About Nguyễn Thị Ngọc Hợp

I graduated from Concordia University, Montreal, Quebec, Canada. Currently I am studying French and programming for data analysis.

Quả bom hẹn giờ: tình trạng người già nghèo đói ở Việt Nam

English: Vietnam’s ticking time-bomb of elderly poverty

Nhiều người đang làm việc ở tuổi già để mưu sinh, ở quốc gia có tỷ lệ người già đi nhanh nhất thế giới. Liệu các giải pháp có quá ít và quá trễ cho số người già đang tăng lên ở Việt Nam? Phần 1 của loạt bài về  tình trạng đói nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ đi sâu vào các vấn đề này.

Cụ Tran Thi Huong, 82 tuổi làm việc để mưu sinh bằng việc bán vé số dạo trên đường phố

Thành phố Hồ Chí Minh: làm quần quật trong căn bếp nhỏ tin hin, dưới ánh đèn lờ mờ từ 4 giờ sáng, chị em bà Chau cuối cùng đã xong việc pha trộn, xào nấu, hấp đồ trong khoảng 7 tiếng sau đó.

Nhưng, khi mặt trời gần đứng bóng, ngày làm việc của họ mới chỉ xong một nửa. Bấy giờ tới  phần việc khó khăn hơn: đi bán đồ ăn vặt – thực đơn gồm súp đậu đỏ, bánh bao đậu xanh, và đồ uống đậu phộng lạnh – dưới nắng nóng. Tiếp tục đọc

Cuộc chiến chống ma tuý ở Đông Nam Á không hiệu quả – Có giải pháp tốt hơn

English: Southeast Asia’s war on drugs doesn’t work – here’s what does

Cuộc chiến đẫm máu đối với ma tuý của Tổng thống Rodrigo Duterte chỉ là một vấn đề mới nhất trong khu vực mà việc sử dụng ma tuý thường đối mặt với các biện pháp khắc nghiệt. 13 năm trước Thái Lan tiến hành một cuộc chiến chống ma tuý đã gây nên tình cảnh tương tự như Philippines

Ngày nay, các nhà làm luật ở Philippines đang lên kế hoạch khôi phục án tử hình để thúc đẩy chiến dịch chống ma tuý. Nhưng việc này, cũng vậy, không hiệu quả ở khu vực này.

Vào tháng 7 năm 2016, Indonesia đã xử tử 4 tội phạm hình sự về ma tuý. Ngày 17 tháng 11, Singapore cũng hành hình 2 người đàn ông – một người Nigeria và một người Mã Lai – về tội phạm tương tự. Tiếp tục đọc

Hy vọng cho Hà Nội? Hệ thống xe buýt mới có thể giảm ô nhiễm…nếu có đủ người sử dụng

English: Hope for Hanoi? New bus system could cut pollution … if enough people use it

Từ toà nhà cao ốc văn phòng tại Hà Nội, anh Trần Dũng hầu như không thể nhìn thấy đường chân trời của thành phố đằng sau lớp khói bụi dày đặc. Trước khi rời công sở, anh chuyên viên trợ lý này kiểm tra phần ứng dụng AirVisual để đọc mức ô nhiễm không khí, ứng dụng cung cấp số đo chỉ số PM2.5 tại thời gian thực – PM2.5 là các hạt bụi nhỏ li ti có trong khói bụi mà có thể huỷ hoại cổ họng và phổi của con người.

Traffic jam in Hanoi

Những hàng dài xe máy và ô tô là nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí ở Hà Nội

Chỉ số PM2.5 thường dao động từ 100 đến 200 microgram mỗi mét khối – mức độ này thường được xếp vào loại “không tốt cho sức khoẻ” mà được toàn cầu đã công nghận. Nhưng vào ngày 19/12 năm rồi, nó đạt đến “mức độ  nguy hiểm” ở mức 343 microgram/m3, cao hơn cả ở Bắc Kinh.

