
  6. Combat HIV/AIDS, malaria, and other diseases.
    • Halt and begin to reverse the spread of HIV/AIDS and the incidence of malaria and other major diseases.
  7. Ensure environmental sustainability.
    • Integrate the principles of sustainable development into country policies and programs and reverse the loss of environmental resources.
    • By 2015, reduce by half the proportion of people without access to safe drinking water.
    • By 2020, achieve significant improvement in the lives of at least 100 million slum dwellers.
  8. Develop a global partnership for development.
    • Develop further an open trading and financial system that includes a commitment to good governance, development, and poverty reduction—nationally and internationally.
    • Address the special needs of the least developed countries, and the special needs of landlocked and small island developing states.
    • Deal comprehensively with the debt problems of developing countries.
    • Develop decent and productive work for youth.
    • In cooperation with pharmaceutical companies, provide access to affordable essential drugs in developing countries.
    • In cooperation with the private sector, make available the benefits of new technologies—especially information and communications technologies.

As UN Secretary-General Kofi Annan later described them, the MDGs were a remarkable effort in international coordination. They established common ground among competitive development agencies, inspired concerted action by international organizations and national governments, and offered an opportunity for citizens to insist that governments focus on the “we the peoples” they claimed to represent. In short, they transformed the agenda of world leaders.4

The MDG record has been mixed. Some goals, such as halving the proportion of people living in extreme poverty, have been met at the global level, but none have been fulfilled in all countries.

Fourteen years later, the MDG record has been mixed. Some goals, such as halving the proportion of people living in extreme poverty, have been met at the global level, but none have been fulfilled in all countries. Others, such as universal access to primary education, are unlikely to be achieved by 2015.5

However, while the accomplishment of these goals would have been an impressive achievement, even taken together they do not represent a complete or comprehensive vision of human development. They were constrained by what the member states could agree upon in 2000 and, in particular, they lacked a vision of equitable development.6 As the international community thinks about the set of goals that will follow the MDGs, it is time to address that shortcoming by adding the goal of “eliminating extreme inequality” to the original eight.

WHY INEQUALITY MATTERS

Every country has a distinct political economy that shapes the extent and effects of inequalities; each requires separate assessment. The marked differences in the extent and nature of inequality across countries demonstrate that inequality is not just determined by economic forces; it is shaped by politics and policies.

Full equality is not the goal. Some economic inequalities may be conducive to economic growth. Other inequalities may not be worth addressing because doing so infringes on cherished liberties. While the precise point at which inequalities turn harmful may differ from country to country, once inequality becomes extreme, harmful social, economic, and political effects become evident. Extreme inequalities tend to hamper economic growth and undermine both political equality and social stability. And because inequalities have cumulative economic, social, and political effects, each of these contributing factors requires separate and concerted attention. We turn first to the economic arguments for reducing extreme inequalities, and then to the political and social arguments.

Economic Arguments 7

Economists of widely differing philosophical outlooks agree that inequalities of incomes and assets have harmful economic effects. Increasing inequalities, with top-heavy income distributions, lessen aggregate demand (the rich tend to spend a smaller fraction of their income than the poor), which can slow economic growth. The attempt of monetary authorities to offset these effects can contribute to credit bubbles, and these bubbles in turn lead to economic instability. That is why inequality is often associated with economic instability. In this perspective, it is not a surprise that inequality reached high levels before the Great Recession of 2008 and before the Great Depression of the 1930s.8 Recent International Monetary Fund research shows that high inequality is associated with shorter growth cycles.9

Much of the inequality observed around the world is associated with rent-seeking (for example, the exercise of monopoly power), and such inequality manifestly undermines economic efficiency. But perhaps the worse dimension of inequality is inequality of opportunity, which is both the cause and consequence of inequality of outcomes, and causes economic inefficiency and reduced development, as large numbers of individuals are not able to live up to their potential.10 Countries with high inequality tend to invest less in public goods, such as infrastructure, technology, and education, which contribute to long-term economic prosperity and growth.

Reducing inequality, on the other hand, has clear economic as well as social benefits. It strengthens people’s sense that society is fair; improves social cohesion and mobility, making it more likely that more citizens live up to their potential; and broadens support for growth initiatives. Policies that aim for growth but ignore inequality may ultimately be self-defeating, whereas policies that decrease inequality by, for example, boosting employment and education have beneficial effects on the human capital that modern economies increasingly need.11

Gaps between the rich and the poor are partly the result of economic forces, but equally, or even more, they are the result of public policy choices, such as taxation, the level of the minimum wage, and the amount invested in health care and education.

Political and Social Arguments

Gaps between the rich and the poor are partly the result of economic forces, but equally, or even more, they are the result of public policy choices, such as taxation, the level of the minimum wage, and the amount invested in health care and education. This is why countries whose economic circumstances are otherwise similar can have markedly different levels of inequality. These inequalities in turn affect policy-making because even democratically-elected officials respond more attentively to the views of affluent constituents than they do to the views of poor people.12 The more that wealth is allowed unrestricted roles in funding elections, the more likely it is that economic inequality will get translated into political inequality.

As noted, extreme inequalities undermine not only economic stability but also social and political stability. But there is no simple causal relation between economic inequality and social stability, as measured by crime or civil violence. Neither form of violence correlates with Gini indices or Palma ratios (the top 10 percent of the population’s share of Gross National Income [GNI] divided by the poorest 40 percent of the population’s share of GNI).13 There are, however, substantial links between violence and “horizontal inequalities” that combine economic stratification with race, ethnicity, religion, or region. When the poor are from one race, ethnicity, religion, or region, and the rich are from another, a lethal, destabilizing dynamic often emerges.

