Liệu SDGs có ảnh hưởng đến chính sách quốc gia? Một số bài học từ MDGs

ENGLISH: Will the SDGs influence domestic policy? Some lessons from the MDGs

Với thỏa thuận đạt được về Các Mục tiêu Phát triển Bền vững (Sustainable Development Goals – SGDs), câu hỏi lớn tiếp theo là: chính phủ các nước có sẵn sàng sử dụng các mục tiêu này hay không?

Mặc dù có nhiều năm kinh nghiệm thực hiện chương trình Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), thật ngạc nhiên chúng ta vẫn chỉ biết rất ít về việc làm thế nào chính phủ các nước thực sự sử dụng các mục tiêu ở khuôn khổ quốc tế này.

Các nước đã phản hồi như thế nào trước MDGs?

Một cuộc nghiên cứu định tính mới của chính phủ 5 nước tìm thấy rằng các nước sử dụng MDGs theo 3 cách sau:
• Các nước thiết lập một cơ quan mới để theo dõi tiến trình – ví dụ như, từ năm 2012 Nigeria đã triệu tập một hội đồng quý bao gồm hơn 25 thống đốc các bang, bộ trưởng và các quan chức chính phủ khác để theo dõi tiến trình của đất nước đối với chương trình MDGs;
• Một số nước, như Indonesia, tham khảo chương trình MDGs trong chiến lược phát triển quốc gia;
• Họ nhìn nhận chương trình MDGs như là một cơ hội để minh chứng sự lãnh đạo quốc tế – các nhà chính trị ở Mexico, ví dụ như, sử dụng chương trình này để cải thiện hồ sơ của nước họ trong khu vực.

Tuy nhiên, các nước phải mất lên đến 10 năm để chuyển chương trình MDGs thành những cam kết trong hiến pháp nội bộ – các nước thường đợi đến khi họ phải làm mới những mục tiêu hiện hành trong nước trước khi chuyển sang mục tiêu mới. Những nỗ lực do Liên Hiệp Quốc dẫn đầu, cụ thể là Khung đánh giá Pháp lý MDG thiết lập vào năm 2010, có thể hỗ trợ những hành động cuối cùng nhanh chóng.

Chương trình MDGs đã ảnh hưởng đến những ưu tiên và ngân sách của chính phủ?

Có- nhưng cụ thể ở những nước phụ thuộc nhiều vào viện trợ. Cuộc nghiên cứu thứ hai, dựa trên phân tích về Khảo sát Nỗ lực cải cách trong Dữ liệu về viện trợ (xem số liệu tại đây), cho thấy rằng các nhà làm chính sách ở hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập thấp hơn ở khu vực phụ cận của Châu phi Saharan, Đông Á và Thái Bình Dương, báo cáo rằng chương trình MDGs ảnh hưởng đến những ưu tiên về chính sách của họ.

Trong khi các nước nghèo hơn với mục tiêu đạt được điều kiện kèm theo gói viện trợ và thu hút nhiều viện trợ hơn, cuộc khảo sát cho thấy rằng chương trình MDGs ít gây ảnh hưởng ở các nước có thu nhập cao hoặc vừa. Những nước này thường sử dụng MDGs để làm mạnh thêm các ưu tiên hiện có, hơn là thay đổi chúng. Tiếp tục đọc “Liệu SDGs có ảnh hưởng đến chính sách quốc gia? Một số bài học từ MDGs”

Tìm ra điểm sáng trong quyết định Keystone XL

English: Finding the Silver Pipelining in the Keystone XL Decision

“Dù cho Hilary Clinton có ý nói theo nghĩa này hay không, Hilary Clinton gọi đường ống Keystone XL là một “sự phân tâm” khỏi việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu – một thông điệp mà tổng Thống Obama lặp đi lặp lại khi giải thích cho quyết định từ chối của mình. Cho những ai trong chúng ta nhận ra nhu cầu bức thiết của việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và của việc đưa ra những lựa chọn khó khăn và phác thảo những chính sách rõ ràng để đưa đến những kết quả khả quan và cân bằng, thời gian, công sức và sự chú ý hướng đến Keystone XL đã thực sự là một sự phân tâm.”