Bị sốc khi đọc được con số này, anh Dũng đã chia sẻ ảnh chụp màn hình với bạn bè trên Facebook, anh viết: “Tôi không thể tin vào mắt mình. Các bạn bảo trọng!” Tiếp tục đọc

CƠ SỞ DỮ LIỆU VỀ BOM CÓ ÍCH CHO CHIẾN TRANH TRONG QUÁ KHỨ VÀ HIỆN TẠI

Lieutenant Colonel Jenns Robertson’s project is aiding efforts to spot unexploded bombs that still endanger civilians.

MEG MCKINNEY FOR THE BOSTON GLOBE

Dự án của Trung tá Colonel Jenns Robertson đang hỗ trợ các nỗ lực định vị các quả bom chưa phát nổ vẫn đang gây nguy hiểm cho người dân.

Cách đây 6 năm, dường như là một ý tưởng ngây thơ khi Trung tá Colonel Jenns Robertson, 45 tuổi, một người bản xứ ở Minnesota đeo kính hạng ngoại hạng thậm chí hơn cả các tiêu chuẩn của quân đội, đã bắt đầu một sở thích khá bất thường: ghi lại dữ liệu về bom của không lực Mỹ trong một thế kỷ – từng quả bom một Tiếp tục đọc

Ai chịu trách nhiệm? Câu hỏi then chốt trong đánh giá tác động nhân quyền

ENGLISH: Who is in charge? A key question for human rights impact assessments

https://i0.wp.com/images.huffingtonpost.com/2016-02-24-1456332056-5228871-ExcavatorOpenPitMining.jpg

huffingtonpost – Hàng loạt các công ty, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các nhà hoạt động nhân quyền đã tiến hành đánh giá tác động về nhân quyền trong những năm qua. Chẳng hạn, năm 2012 Kuoni kết hợp với Twenty Fifty và Tourism Concern nhằm đánh giá những ảnh hưởng về nhân quyền ở Kenya. Mới đây, NomoGaia đã thí điểm một công cụ để đánh giá tác động nhân quyền của Dự án Vận chuyển Nước Disi ở Jordan – Disi Water Conveyance Project.

Đánh giá Tác động Nhân quyền (Human Rights Impact Assessment – HRIA) là một quá trình xác định các tác động nhân quyền thực tế và tiềm ẩn của một dự án bởi công ty, và đề nghị làm thế nào để ngăn chặn, giảm thiểu và/hoặc giải quyết những tác động này.

HRIAs khác với Đánh giá Tác động Môi trường nhờ vào cách tiếp cận toàn diện của đánh giá. Dựa trên tính liên quan chặt chẽ và không thể tách rời của nhân quyền, các đánh giá này bao gồm cả những vấn đề về môi trường và xã hội. HRIAs cũng khác với Đánh giá Tác động Xã hội do các tiêu chuẩn của HRIAs gắn liền với các khung pháp lý quốc tế và quốc gia có tính ràng buộc. Điều này quan trọng bởi vì các khung pháp lý chỉ rõ những người có nghĩa vụ và những người hưởng quyền lợi. Tiếp tục đọc

Thổi năng lượng mới cho năng suất nông nghiệp vùng hạ lưu Mekong

English: Reinvigorating agricultural productivity in the Lower Mekong

Aladdin D. Rillo and Mercedita A. Sombilla

asia.nikke

Cuộc cách mạng xanh đã làm nên những kỳ tích ở châu Á. Sản lượng từ những mùa vụ, cụ thể là sản lượng gạo là lương thực chính của khu vực này, đã tăng gấp đôi trong những thập kỷ qua. Vùng hạ lưu đồng bằng sông Mekong, được xem như là vựa gạo của châu Á, kỹ thuật mới và giống cây trồng mới mà cuộc cách mạng xanh mang lại là một thành công lớn.