Drawing on 123 national surveys in 61 developing countries, one study carefully documents the effects of inequalities in assets among ethnicities. For a typical country with average values on all the variables accounting for violence, the probability of civil conflict in a given year is 2.3 percent. If the level of horizontal asset inequality among ethnic groups is increased to the ninety-fifth percentile (and the other variables remain at their average values), the probability of conflict increases to 6.1 percent—more than a twofold increase. A similar comparison focused on differences in income among religious groups shows an increase from 2.9 percent to 7.2 percent—again, more than twofold.14 Another study using similar methods finds regional disparities in wealth to be correlated with an especially high risk of conflict onset in sub-Saharan Africa.15

Using a different methodology that focuses on geographical disparities in income that are linked with ethnic differentiation, rather than surveys to measure inequalities, other authors confirm the dangers of large horizontal inequalities. Focusing on the post–cold war period (1991–2005), Lars-Erik Cederman, Nils Weidmann, and Kristian Gleditsch divide the total sum of economic production in a given ethnic settlement area by the group’s population size to get ethnic group–specific measures of per capita economic production. They find that both relatively poorer and relatively richer ethnic groups have higher likelihoods of experiencing civil war. Demonstrating that not just ethnographic factors are at work, they show that the richer (or the poorer) the ethnographic group is, the greater the likelihood of the extreme groups experiencing civil war with other ethnographic groups.16

THE MANY DIMENSIONS OF INEQUALITY

Just as discussions of poverty and poverty reduction expanded from a singleminded focus on income to many other dimensions of deprivation—including health and the environment—so too did they evolve in the case of inequality.17 Indeed, in most countries it appears that inequalities in wealth exceed those in income. Especially in countries without adequate public health systems, a Palma ratio reflecting health status would almost surely show even greater inequalities than a Palma ratio for income. A Palma ratio based on exposures to environmental hazards would likely demonstrate a similar trend.

One of the most pernicious forms of inequality relates to inequality of opportunity, reflected in a lack of socioeconomic mobility, condemning those born into the bottom of the economic pyramid to almost surely remain there. Alan Krueger, former Chairman of the U.S. Council of Economic Advisors, has pointed to this link between inequality and opportunity.18 Inequality of income tends to be associated with less economic mobility and fewer opportunities across generations. The fact that those born into the bottom of the economic pyramid are condemned to never reach their potential reinforces the correlation between inequality and slower long-term economic growth.19

That these dimensions of inequality are related suggests that focusing on one dimension at a time may underestimate the true magnitude of societal inequalities and provide an inadequate basis for policy. For example, health inequality is both a cause and consequence of income inequality. Inequalities in education are a primary determinant of inequalities in income and opportunity. In turn, as we have emphasized, when there are distinct social patterns of these multiple inequalities (for example, those associated with race or ethnicity), the consequences for society (including social instability) are increased.

MEASURING THE GOAL

We propose that the following goal—call it “Goal Nine”—be added to revisions and updates of the original eight: Eliminate extreme inequality at the national level in every country. For this goal, we propose the following targets:

  • By 2030, reduce extreme income inequalities in all countries such that the post-tax income of the top 10 percent is no more than the post-transfer income of the bottom 40 percent.
  • By 2020, establish a public commission in every country that will assess and report on the effects of national inequalities.

There is a growing consensus that the best indicator for these targets is the Palma ratio, which effectively focuses on extremes of inequality—the ratio of incomes at the very top to those at the bottom.20 In many countries around the world it is changes in these extremes that are most noticeable and most invidious, while the share of income in the middle is relatively stable.21 All countries should focus on their “extreme” inequalities, that is, the inequalities that do most harm to equitable and sustainable economic growth and that undermine social and political stability. A Palma ratio of 1 is an ideal reached in only a few countries. For example, countries in Scandinavia, with Palma ratios at 1 or less,22 do not seem to suffer from the liabilities associated with extreme inequalities. Indeed, in some accounts they seem to benefit from a positive “equality multiplier” across the various aspects of their socioeconomic development, making them efficient and flexible as well as equitable and stable.23

But countries differ not just in how unequal they are now but also in their culture, tolerance of inequality of various kinds, and capacity for social change. Hence, the more important target is the second one: a national dialogue by 2020 on what should be done to address the inequalities of most relevance to the particular country. Such a dialogue would draw attention to the policies in each country that exacerbate inequality (for example, deficiencies in the education system, the legal system, or the tax and transfer system); those that simultaneously distort the economy and contribute to economic, political, and social instability; and those that might most easily be altered.24

Support for reducing extreme inequalities is widespread.25 In a letter to Dr. Homi Kharas, lead author and executive secretary of the secretariat supporting the High-Level Panel of Eminent Persons on the Post-2015 Development Agenda, ninety economists, academics, and development experts urged that reduction in inequality in the post-2015 development framework be made a priority, and suggested that inequality be measured using the Palma ratio.26 They argue—consistent with our analysis—that inequality threatens poverty eradication, sustainable development, democratic processes, and social cohesion.27

Awareness of the adverse effects of inequality has moved beyond academics and social activists. A July 2013 speech by U.S. President Barack Obama outlined the role of inequality in creating credit bubbles (like the one that precipitated the Great Recession) and the way it deprives people of opportunity, which in turn fosters an inefficient economy in which the talents of many cannot be mobilized for the good of all.28 And Pope Francis, in his address in the Varginha slum of Rio de Janeiro on World Youth Day 2013, emphasized the need for greater solidarity, greater social justice, and special attention to the circumstances of youth. And, again consistent with the studies cited earlier, he declared that peace cannot be maintained in unequal societies with marginalized communities.29

There are many dimensions to inequality—some with more invidious effects than others—and many ways to measure these inequalities. One thing is certain, however: sustainable development cannot be achieved while ignoring extreme disparities. It is imperative that the post-MDG agenda have as one of its central points a focus on inequality.

