Bốn thử thách khi thực hiện dân chủ trong các vấn đề môi trường

outdoor pollution
Ô nhiễm không khí ngoài trời gây ra cái chết của 3,7 triệu người ở độ tuổi dưới 60 trên toàn thế giới trong năm 2012. Ảnh: Leo Fung / Flickr.

Chỉ số Dân chủ về môi trường (Environmental Democracy Index – EDI) – đã được đưa ra hồi tháng 5 này – theo dõi các nước trong tiến trình ban hành luật quốc gia nhằm phát triển tính minh bạch, sự tham gia của công chúng và khả năng tiếp cận công lý của cộng đồng trong quá trình đưa quyết định về môi trường. Có bằng chứng cho thấy rằng các nhà làm luật quốc gia đang dần nhận ra tầm quan trọng của các quyền này. Lấy ví dụ, trong 102 điều luật về Quyền Thông tin trên thế giới, 42 điều luật đã được ban hành trong 10 năm qua. Tuy nhiên, có luật nghiêm chưa chắc đảm bảo rằng luật đó được tôn trọng trong thực tế.

Để đo lường mức độ thực thi luật tốt của các nước, EDI bao gồm 24 tiêu chí thực tế bên cạnh 75 tiêu chí về pháp lý. Những tiêu chí thực tế này cho biết liệu chính phủ có theo dõi và công khai các dữ liệu về chất lượng môi trường, có phản hồi lại ý kiến của công chúng về những dự án lớn có ảnh hưởng đến môi trường và liệu công chúng có thể đòi hỏi chính phủ và những người gây ô nhiễm chịu trách nhiệm thông qua hệ thống toà án hay không.

Tuy các tiêu chí này vẫn chưa toàn diện, nhưng đã nhấn mạnh những lĩnh vực quan trọng mà thực tế chưa bắt kịp những tiêu chuẩn pháp lý. Trong 34 nước được chấm điểm “tốt” dựa theo các tiêu chí pháp lý, chỉ có 19 nước (56%) đạt điểm cao trong ít nhất một nửa các tiêu chí thực tế, với nước Mỹ có điểm cao nhất, có 20 trong 24 tiêu chí được thực hiện đầy đủ. Điều này cho thấy rằng ngay cả những nước với hệ thống pháp luật tiến bộ vẫn có thể làm nhiều hơn để thúc đẩy việc đi đến những quyết định mở có tính trách nhiệm và bao  quát về môi trường. Sau đây là 4 thách thức lớn được rút ra từ kết quả của các tiêu chí thực tế:

(1) Công chúng ít được tiếp cận với những thông tin về môi trường, ngay cả trong trường hợp luật pháp đòi hỏi việc chủ động công khai thông tin. Dữ liệu về chất lượng nước uống và không khí chỉ được công bố ở một nửa trong số 70 quốc gia được đánh giá. Dân cư ở thủ đô của 32 nước trong số 70 nước không được truy cập dữ liệu điện tử trên mạng về chất lượng không khí nơi thành phố họ ở, làm cho họ không thể chuẩn bị các biện pháp phòng tránh cần thiết nhằm bảo vệ sức khỏe gia đình. (Một dấu hiệu đầy hứa hẹn: từ khi thực hiện cuộc nghiên cứu này ở Canberra năm 2014, Úc đã đưa ra chỉ số về chất lượng không khí). Năm 2014, Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính trong năm 2012 ô nhiễm không khí ngoài trời gây ra cái chết của 3,7 triệu người ở độ tuổi dưới 60 trên toàn thế giới. Trong khi một số nước như Trung Quốc thu hút sự chú ý của truyền thông về nỗ lực trở nên minh bạch hơn về ô nhiễm và chất lượng không khí, kết quả chỉ số EDI cho thấy nhiều cư dân thành phố ở đây không thể có được thông tin này, và không có nó, cư dân có ít khả năng thúc đẩy nhằm kiểm soát ô nhiễm tốt hơn.