Sản xuất lúa gạo ở các nước hạ lưu sông Mekong như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam tăng vọt 68% từ năm 1980 đên năm 1995. Trong cùng thời gian này, trung bình sản lượng tăng hơn gấp đôi từ mức sản lượng những năm 1960 lên khoảng 3.5 tấn/ha. Tổng diện tích đất canh tác lúa cũng tăng khoảng 25% đạt 16.3 triệu ha từ năm 1996 đến năm 2005.

Cuối năm 2013, tuy nhiên, thành tựu đạt được như bị khựng lại. Giữa năm 2006 và năm 2013, tăng trưởng sản lượng trung bình chậm lại còn 22% trên tất cả các nước hạ lưu sông Mekong trừ Campuchia, trong khi tăng trưởng sản lượng gạo trượt xuống còn 36%.
Tiếp tục đọc

Tại sao chúng ta biết quá ít về vi phạm nhân quyền của các tập đoàn lớn?

ENGLISH: Why do we know so little about corporate human rights abuses?

Người ta gọi đó là “chiếc máy bay trở thành một chiếc xe mui trần”. Vào năm 1988, trên chuyến bay quen thuộc từ Hilo đến Honolulu, chuyến bay 243 của hãng hàng không Aloha đã bị xì áp suất, cuốn đi phần trên của máy bay. Một tiếp viên hàng không, người duy nhất không được thắt dây an toàn, bị hút ra khỏi máy bay cùng với phần trên máy bay.

Tai nạn xảy ra là tiếng gọi thức tỉnh ngành công nghiệp hàng không. Trong nhiều năm, việc bãi bỏ nhiều quy định đã thu hút nhiều công ty vào lãnh vực này, làm gia tăng áp lực lên các hãng hàng không để mở rộng vòng đời của các máy bay và bỏ qua việc bảo trì để duy trì hoạt động của máy bay trên không.

Sau tai nạn này, các hãng hàng không và các nhà làm luật quyết định giải quyết vấn đề an toàn trực tiếp. Cơ quan Hàng không Liên bang Mỹ yêu cầu mọi hãng hàng không báo cáo dữ liệu về việc bảo trì, kiểm tra và tai nạn, và lập ra những giới hạn theo luật định về số lần mỗi phương tiện được sử dụng trước khi ngưng hoạt động. Tiếp tục đọc

Liệu SDGs có ảnh hưởng đến chính sách quốc gia? Một số bài học từ MDGs

ENGLISH: Will the SDGs influence domestic policy? Some lessons from the MDGs

Với thỏa thuận đạt được về Các Mục tiêu Phát triển Bền vững (Sustainable Development Goals – SGDs), câu hỏi lớn tiếp theo là: chính phủ các nước có sẵn sàng sử dụng các mục tiêu này hay không?

Mặc dù có nhiều năm kinh nghiệm thực hiện chương trình Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), thật ngạc nhiên chúng ta vẫn chỉ biết rất ít về việc làm thế nào chính phủ các nước thực sự sử dụng các mục tiêu ở khuôn khổ quốc tế này.

Các nước đã phản hồi như thế nào trước MDGs?

Một cuộc nghiên cứu định tính mới của chính phủ 5 nước tìm thấy rằng các nước sử dụng MDGs theo 3 cách sau:
• Các nước thiết lập một cơ quan mới để theo dõi tiến trình – ví dụ như, từ năm 2012 Nigeria đã triệu tập một hội đồng quý bao gồm hơn 25 thống đốc các bang, bộ trưởng và các quan chức chính phủ khác để theo dõi tiến trình của đất nước đối với chương trình MDGs;
• Một số nước, như Indonesia, tham khảo chương trình MDGs trong chiến lược phát triển quốc gia;
• Họ nhìn nhận chương trình MDGs như là một cơ hội để minh chứng sự lãnh đạo quốc tế – các nhà chính trị ở Mexico, ví dụ như, sử dụng chương trình này để cải thiện hồ sơ của nước họ trong khu vực.