NOTES

* The authors have benefited from the research assistance of Alicia Evangelides, Eamon Kircher-Allen, and Laurence Wilse-Samson.


Xóa bất bình đẳng cực điểm: Mục tiêu phát triển bền vững, 2015–2030

Michael W. Doyle và Joseph E. Stiglitz | Tháng 3 năm 2014

[PTH: Giáo sư Stiglitz có Nobel Kinh tế và rất hỗ trợ Việt Nam]

Tháng 9 năm 2000, tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ Liên hợp quốc, các nước thành viên đã đi một bước đột ngột bằng cách đặt con người, chứ không phải các nước, vào trọng tâm của chương trình nghị sự. Trong Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc,*1, các lãnh đạo thế giới nhóm họp với nhau đã cùng nhất trí bộ mục tiêu chung rất hấp dẫn về hòa bình thông qua phát triển, môi trường, nhân quyền, bảo vệ người dễ bị tổn thương, nhu cầu đặc biệt của châu Phi và cải cách các thể chế Liên hợp quốc. Đặc biệt có ảnh hưởng là việc soạn bộ luật các mục tiêu liên quan đến phát triển của Tuyên bố,trỗi lên vào mùa hè năm 2001 mà ngày nay là 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) quen thuộc, nhằm đạt được vào năm 2015: 2

  1. Xoá đói nghèo cực điểm.3
    • Giảm 1/2 số người sống dưới 1 đô la 1 ngày và giảm 1/2 số người bị đói.
  2. Đạt giáo dục tiểu học phổ cập.
    • Đảm bảo mọi trẻ em trai và gái đều xong tiểu học.
  3. Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.
    • Xóa chênh lệch giới trong giáo dục tiểu học và trung học phổ thông, tốt nhất là vào năm 2005 và ở mọi cấp năm 2015.
  4. Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em.
    • Giảm 2/3 số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.
  5. Cải thiện sức khỏe người mẹ.
    • Giảm 3/4 số phụ nữ chết khi sinh con.
  6. Chiến đấu với HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác.
    • Ngăn chặn và bắt đầu đảo ngược sự lây lan của HIV/AIDS, tỷ lệ mắc sốt rét và các bệnh chính khác.
  7. Đảm bảo tính bền vững của môi trường.
    • Lồng ghép các nguyên tắc phát triển bền vững vào các chính sách và chương trình quốc gia, và đảo ngược việc mất tài nguyên môi trường.
    • Đến năm 2015, giảm 1/2 số người không được sử dụng nước sạch.
    • Đến năm 2020, đạt được cải thiện đáng kể trong đời sống của ít nhất 100 triệu dân khu ổ chuột.
  8. Xây dựng quan hệ đối tác toàn cầu để phát triển.
    • Phát triển thêm nữa hệ thống thương mại và tài chính mở có cam kết chính quyền tốt, phát triển và giảm nghèo – trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
    • Giải quyết các nhu cầu đặc biệt của các nước kém phát triển nhất và các nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển không giáp biển, và các đảo nhỏ.
    • Giải quyết toàn diện vấn đề nợ của các nước đang phát triển
    • Phát triển công việc tốt và hiệu năng cao cho người trẻ.
    • Hợp tác với công ty dược phẩm, cung cấp quyền tiếp cận các loại thuốc cần thiết vừa với túi tiền ở các nước đang phát triển.
    • Hợp tác với khu vực tư nhân, tạo phúc lợi công nghệ mới – đặc biệt công nghệ thông tin và truyền thông.

Như Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan sau đó đã miêu tả, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ này là nỗ lực xuất sắc của phối hợp quốc tế. Các Mục tiêu đã thiết lập nền móng chung cho các cơ quan phát triển cạnh tranh nhau, gợi hứng cho các hành động hòa hợp của các tổ chức quốc tế và các chính phủ quốc gia, đồng thời tạo cơ hội cho người dân đòi chính phủ tập trung vào “người dân chúng tôi” mà chính phủ tuyên bố đại diện. Tóm lại, các Mục tiêu đã thay đổi chương trình nghị sự của các lãnh đạo thế giới.4

Thành quả của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ có điều được điều không. Vài mục tiêu, chẳng hạn như giảm 1/2 số người sống trong tận cùng nghèo khó, tuy được đáp ứng ở cấp toàn cầu, nhưng không được thực hiện ở tất cả các nước.

Mười bốn năm sau, thành quả của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ có điều được điều không. Vài mục tiêu, chẳng hạn như giảm 1/2 số người sống trong tận cùng nghèo khó, tuy được đáp ứng ở cấp toàn cầu, nhưng không được thực hiện ở tất cả các nước. Những mục tiêu khác, chẳng hạn như tiếp cận giáo dục tiểu học phổ cập, khó có thể đạt được vào năm 2015.5

Tuy nhiên, trong khi việc hoàn thành mục tiêu đáng lẽ phải là thành tích huy hoàng, thì trên tổng thể các mục tiêu cũng chẳng thể hiện được tầm nhìn toàn diện hoặc đầy đủ về phát triển con người. Các mục tiêu đã bị giới hạn bởi những gì các nước thành viên có thể đồng ý vào năm 2000, và đặc biệt, chúng thiếu tầm nhìn về phát triển công bằng.6 Vì cộng đồng quốc tế đang nghĩ về bộ mục tiêu theo sau các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, đã đến lúc phải giải quyết thiếu sót đó bằng cách thêm mục tiêu “xóa bất bình đẳng cực điểm” vào 8 mục tiêu ban đầu.