Thông tin về chất lượng nước uống ở các thủ đô này còn tệ hơn: chỉ có 32 nước EDI công khai thông tin này đến người dân thủ đô. 38 thành phố khác không cung cấp thông tin gồm các thành phố lớn như Bắc Kinh, Jakarta, Lagos, Lima và Kuala Lumpur. 7 trong số các thành phố này nằm ở các nước có điểm cao về chỉ số pháp lý liên quan đến công khai thông tin, cho thấy một khoảng cách rõ rệt giữa luật pháp và thi hành luật pháp. Giám sát và công khai thông tin về chất lượng nước uống phản ánh sự quản lý môi trường cơ bản tốt; sự minh bạch giúp các nhà cung cấp dịch vụ công cộng có trách nhiệm.

(2) Chính phủ nhiều nước không cung cấp thông tin về ô nhiễm từ các nhà khai thác cá nhân, ngay cả khi họ đã thu thập thông tin. Trong khi gần một nửa các nước EDI yêu cầu giám sát sự tuân thủ về môi trường của các cơ sở, như hầm mỏ hay nhà máy, 64% các nước không công khai thông tin này cho công chúng. Khi họ không được cung cấp thông tin về sức khoẻ môi trường một cách dễ hiểu và đúng lúc, họ không thể hành động kịp thời và có thể gặp rủi ro về sức khoẻ.

(3) Sự công khai thông tin về đánh giá tác động môi trường (Environmental impact assessment EIA) của các dự án hay kế hoạch đang xét duyệt hạn chế. Tất cả trừ 9 nước công khai ít nhất một vài thông tin này đến công chúng, nhưng chỉ có 23 nước (33%) thực hiện điều này một cách nhất quán và đáng tin cậy. Vì đánh giá EIAs là cơ hội duy nhất mà dân chúng có thể dùng ở một số nước để gây ảnh hưởng lên quyết định có tác động đến môi trường, nên sự minh bạch về đánh giá này là rất quan trọng để tạo nên tính trách nhiệm. Ở nhiều nước, người dân sử dụng kết quả của quy trình đánh giá EIA để ngăn chặn các dự án đe doạ hệ sinh thái và môi trường sống.

(4) Ở phần lớn các nước được đánh giá, Toà án đang lắng nghe những trường hợp có sự quan tâm của công chúng về môi trường, đây là điều tốt, nhưng nhiều trở ngại khác vẫn tồn tại. Trong 5 năm qua, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) ở 66% các nước tham gia đã thách thức các chính phủ và những người gây ô nhiễm trước toà. Nếu không có vị thế pháp lý, các tổ chức vì lợi ích cộng đồng bị hạn chế về phương tiện làm thay đổi các quyết định hoặc tìm kiếm công lý hoặc bồi thường. Nhưng đạt được vị thế pháp lý mới chỉ là bước đầu. Các cá nhân hay tập thể có thể phải đối diện những rào cản về tài chính hay xã hội trên đường tìm kiếm công lý. Toà án có thể không độc lập hay công bằng, làm cho dân chúng mất niềm tin vào hệ thống tư pháp. Tuy nhiên, kết quả EDI cũng cho thấy trong 44 nước (63%), toà án đã tạm thời cấm – hoặc cấm hoàn toàn – các hoạt động có thể đe doạ đến môi trường.

Như các ví dụ trên cho thấy, mặc dù khuyến khích mở rộng nền dân chủ về môi trường trên thế giới, vẫn còn nhiều nơi luật môi trường không được toàn diện hoặc thực hiện đầy đủ. Chỉ số EDI có thể hỗ trợ đối thoại quốc gia về cải thiện việc thực thi và tuân theo pháp luật nhằm phát triển tốt hơn sự giám sát về môi trường. Tiêu chí này cũng nêu bật những nước thực hiện tốt, xem như nguồn lực cho những nước theo sau và ủng hộ. Trong bước tiếp theo của EDI, Viện Tài nguyên thế giới (WRI) dự định mở rộng và cải thiện các tiêu chí thực tế để đánh giá cách đầy đủ hơn tính minh bạch, sự tham gia của công chúng và sự tiếp cận công lý. Khi biết được nơi nào các tiêu chí thực tế không theo kịp tiêu chuẩn pháp lý, các nhà làm luật có thể thúc đẩy hiệu quả hơn việc đưa ra quyết sách về môi trường cởi mở, bao quát, và có trách nhiệm. 