Tuy nhiên, các nước phải mất lên đến 10 năm để chuyển chương trình MDGs thành những cam kết trong hiến pháp nội bộ – các nước thường đợi đến khi họ phải làm mới những mục tiêu hiện hành trong nước trước khi chuyển sang mục tiêu mới. Những nỗ lực do Liên Hiệp Quốc dẫn đầu, cụ thể là Khung đánh giá Pháp lý MDG thiết lập vào năm 2010, có thể hỗ trợ những hành động cuối cùng nhanh chóng.

Chương trình MDGs đã ảnh hưởng đến những ưu tiên và ngân sách của chính phủ?

Có- nhưng cụ thể ở những nước phụ thuộc nhiều vào viện trợ. Cuộc nghiên cứu thứ hai, dựa trên phân tích về Khảo sát Nỗ lực cải cách trong Dữ liệu về viện trợ (xem số liệu tại đây), cho thấy rằng các nhà làm chính sách ở hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập thấp hơn ở khu vực phụ cận của Châu phi Saharan, Đông Á và Thái Bình Dương, báo cáo rằng chương trình MDGs ảnh hưởng đến những ưu tiên về chính sách của họ.

Trong khi các nước nghèo hơn với mục tiêu đạt được điều kiện kèm theo gói viện trợ và thu hút nhiều viện trợ hơn, cuộc khảo sát cho thấy rằng chương trình MDGs ít gây ảnh hưởng ở các nước có thu nhập cao hoặc vừa. Những nước này thường sử dụng MDGs để làm mạnh thêm các ưu tiên hiện có, hơn là thay đổi chúng. Tiếp tục đọc

Tìm ra điểm sáng trong quyết định Keystone XL

English: Finding the Silver Pipelining in the Keystone XL Decision

“Dù cho Hilary Clinton có ý nói theo nghĩa này hay không, Hilary Clinton gọi đường ống Keystone XL là một “sự phân tâm” khỏi việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu – một thông điệp mà tổng Thống Obama lặp đi lặp lại khi giải thích cho quyết định từ chối của mình. Cho những ai trong chúng ta nhận ra nhu cầu bức thiết của việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và của việc đưa ra những lựa chọn khó khăn và phác thảo những chính sách rõ ràng để đưa đến những kết quả khả quan và cân bằng, thời gian, công sức và sự chú ý hướng đến Keystone XL đã thực sự là một sự phân tâm.”

Photo courtesy of rickz from https://www.flickr.com/photos/rickz/2113212191/in/photolist-4dJLmX-8AaSq8-4R2T6-ogvPnb-cHW8qL-9c4B2L-H8U2t-6YX1eb-6YWZVG-6YX1J7-4ZLHta-P4pxK-P3MCu-P4py8-P4ABV-P432S-P432b-P4ABR-P3Mgd-6YSZz2-axSvq-6hmrrn-P4ABK-5btKCU-BmhUs-9YT

Hôm nay Tổng thống Obama, sau 7 năm nghiên cứu và thảo luận, đã từ chối yêu cầu của TransCanada xin Giấy Phép của Tổng thống cho đường ống Keystone XL – một đường ống dài 1179 dặm được thiết kế để vận chuyển số lượng đến 830,000 thùng dầu một ngày sản xuất tại Canada đến một hệ thống ống dẫn tích hợp ở Mỹ. Mặc cho sự biểu tình phản đối của chính quyền Obama đối với sự kiện này, quyết định từ chối cấp giấy phép được đồn là đã được đưa ra một thời gian trước đây và quyết định công bố vào thời điểm hôm nay là một bước đi có tính toán để thắng chiếc ghế tổng thống và sự hỗ bổ sung của chính quyền từ cộng đồng môi trường trước khi đến Paris để dự các cuộc đàm phán về khí hậu của Liên Hiệp Quốc vào cuối tháng này. Tổng thống xác nhận rằng chấp thuận cho đường ống Keystone XL sẽ làm giảm vai trò của Mỹ với tư cách là nước đi tiên phong trong cuộc chiến khí hậu, khi trong thực tế quyết định này dường như có trọng lượng trong nước hơn là quốc tế. Thực sự, vai trò lãnh đạo của Mỹ trong cuộc chiến khí hậu được hỗ trợ mạnh mẽ hơn bởi các hoạt động Mỹ đã thực hiện như là một phần của Kế hoạch Hành động vì Khí hậu – Climate Action Plan. Tiếp tục đọc