TẠI SAO BẤT BÌNH ĐẲNG LÀ VẤN ĐỀ LỚN

Mỗi nước đều có nền kinh tế chính trị riêng định hình quy mô và tác động của bất bình đẳng; thế nên mỗi nước đều phải được đánh giá riêng. Khác biệt đặc trưng về mức độ và bản chất của bất bình đẳng giữa các nước chứng tỏ bất bình đẳng không chỉ được xác định bởi các lực kinh tế; mà còn được định hình bởi chính trị và chính sách.

Hoàn toàn bình đẳng không phải là mục tiêu. Vài bất bình đẳng kinh tế có thể có lợi cho phát triển kinh tế. Những bất bình đẳng khác có thể chẳng bõ công giải quyết vì làm như vậy là vi phạm những tự được yêu chuộng. Dù thời điểm chính xác mà bất bình đẳng trở nên có hại có thể khác nhau giữa các nước, nhưng một khi bất bình đẳng trở nên cực độ, ảnh hưởng có hại về xã hội, kinh tế và chính trị sẽ trở nên rõ ràng. Bất bình đẳng cực điểm có khuynh hướng cản trở phát triển kinh tế và hủy hoại cả bình đẳng chính trị và ổn định xã hội. Và vì bất bình đẳng có ảnh hưởng chất chồng cả về kinh tế, xã hội và chính trị, mỗi yếu tố góp phần tạo nên bất bình đẳng này đòi hỏi được cả chú ý riêng và chú ý phối hợp. Trước hết, chúng tôi quay sang lập luận kinh tế để làm giảm bất bình đẳng cực điểm, và sau đó là lập luận chính trị và xã hội.

Lập luận kinh tế 7

Những nhà kinh tế có quan điểm triết học khác nhau nhiều đều đồng ý rằng bất bình đẳng thu nhập và tài sản đều có ảnh hưởng kinh tế nguy hại. Bất bình đẳng gia tăng, với phân bổ thu nhập quá nhiều ở đỉnh, làm giảm tổng cầu (người giàu có xu hướng tiêu chỉ một tỉ số nhỏ của lợi tức của họ, nhỏ hơn so với tỉ số tiêu lợi tức của người nghèo), có thể làm chậm tăng trưởng kinh tế. Nỗ lực của cơ quan tiền tệ nhằm bù đắp ảnh hưởng này có thể góp phần tạo ra bong bóng tín dụng, và những bong bóng này lại dẫn đến bất ổn kinh tế. Đó là lý do vì sao bất bình đẳng thường gắn liền với bất ổn kinh tế. Theo quan điểm này, chẳng có gì ngạc nhiên khi bất bình đẳng đạt mức cao vào trước Đại suy thoái năm 2008 và trước Đại suy thoái những năm 1930.8 Nghiên cứu gần đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho thấy bất bình đẳng cao có liên quan đến những chu kỳ tăng trưởng ngắn hơn.9

Phần lớn bất bình đẳng được quan sát trên thế giới đều liên quan đến trục lợi (ví dụ, sử dụng độc quyền), và hiển nhiên bất bình đẳng đó làm hao mòn hiệu quả kinh tế. Nhưng có lẽ loại bất bình đẳng tồi tệ hơn cả là bất bình đẳng cơ hội, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của bất bình đẳng kết quả, gây ra bất lực kinh tế và làm giảm phát triển, khi lượng lớn người không thể sống đúng với tiềm năng của họ.10 Nước có bất bình đẳng cao có xu hướng ít đầu tư vào tài sản công hơn, như cơ sở hạ tầng, công nghệ và giáo dục, những tài sản đóng góp vào tăng trưởng và thịnh vượng kinh tế dài hạn.

Mặt khác, rõ ràng giảm bất bình đẳng có lợi cho kinh tế cũng như xã hội. Giảm bất bình đẳng củng cố ý thức của mọi người rằng xã hội là công bằng; cải thiện tính liên kết và tính di động xã hội, làm cho nhiều người có thể sống đúng với tiềm năng của họ hơn; và mở rộng hỗ trợ cho những sáng kiến ​​tăng trưởng. Những chính sách nhằm mục đích phát triển nhưng phớt lờ bất bình đẳng rốt cuộc có thể tự chuốc lấy thất bại, trong khi những chính sách giảm bất bình đẳng, chẳng hạn như gia tăng việc làm và giáo dục có tác động lợi ích tới vốn con người mà kinh tế hiện đại càng ngày càng cần. 11

Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo một phần là kết quả của các lực lượng kinh tế, nhưng tương đương, hay thậm chí nhiều hơn, là kết quả của lựa chọn chính sách công, chẳng hạn như thuế, lương tối thiểu, và lượng đầu tư vào chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

Lập luận Chính trị và Xã hội

Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo một phần là kết quả của các lực lượng kinh tế, nhưng tương đương, hay thậm chí nhiều hơn, là kết quả của lựa chọn chính sách công, chẳng hạn như thuế, lương tối thiểu, và lượng đầu tư vào chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Đây là lý do vì sao các nước có hoàn cảnh kinh tế giống nhau có thể có mức độ bất bình đẳng khác nhau rõ rệt. Đến lượt mình, những bất bình đẳng này lại ảnh hưởng đến việc làm chính sách, vì ngay cả quan chức được bầu dân chủ cũng phản ứng chăm chú hơn với những quan điểm của cử tri giàu, hơn là quan điểm của cử tri nghèo.12 Người giàu càng được đóng vai trò tài trợ bầu cử không hạn chế, càng có nhiều khả năng bất bình đẳng kinh tế chuyển thành bất bình đẳng chính trị.