Photo courtesy of rickz from https://www.flickr.com/photos/rickz/2113212191/in/photolist-4dJLmX-8AaSq8-4R2T6-ogvPnb-cHW8qL-9c4B2L-H8U2t-6YX1eb-6YWZVG-6YX1J7-4ZLHta-P4pxK-P3MCu-P4py8-P4ABV-P432S-P432b-P4ABR-P3Mgd-6YSZz2-axSvq-6hmrrn-P4ABK-5btKCU-BmhUs-9YT

Hôm nay Tổng thống Obama, sau 7 năm nghiên cứu và thảo luận, đã từ chối yêu cầu của TransCanada xin Giấy Phép của Tổng thống cho đường ống Keystone XL – một đường ống dài 1179 dặm được thiết kế để vận chuyển số lượng đến 830,000 thùng dầu một ngày sản xuất tại Canada đến một hệ thống ống dẫn tích hợp ở Mỹ. Mặc cho sự biểu tình phản đối của chính quyền Obama đối với sự kiện này, quyết định từ chối cấp giấy phép được đồn là đã được đưa ra một thời gian trước đây và quyết định công bố vào thời điểm hôm nay là một bước đi có tính toán để thắng chiếc ghế tổng thống và sự hỗ bổ sung của chính quyền từ cộng đồng môi trường trước khi đến Paris để dự các cuộc đàm phán về khí hậu của Liên Hiệp Quốc vào cuối tháng này. Tổng thống xác nhận rằng chấp thuận cho đường ống Keystone XL sẽ làm giảm vai trò của Mỹ với tư cách là nước đi tiên phong trong cuộc chiến khí hậu, khi trong thực tế quyết định này dường như có trọng lượng trong nước hơn là quốc tế. Thực sự, vai trò lãnh đạo của Mỹ trong cuộc chiến khí hậu được hỗ trợ mạnh mẽ hơn bởi các hoạt động Mỹ đã thực hiện như là một phần của Kế hoạch Hành động vì Khí hậu – Climate Action Plan. Tiếp tục đọc “Tìm ra điểm sáng trong quyết định Keystone XL”

Các Nguyên tắc Cơ bản về Vai trò của Luật sư

English version


Quyền Con Người Liên Hợp Quốc
(Văn phòng Cao uỷ về Quyền Con Người)

Các Nguyên tắc Cơ bản về Vai trò của Luật sư

Thông qua bởi Hội nghị Liên Hợp Quốc lần thứ 8 về Phòng Ngừa Tội phạm và Hành xử với Phạm nhân, tại Hanava, Cuba từ ngày 27 tháng 8 đến 7 tháng 9 năm 1990

Xét rằng trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, các dân tộc trên thế giới khẳng định, cùng những điều khác, quyết tâm để thiết lập những điều kiện để công lý có thể được duy trì, và tuyên bố như một trong những mục tiêu của họ là đạt được sự hợp tác quốc tế trong việc thúc đẩy và khuyến khích tôn trọng quyền con người và các tự do cơ bản không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo, Tiếp tục đọc “Các Nguyên tắc Cơ bản về Vai trò của Luật sư”

Cơ hội và thách thức cho ngành báo chí trong thời đại kỹ thuật số: Góc nhìn từ châu Á và châu Âu

ENGLISH: Opportunities and Challenges for Journalism in the Digital Age: Asian and European Perspectives

Trong khi thời đại kỹ thuật số đặt ra nhiều thách thức hệ trọng đối với các loại hình báo chí và tình hình tài chính của ngành báo, có rất nhiều tiềm năng để nâng cao sự hợp tác giữa các tổ chức truyền thông của châu Á và châu Âu, theo ông Gareth Price.

• Trong khi “Cái chết của những tờ báo giấy” đã được đoán trước từ lâu, các phương tiện truyền thông xã hội và internet đem lại cho ngành công nghiệp này những thách thức lớn; các mô hình truyền thống nhanh chóng trở nên thừa thãi. Cụ thể, báo giấy không còn là “người giữ cổng” của “lối vào” thông tin.

• Mặc dù báo giấy nằm trong những ngành công nghiệp đầu tiên nhận ra tầm quan trọng của internet, họ đã làm rất tệ trong việc kiếm lời từ độc giả trong thời đại kỹ thuật số. Thay vào đó, nhiều dòng doanh thu đã chuyển từ báo giấy về các công ty công nghệ thông tin và những đơn vị tổng hợp thông tin. Tiếp tục đọc “Cơ hội và thách thức cho ngành báo chí trong thời đại kỹ thuật số: Góc nhìn từ châu Á và châu Âu”

Tính đàn hồi của cơ sở hạ tầng đối với thảm họa

Engish: Infrastructure Resilience to Disasters

Kiến trúc hệ thống cơ sở hạ tầng mang tính đàn hồi sẽ đòi hỏi những nỗ lực phối hợp của các kỹ sư và các nhà khoa học xã hội.