Các Nguyên tắc Cơ bản về Vai trò của Luật sư

English version


Quyền Con Người Liên Hợp Quốc
(Văn phòng Cao uỷ về Quyền Con Người)

Các Nguyên tắc Cơ bản về Vai trò của Luật sư

Thông qua bởi Hội nghị Liên Hợp Quốc lần thứ 8 về Phòng Ngừa Tội phạm và Hành xử với Phạm nhân, tại Hanava, Cuba từ ngày 27 tháng 8 đến 7 tháng 9 năm 1990

Xét rằng trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, các dân tộc trên thế giới khẳng định, cùng những điều khác, quyết tâm để thiết lập những điều kiện để công lý có thể được duy trì, và tuyên bố như một trong những mục tiêu của họ là đạt được sự hợp tác quốc tế trong việc thúc đẩy và khuyến khích tôn trọng quyền con người và các tự do cơ bản không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo, Tiếp tục đọc

Cơ hội và thách thức cho ngành báo chí trong thời đại kỹ thuật số: Góc nhìn từ châu Á và châu Âu

ENGLISH: Opportunities and Challenges for Journalism in the Digital Age: Asian and European Perspectives

Trong khi thời đại kỹ thuật số đặt ra nhiều thách thức hệ trọng đối với các loại hình báo chí và tình hình tài chính của ngành báo, có rất nhiều tiềm năng để nâng cao sự hợp tác giữa các tổ chức truyền thông của châu Á và châu Âu, theo ông Gareth Price.

• Trong khi “Cái chết của những tờ báo giấy” đã được đoán trước từ lâu, các phương tiện truyền thông xã hội và internet đem lại cho ngành công nghiệp này những thách thức lớn; các mô hình truyền thống nhanh chóng trở nên thừa thãi. Cụ thể, báo giấy không còn là “người giữ cổng” của “lối vào” thông tin.

• Mặc dù báo giấy nằm trong những ngành công nghiệp đầu tiên nhận ra tầm quan trọng của internet, họ đã làm rất tệ trong việc kiếm lời từ độc giả trong thời đại kỹ thuật số. Thay vào đó, nhiều dòng doanh thu đã chuyển từ báo giấy về các công ty công nghệ thông tin và những đơn vị tổng hợp thông tin. Tiếp tục đọc

Tính đàn hồi của cơ sở hạ tầng đối với thảm họa

Engish: Infrastructure Resilience to Disasters

Kiến trúc hệ thống cơ sở hạ tầng mang tính đàn hồi sẽ đòi hỏi những nỗ lực phối hợp của các kỹ sư và các nhà khoa học xã hội.

Xã hội đô thị phụ thuộc nặng nề vào hoạt động hợp lý của hệ thống cơ sở hạ tầng như là hệ thống cung cấp điện, nước sạch, và hệ thống giao thông. Thường thì không thể thấy được, nhưng sự phụ thuộc này trở nên hiển nhiên một cách đau lòng khi hệ thống cơ sở hạ tầng sụp đổ trong các thảm hoạ. Hơn nữa, do tính hệ thống của cơ sở hạ tầng, thiệt hại ở một vị trí có thể gây gián đoạn dịch vụ trong một hệ thống rộng hơn về địa lý. Sự gián đoạn về mặt xã hội gây ra bởi sự sụp đổ cơ sở hạ tầng vì vậy cao một cách không tương xứng so với thiệt hại vật chất thực tế.