Như đã nói, bất bình đẳng cực điểm không chỉ hủy hoại ổn định kinh tế mà còn hủy hoại cả ổn định xã hội và chính trị. Nhưng chẳng có liên hệ nhân quả đơn giản nào giữa bất bình đẳng kinh tế và ổn định xã hội, khi đo bằng tội phạm hay bạo lực dân sự. Chẳng có hình thức bạo lực nào liên quan với chỉ số Gini [là hệ số Gini (hệ số Loren), là hệ số chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập cho mọi cá nhân trong một nền kinh tế – theo Wikipedia] hay tỷ lệ Palma (10% dân số giàu nhất trong Tổng Thu nhập Quốc dân [GNI] chia cho 40% người nghèo nhất của GNI).13 Tuy nhiên, có những liên kết chắc nịch giữa bạo lực và “bất bình đẳng theo chiều ngang” – là bất bình đẳng phối hợp phân tầng kinh tế với chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực. Khi người nghèo đến từ một chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực, còn người giàu đến từ một chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực khác, động lực gây mất ổn định chết người thường nổi lên.

Dựa trên 123 cuộc khảo sát khắp nước ở 61 nước đang phát triển, một nghiên cứu đã cẩn thận ghi lại những tác động của bất bình đẳng tài sản giữa các dân tộc. Với một nước điển hình có giá trị trung bình trên mọi tham số liên quan đến bạo lực, thì xác suất xung đột dân sự [nội chiến] trong một năm là 2,3%. Nếu mức độ bất bình đẳng tài sản theo chiều ngang giữa các nhóm dân tộc tăng lên đến phân vị thứ 95 (và các tham số khác vẫn ở giá trị trung bình), thì xác suất xung đột sẽ tăng lên 6,1% – tăng hơn gấp hai lần. So sánh tương tự tập trung vào khác biệt thu nhập giữa các nhóm tôn giáo cho thấy mức tăng từ 2,9% lên 7,2% – lần nữa, gấp hơn hai lần.14 Một nghiên cứu khác dùng phương pháp tương tự cho thấy chênh lệch giàu nghèo theo khu vực có liên quan cùng chiều với rủi ro xung đột trỗi lên ở hạ Sahara, Châu Phi (vùng châu Phi nằm phía nam sa mạc Sahara).15

Để đo bất bình đẳng, thay vì khảo sát, khi dùng phương pháp khác, tập trung vào chênh lệch thu nhập theo khu vực địa lý, có liên kết với sự phân biệt chủng tộc, thay vì khảo cứu đo lường bất bìnhđẳng, các tác giả khác khẳng định những nguy hiểm của bất bình đẳng rộng lớn theo chiều ngang. Tập trung vào giai đoạn sau chiến tranh lạnh (1991–2005), Lars-Erik Cederman, Nils Weidmann và Kristian Gleditsch chia tổng sản lượng kinh tế trong một vùng dân định cư cụ thể cho lượng dân số của nhóm để có số đo sản lượng kinh tế bình quân đầu người. Họ thấy cả nhóm dân tương đối nghèo hơn và nhóm tương đối giàu hơn đều có khả năng xảy ra nội chiến cao hơn. Chứng minh rằng không chỉ các yếu tố chủng tộc mới có tác dụng, chúng cho thấy nhóm dân càng giàu hơn (hay càng nghèo hơn) thì khả năng các nhóm cực điểm này có nội chiến với các nhóm dân khác càng lớn.16

NHIỀU LOẠI BẤT BÌNH ĐẲNG

Giống như các thảo luận về nghèo và giảm nghèo đẫ mở rộng từ việc chỉ tập trung vào thu nhập sang nhiều khía cạnh khác của thiếu thốn – gồm sức khỏe và môi trường – thì các thảo luận này cũng tiến hoá trong trường hợp bất bình đẳng.17 Thật vậy, hình như ở đa số các nước, bất bình đẳng tài sản vượt quá bất bình đẳng thu nhập. Đặc biệt ở những nước không có hệ thống y tế công cộng đầy đủ, tỷ lệ Palma phản ánh tình trạng sức khỏe gần như chắc chắn cho thấy những bất bình đẳng lớn hơn tỷ lệ Palma thu nhập. Tỷ lệ Palma dựa trên độ phơi nhiễm với các nguy hiểm môi trường có thể sẽ cho thấy xu hướng tương tự.

Một trong những hình thức bất bình đẳng nguy hại nhất lại liên quan đến bất bình đẳng cơ hội, thể hiện ở chỗ thiếu di động kinh tế xã hội, khiến người sinh ở đáy kim tự tháp kinh tế gần như chắc chắn đứng ở lại đó. Alan Krueger, cựu Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế Hoa Kỳ, đã chỉ ra mắt xích giữa bất bình đẳng và cơ hội này.18 Bất bình đẳng thu nhập có khuynh hướng gắn liền với ít di động kinh tế hơn và ít cơ hội hơn qua các thế hệ. Thực tế, người sinh ở đáy kim tự tháp kinh tế bị kết án là không bao giờ đạt được tiềm năng của họ đã củng cố mối liên quan giữa bất bình đẳng và phát triển kinh tế dài hạn chậm hơn.19

Việc những khía cạnh bất bình đẳng này có liên quan với nhau cho thấy việc tập trung vào một khía cạnh tại một thời điểm có thể đánh giá thấp mức độ thật của bất bình đẳng xã hội và chuẩn bị cái nền không phù hợp cho chính sách. Ví dụ, bất bình đẳng sức khỏe vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của bất bình đẳng thu nhập. Bất bình đẳng trong giáo dục là yếu tố quyết định chính của bất bình đẳng thu nhập và cơ hội. Ngược lại, như chúng tôi đã nhấn mạnh, khi có những hình thái xã hội riêng của những bất bình đẳng này (ví dụ, bất bình đẳng liên quan đến chủng tộc hay sắc tộc), hậu quả với xã hội (gồm cả bất ổn xã hội) sẽ tăng lên.