Xã hội đô thị phụ thuộc nặng nề vào hoạt động hợp lý của hệ thống cơ sở hạ tầng như là hệ thống cung cấp điện, nước sạch, và hệ thống giao thông. Thường thì không thể thấy được, nhưng sự phụ thuộc này trở nên hiển nhiên một cách đau lòng khi hệ thống cơ sở hạ tầng sụp đổ trong các thảm hoạ. Hơn nữa, do tính hệ thống của cơ sở hạ tầng, thiệt hại ở một vị trí có thể gây gián đoạn dịch vụ trong một hệ thống rộng hơn về địa lý. Sự gián đoạn về mặt xã hội gây ra bởi sự sụp đổ cơ sở hạ tầng vì vậy cao một cách không tương xứng so với thiệt hại vật chất thực tế.

Các kỹ sư từ lâu đã cố gắng kiến trúc cơ sở hạ tầng để chịu đựng các lực cực mạnh, nhưng mới đây họ đã bắt đầu đặt ra nhu cầu về hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị có tính đàn hồi đối với thảm hoạ (ví dụ như NIST 2008). Về mặt khái niệm, tính đàn hồi liên quan đến ba khía cạnh có mối quan hệ mật thiết: xác suất sụp đổ thấp; hậu quả tiêu cực ít nghiêm trọng hơn khi xảy ra sụp đổ; và phục hồi nhanh hơn sau sụp đổ (Bruneau et al., 2003). Việc nhấn mạnh vào hậu quả và sự phục hồi gợi ý rằng cải thiện tính đàn hồi của hệ thống cơ sở hạ tầng không chỉ là vấn đề về kỹ thuật mà nó còn có khía cạnh xã hội. Tiếp tục đọc “Tính đàn hồi của cơ sở hạ tầng đối với thảm họa”

Đánh giá tốt hơn về ô nhiễm thuỷ ngân trên thế giới

English: Better estimates of worldwide mercury pollution

Những phát hiện mới đây cho thấy Châu Á đã thải ra lượng thuỷ ngân gấp đôi so với số lượng đã được ước tính trước đây.

12 tháng 8 năm 2015 Jennifer Chu, MIT News

MIT- Khi thuỷ ngân bị thải vào bầu khí quyển từ những ống khói của các nhà máy sản xuất năng lượng, chất gây ô nhiễm này có một đường đi phức tạp; ngay cả sau khi thuỷ ngân tiếp đất và chìm dần xuống đại dương, thủy ngân vẫn có thể bị đưa ngược trở lại vào bầu khí quyển. Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng châu chấu”, nó làm cho chất cực độc này tuần hoàn như là “di sản các phát thải”, mà được kết hợp với những luồng thài mới từ các ống khói, điều này có thể kéo dài các tác động của thuỷ ngân lên môi trường đến nhiều thập kỷ.

Hiện tại, một nhóm nghiên cứu quốc tế dẫn đầu bởi các nhà nghiên cứu từ trường MIT đã thực hiện một phân tích mới đưa ra những ước tính chính xác hơn về nguồn thải thuỷ ngân trên khắp thế giới. Các cặp phân tích đo hàm lượng tập trung thuỷ ngân trong không khí với sự mô phỏng toàn cầu để tính tỉ lệ thuỷ ngân bị thải lại hoặc có nguồn gốc từ các nhà máy năng lượng và những hoạt động của con người. Kết quả của việc nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu cho biết, có thể cải thiện các ước tính về ô nhiễm thuỷ ngân, và giúp cải thiện các chiến dịch kiểm soát ô nhiễm trên toàn thế giới. Tiếp tục đọc “Đánh giá tốt hơn về ô nhiễm thuỷ ngân trên thế giới”

Bốn thử thách trong thực tế của dân chủ về môi trường

outdoor pollution
Ô nhiễm không khí ngoài trời gây ra cái chết của 3,7 triệu người ở độ tuổi dưới 60 trên toàn thế giới trong năm 2012. Ảnh: Leo Fung / Flickr.

Chỉ số Dân chủ về môi trường (Environmental Democracy Index – EDI) – đã được đưa ra hồi tháng 5 này – theo dõi các nước trong tiến trình ban hành luật quốc gia nhằm phát triển tính minh bạch, sự tham gia của công chúng và khả năng tiếp cận công lý của cộng đồng trong quá trình đưa quyết định về môi trường. Có bằng chứng cho thấy rằng các nhà làm luật quốc gia đang dần nhận ra tầm quan trọng của các quyền này. Lấy ví dụ, trong 102 điều luật về Quyền Thông tin trên thế giới, 42 điều luật đã được ban hành trong 10 năm qua. Tuy nhiên, có luật nghiêm chưa chắc đảm bảo rằng luật đó được tôn trọng trong thực tế. Tiếp tục đọc “Bốn thử thách trong thực tế của dân chủ về môi trường”