Các kỹ sư từ lâu đã cố gắng kiến trúc cơ sở hạ tầng để chịu đựng các lực cực mạnh, nhưng mới đây họ đã bắt đầu đặt ra nhu cầu về hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị có tính đàn hồi đối với thảm hoạ (ví dụ như NIST 2008). Về mặt khái niệm, tính đàn hồi liên quan đến ba khía cạnh có mối quan hệ mật thiết: xác suất sụp đổ thấp; hậu quả tiêu cực ít nghiêm trọng hơn khi xảy ra sụp đổ; và phục hồi nhanh hơn sau sụp đổ (Bruneau et al., 2003). Việc nhấn mạnh vào hậu quả và sự phục hồi gợi ý rằng cải thiện tính đàn hồi của hệ thống cơ sở hạ tầng không chỉ là vấn đề về kỹ thuật mà nó còn có khía cạnh xã hội. Tiếp tục đọc

Đánh giá tốt hơn về ô nhiễm thuỷ ngân trên thế giới

English: Better estimates of worldwide mercury pollution

Những phát hiện mới đây cho thấy Châu Á đã thải ra lượng thuỷ ngân gấp đôi so với số lượng đã được ước tính trước đây.

12 tháng 8 năm 2015 Jennifer Chu, MIT News

MIT- Khi thuỷ ngân bị thải vào bầu khí quyển từ những ống khói của các nhà máy sản xuất năng lượng, chất gây ô nhiễm này có một đường đi phức tạp; ngay cả sau khi thuỷ ngân tiếp đất và chìm dần xuống đại dương, thủy ngân vẫn có thể bị đưa ngược trở lại vào bầu khí quyển. Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng châu chấu”, nó làm cho chất cực độc này tuần hoàn như là “di sản các phát thải”, mà được kết hợp với những luồng thài mới từ các ống khói, điều này có thể kéo dài các tác động của thuỷ ngân lên môi trường đến nhiều thập kỷ.

Hiện tại, một nhóm nghiên cứu quốc tế dẫn đầu bởi các nhà nghiên cứu từ trường MIT đã thực hiện một phân tích mới đưa ra những ước tính chính xác hơn về nguồn thải thuỷ ngân trên khắp thế giới. Các cặp phân tích đo hàm lượng tập trung thuỷ ngân trong không khí với sự mô phỏng toàn cầu để tính tỉ lệ thuỷ ngân bị thải lại hoặc có nguồn gốc từ các nhà máy năng lượng và những hoạt động của con người. Kết quả của việc nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu cho biết, có thể cải thiện các ước tính về ô nhiễm thuỷ ngân, và giúp cải thiện các chiến dịch kiểm soát ô nhiễm trên toàn thế giới. Tiếp tục đọc

Bốn thử thách trong thực tế của dân chủ về môi trường

outdoor pollution
Ô nhiễm không khí ngoài trời gây ra cái chết của 3,7 triệu người ở độ tuổi dưới 60 trên toàn thế giới trong năm 2012. Ảnh: Leo Fung / Flickr.

Chỉ số Dân chủ về môi trường (Environmental Democracy Index – EDI) – đã được đưa ra hồi tháng 5 này – theo dõi các nước trong tiến trình ban hành luật quốc gia nhằm phát triển tính minh bạch, sự tham gia của công chúng và khả năng tiếp cận công lý của cộng đồng trong quá trình đưa quyết định về môi trường. Có bằng chứng cho thấy rằng các nhà làm luật quốc gia đang dần nhận ra tầm quan trọng của các quyền này. Lấy ví dụ, trong 102 điều luật về Quyền Thông tin trên thế giới, 42 điều luật đã được ban hành trong 10 năm qua. Tuy nhiên, có luật nghiêm chưa chắc đảm bảo rằng luật đó được tôn trọng trong thực tế. Tiếp tục đọc