ĐO MỤC TIÊU

Chúng tôi đề xuất mục tiêu sau – gọi là “Mục tiêu số 9” – thêm vào bản sửa đổi và cập nhật của 8 mục tiêu ban đầu: Xóa bất bình đẳng cực điểm ở cấp quốc gia ở mọi nước. Với mục tiêu này, chúng tôi đề xuất những chỉ tiêu đi theo:

  • Đến năm 2030, giảm bất bình đẳng thu nhập cực điểm ở mọi nước sao cho thu nhập sau thuế của 10% hàng đầu không nhiều hơn thu nhập sau khi chuyển tiền của 40% dưới cùng.
  • Đến năm 2020, thành lập ủy ban công ở mọi nước để đánh giá và báo cáo tác động bất bình đẳng quốc gia.

Càng ngày càng có đồng thuận rằng chỉ số tốt nhất cho các mục tiêu này là tỷ lệ Palma, tỷ lệ này tập trung hiệu quả vào bất bình đẳng cực điểm — tỷ lệ thu nhập ở mức cao nhất so với mức thấp nhất.20 Ở nhiều nước trên thế giới, những thay đổi tại các thái cực này là điều dễ nhận thấy nhất và tai ác nhất, trong khi tỷ trọng thu nhập ở nhóm trung bình tương đối ổn định.21 Mọi nước nên tập trung vào những bất bình đẳng “cực điểm” của họ, tức là bất bình đẳng có hại nhất với phát triển kinh tế công bằng và bền vững, và bất bình đẳng hủy hoại ổn định xã hội và chính trị. Tỷ lệ Palma 1 là mức lý tưởng chỉ đạt được ở rất ít nước. Ví dụ, các nước Bắc Âu, với tỷ lệ Palma từ 1 trở xuống,22 dường như không phải chịu các gánh nặng liên quan đến bất bình đẳng cực điểm. Thật vậy, trong vài trường hợp, các nước Bắc Âu dường như được hưởng lợi từ “hệ số bình đẳng” dương trên các khía cạnh khác nhau của phát triển kinh tế xã hội, làm cho chúng hoạt động hiệu quả và linh hoạt, cũng như công bằng và ổn định.23

Nhưng các nước khác nhau không chỉ khác ở bất bình đẳng ra sao mà còn khác ở văn hóa bất bình đẳng, khả năng chịu đựng bất bình đẳng ở nhiều dạng khác nhau, và khả năng thay đổi xã hội. Do đó, mục tiêu quan trọng hơn lại là mục tiêu thứ hai: đến năm 2020, đối thoại quốc gia về chuyện cần làm để giải quyết bất bình đẳng liên quan nhất đến quốc gia cụ thể. Đối thoại như vậy sẽ thu hút sự chú ý đến chính sách ở từng nước có làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng (ví dụ, những khiếm khuyết trong hệ thống giáo dục, hệ thống luật, hay hệ thống thuế và chuyển nhượng); những yếu tố vừa bóp méo nên kinh tế, vừa góp phần gây bất ổn kinh tế, chính trị và xã hội; và những yếu tố có thể dễ dàng được thay đổi nhất.24

Hỗ trợ giảm bất bình đẳng cực điểm đang được phổ biến.25 Trong lá thư gửi Tiến sĩ Homi Kharas, tác giả chính và tổng thư ký điều hành của ban thư ký hỗ trợ hộ Ban Hội thẩm Cấp cao của Những Người Chính Yếu trong Chương trình Nghị sự Phát triển Sau-2015, chín mươi nhà kinh tế, học giả và chuyên gia phát triển, đã kêu gọi ưu tiên giảm bất bình đẳng cực điểm trong khuôn khổ phát triển sau năm 2015 và đề xuất đo bất bình đẳng bằng tỷ lệ Palma.26 Họ lập luận – phù hợp với phân tích của chúng tôi – rằng bất bình đẳng đang đe dọa xóa nghèo, phát triển bền vững, quá trình dân chủ, và gắn kết xã hội.27

Nhận thức về tác động có hại của bất bình đẳng đã vượt ra ngoài giới học thuật và các nhà hoạt động xã hội. Bài phát biểu vào tháng 7 năm 2013 của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát thảo vai trò của bất bình đẳng trong việc tạo ra bong bóng tín dụng (giống như bong bóng tạo kết tủa cuộc Đại Suy thoái) và cách bất bình đẳng tước đi cơ hội của mọi người, từ đó nuôi nền kinh tế kém hiệu quả, trong đó tài năng của nhiều người không thể được huy động cho lợi ích của mọi người.28 Và Giáo hoàng Phanxicô (giáo hoàng hiện tại của Giáo hội Công giáo Rôma), trong diễn văn tại khu ổ chuột Varginha ở thành phố Rio de Janeiro, Brasil, Ngày Giới trẻ Thế giới 2013 (ngày hội của giới trẻ Công giáo toàn thế giới), đã nhấn mạnh nhu cầu đoàn kết hơn, công bằng xã hội hơn, và quan tâm đặc biệt đến hoàn cảnh giới trẻ. Và, lần nữa, nhất quán với các nghiên cứu được trích dẫn trước đó, Giáo hoàng tuyên bố hòa bình chẳng thể được duy trì trong những xã hội bất bình đẳng với những cộng đồng ở bên rìa xã hội.29

Có nhiều khía cạnh dẫn đến bất bình đẳng — vài khía cạnh có nhiều tác động tai ác hơn vài khía cạnh khác — và có nhiều cách đo lường những bất bình đẳng này. Tuy nhiên, một điều chắc chắn: chẳng thể đạt được phát triển bền vững khi phớt lờ những chênh lệch cực điểm. Điều bắt buộc là chương trình nghị sự hậu Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ phải tập trung vào bất bình đẳng như một trong những điểm trọng tâm của chương trình.

GHI CHÚ

  • Các tác giả đã được hưởng lợi từ hỗ trợ nghiên cứu của Alicia Evangelides, Eamon Kircher-Allen và Laurence Wilse-Samson.

(Phạm Thu Hương dịch)

Nam Việt Nam Có Tồn Tại Được Không? (Is South Vietnam Viable?), Nguyễn Thái

thư viện hoa sen – 19/12/201212:00 SA

1963 – 2013
NĂM MƯƠI NĂM NHÌN LẠI
TẬP HAI (2/3)
Tuyển tập của 99 tác giả
và những lời Phê phán của 100 Chứng nhân
về chế độ Ngô Đình Diệm
Nhà xuất bản Thiện Tri Thức Publications 2013
TẬP MỘTTẬP HAITẬP BA

50namnhinlai-med123

Chương Bốn
BÁNH XE LỊCH SỬ
Thiên thời Địa lợi Nhân hòa

NAM VIỆT NAM
CÓ TỒN TẠI ĐƯỢC KHÔNG
(IS SOUTH VIETNAM VIABLE?)

Nguyễn Thái

Tác giả Nguyễn Thái nguyên là Chủ tịch Hội Sinh Viên Công Giáo Việt Nam tại Mỹ. Sau hiệp định Genève 1954, vì là một tín đồ Công giáo, tác giả được ông Diệm mời về nước và cử làm. Tổng giám đốc Việt Nam Thông Tấn Xã, 1955-1961. Năm 1961, tác giả bất mãn vì chế độ độc tài của chính phủ Diệm nên rời khỏi nước và qua Phi Luật Tân, tại đấy, ông viết tác phẩm Is South Vietnam Viable? (Manila, 1962) để phản đối chế độ và cảnh báo với chính quyền Mỹ. Phần trích dưới đây là Lời Mở Đầu của tác phẩm Is South Vietnam Viable? (Nam Việt Nam có tồn tại được không?)

Tiếp tục đọc “Nam Việt Nam Có Tồn Tại Được Không? (Is South Vietnam Viable?), Nguyễn Thái”

Cà Mau mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 20.000 ha

DT Nuôi tôm sinh thái kết hợp với bảo vệ rừng được tỉnh Cà Mau phấn đấu mở rộng diện tích lên đến 20 ngàn ha trong năm 2020.

Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh. 
Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh. 

Rừng và tôm

ĐBSCL, tháng 5 nắng nóng oi bức, chúng tôi lặn lội về vùng nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ở huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) được chứng kiến cuộc chuyển đổi tư duy ở đây. Đến nơi đây, cái nắng nóng đã dịu hẳn đi khi chúng tôi ẩn mình vào trong những cánh rừng đang nuôi tôm sinh thái và được nghe những câu chuyện thành công trong cuộc chuyển đổi này.

Tiếp tục đọc “Cà Mau mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 20.000 ha”

Tài liệu SÍP: EU cần phải hành động trước sự biến tướng của hệ thống thị thực vàng

towardstransparency.vn – Gần đây, hãng tin Al Jazeera đã công bố nội dung của “Tài liệu Síp”. Tài liệu này cho thấy Cộng hòa Síp (Cyprus) – một quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu (EU) đã phê duyệt những cuốn “Hộ chiếu Vàng” cho 1.400 cá nhân giàu có cùng 1.100 thành viên gia đình của họ từ năm 2017 – 2019.

“Thị thực vàng” (Ảnh: Essencial Portugal)

Đơn vị điều tra của Al Jazeera cũng phát hiện ra rằng, có ít nhất 60 cá nhân trong số những người nhận được “thị thực vàng” trong giai đoạn 2017 đến 2019 thuộc diện “rủi ro cao” hay có dính líu đến tham nhũng, tội phạm và rửa tiền. Ở Việt Nam, có 2 cá nhân được công bố thuộc danh sách này.

Tiếp tục đọc “Tài liệu SÍP: EU cần phải hành động trước sự biến tướng của hệ thống thị thực vàng”

Sợi chuối Việt Nam chinh phục thị trường thế giới

vietnam.vnanet.vn – 19/11/2020

Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Nông nghiệp Khai Thái, huyện Phú Xuyên, Hà Nội là mô hình kiểu mẫu đầu tiên tại Việt Nam sản xuất sợi từ thân cây chuối. Một ngành kinh tế nông nghiệp mới biến thân chuối bỏ đi sau thu hoạch trở thành nguồn lợi có giá trị bắt đầu hình thành. Sợi chuối của Việt Nam đang mang trong mình tiềm năng xuất khẩu lớn trị giá hàng trăm triệu USD. Sản phẩm Sợi chuối đã tham gia chương trình OCOP của Tp. Hà Nội. 

Đi giữa những vườn chuối 100ha xanh bạt ngàn chạy ngút tầm mắt, vươn những tán lá dài đón gió tại khu vực các xã Khai Thái, Hồng Thái, Nam Tiến và xã Văn Nghệ, chúng tôi không khỏi ấn tượng với những gì mà cây chuối mang lại cho vùng đất này. 

 Với sản lượng như vậy thân chuối sau thu hoạch sẽ tạo nên một lượng sinh khối lớn, trở thành chất thải gây gánh nặng cho môi trường cũng như gánh nặng kinh phí cho các nhà vườn trong việc thu dọn, hủy bỏ thân chuối.

Tiếp tục đọc “Sợi chuối Việt Nam chinh phục thị trường thế giới”

Drinking coffee in the US? Worry about forests in Vietnam, study warns

eco-business.com

The US’s thirst for coffee drives forest loss in central Vietnam, while Germany’s craving for cocoa is doing the same in West Africa, a landmark study that tracks the drivers of deforestation across borders found.

coffee beans Vietnam
<p>A Vietnamese farmer tosses roasted coffee beans in order to remove the bits of burnt skin surrounding each one. Image: jeevsCC BY-NC-ND 3.0</p>

Mongabay.comApril 5, 2021

  • Consumption patterns, especially in wealthier countries, are eating away at forests in some of the world’s most biodiverse regions. In the US, the thirst for coffee drives forest loss in central Vietnam, a landmark study that tracks the drivers of deforestation across borders found.

Germany’s demand for cocoa is linked to forest loss in Côte d’Ivoire and Ghana, while Japan’s demand for agricultural products like cotton fuels deforestation in coastal Tanzania.

Tiếp tục đọc “Drinking coffee in the US? Worry about forests in Vietnam, study warns”

It won’t take much for Vietnam to develop nuclear power

By Sebastien Eskenazi   April 7, 2021 | 07:00 am GMT+7 VNExpress

All it will take is VND1 million ($43) per person per year for Vietnam to get its entire power supply from nuclear plants.

Sebastien Eskenazi
Sebastien Eskenazi

Lately there has been a few articles about how Vietnam will feed its growing energy demand. And I usually feel sad for Vietnam when I read them because they support either coal and gas which pollute a lot or solar and windfarms which take a lot of space and need coal and gas to provide power when they don’t work anyway.

Humans using too much space is actually the first environmental threat according to the WWF. And a good example of the need for coal and gas when you have too much solar or windfarms is Germany. In contrast France produces the majority of its electricity from nuclear power and emits a lot less CO2 per megawatt.hour than Germany.

Tiếp tục đọc “It won’t take much for Vietnam to develop nuclear power”

Nông nghiệp, nông thôn bị lợi dụng, cày xới như thế nào? – 8 kỳ (Chuỗi bài đang cập nhập)

***

Nông nghiệp, nông thôn bị lợi dụng, cày xới như thế nào?

Điện mặt trời áp mái nhà như một ‘cơn lốc’ tràn qua khắp các vùng nông nghiệp, nông thôn Nam Trung bộ và Tây Nguyên, chiếm đất sản xuất và gây nhiều hệ lụy…

Dự án điện mặt trời áp mái trang trại: Chưa được phê duyệt vẫn xây dựng

Đầu năm 2020, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam, gần như ngay lập tức, các nhà đầu tư khắp cả nước, như nằm chờ sẵn, chui lên từ đất lên, đồng loạt xuất hiện ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên, biến nhiều diện tích đất chăn nuôi, trồng trọt, trang trại, thủy sản, thủy lợi, nông thôn… thành những dự án điện mặt trời và bằng mọi giá hoàn thành công trình, thực hiện mua bán điện với giá cực kỳ ưu đãi của Chính phủ mang lại hiệu quả, lợi nhuận lớn cho nhà đầu tư. Nhưng đổi lại các dự án điện mặt trời cũng tàn phá khủng khiếp các vùng sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Nhóm phóng viên Báo Nông nghiệp Việt Nam đã đi sâu tìm hiểu vạch trần những chiêu trò núp bóng nông nghiệp, nông thôn để thực hiện các dự án sai phạm, trục lợi chính sách. Cũng như sự làm ngơ, thiếu trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành và chính quyền một số địa phương khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên như thế nào?… 

Hệ thống Điện mặt trời áp mái nhà trải dài hàng cây số tại huyện Chư Prông, Gia Lai.
Hệ thống Điện mặt trời áp mái nhà trải dài hàng cây số tại huyện Chư Prông, Gia Lai.

 

Tiếp tục đọc “Nông nghiệp, nông thôn bị lợi dụng, cày xới như thế nào? – 8 kỳ (Chuỗi bài đang cập nhập)”

Spit On, Yelled At, Attacked: Chinese-Americans Fear for Their Safety

As bigots blame them for the coronavirus and President Trump labels it the “Chinese virus,” many Chinese-Americans say they are terrified of what could come next.

Yuanyuan Zhu said a middle-aged man started shouting at her while she was walking to her gym and then spat at her as she waited to cross the street.
Yuanyuan Zhu said a middle-aged man started shouting at her while she was walking to her gym and then spat at her as she waited to cross the street.Credit…Cayce Clifford for The New York Times

By Sabrina Tavernise and Richard A. Oppel Jr. Published March 23, 2020 New York Times

WASHINGTON — Yuanyuan Zhu was walking to her gym in San Francisco on March 9, thinking the workout could be her last for a while, when she noticed that a man was shouting at her. He was yelling an expletive about China. Then a bus passed, she recalled, and he screamed after it, “Run them over.”

Tiếp tục đọc “Spit On, Yelled At, Attacked: Chinese-Americans Fear for Their Safety”

Chỉ số CPI 2020: Cần tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng quyết liệt để đạt hiệu quả rõ nét hơn ở Việt Nam

towardstransparency

Ngày 28 tháng 01 năm 2021 – Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI) 2020, trong đó đánh giá 180 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên cảm nhận của các doanh nhân và chuyên gia về tham nhũng trong khu vực công tại các quốc gia và vùng lãnh thổ đó. 

Năm 2020, Việt Nam đạt 36/100 điểm, giảm 1 điểm so với năm 2019đứng thứ 104/180 trên bảng xếp hạng toàn cầu. Điểm CPI của Việt Nam thấp hơn điểm trung bình của khu vực ASEAN (42/100) nhưng cao hơn một số quốc gia trong khu vực trong đó có Phi-líp-pin, Lào, My-an-ma và Cam-pu-chia.
Tiếp tục đọc “Chỉ số CPI 2020: Cần tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng quyết liệt để đạt hiệu quả rõ nét hơn ở Việt Nam”