Dịch từ World Resource Institute bởi Ngọc Hợp, sinh viên Thạc sĩ ngành Kinh tế Môi trường, Canada.

4 Real-World Challenges to Environmental Democracy

The Environmental Democracy Index (EDI)which launched this May—tracks countries’ progress in enacting national laws to promote transparency, public engagement and access to justice in environmental decision-making. There is evidence that national policymakers are increasingly recognizing the importance of these rights. As an example, of the 102 Right to Information laws around the world, 42 were enacted in the past 10 years. However, having strong laws does not always guarantee those standards are upheld in practice.

To better capture how well countries are implementing the law, EDI includes 24 practice indicators in addition to its 75 legal indicators. These practice indicators reveal whether governments are monitoring and disclosing environmental quality data, responding to public comments on major projects with environmental impact and whether the public can hold governments or polluters to account through the court system.

While these indicators are not yet comprehensive, they highlight critical areas where practice is not living up to legal standards. Of the 34 countries that scored “well” overall on the legal indicators, only 19 (56 percent) scored high on at least half of their practice indicators, with the highest scoring country, the United States, having 20 of 24 practices observed in full. This suggests that even countries with advanced laws can do more to promote open, inclusive and accountable decision-making for the environment. Here are four big challenges from the practice indicator results:

  1. Public access to environmental information is still lacking,even in cases where the law requires proactive information disclosure. Air and drinking water quality data is only publicly available in roughly half the 70 countries assessed. Residents in capital cities of 32 of the 70 countries have no access to air quality data online for their city—leaving them unprepared to take necessary precautions to protect the health of their families. (One promising sign: since the study period in 2014, Canberra, Australia launched an air quality index.) In 2014, the World Health Organization (WHO) estimated outdoor air pollution caused the deaths of 3.7 million people under the age of 60 worldwide in 2012. While some countries like China have earned media attention for efforts to be more transparent about air quality and pollution, EDI results show that many city residents can’t get this information, and without it, urban dwellers are less likely to push for better pollution control.

Information on drinking water quality for capital cities was even worse: only 32 EDI countries provide this information to capital city residents. The 38 capital cities that are not making this information available include megacities such as Beijing, Jakarta, Lagos, Lima and Kuala Lumpur. Seven of these cities are in countries that scored high on legal requirements for information disclosure, showing a clear gap between law and practice. Monitoring and disclosing drinking water quality information is basic good environmental governance; transparency helps the public hold service providers accountable.

  1. Many governments don’t release pollution information from individual operators,even if they collect it. While nearly half the EDI countries require monitoring of environmental compliance of facilities, such as mines or factories, 64 percent did not make this information available to the public. When communities lack timely, understandable environmental health information, they are unlikely to act and may put their wellbeing at risk.
  2. Public disclosure of environmental impact assessments (EIA) for proposed projects or plans is limited. All but nine countries make at least some EIAs available to the public, but only 23 (33 percent) do this consistently and reliably. Since EIAs are the only opportunity in some countries for the public to influence decisions with environmental impacts, their transparency is important to enable accountability. In many countries, citizens use the outcomes of EIA processes to challenge projects which threaten ecosystems or livelihoods.
  3. In the majority of countries assessed, courts are hearing public interest environmental cases — and this is a good thing – but other obstacles remain. In the past five years, NGOs in 66 percent of the assessed countries have challenged polluters or the government in court. Without judicial standing, public interest organizations have limited means to challenge decisions or seek justice or redress. But achieving standing is only a first step. Individuals or groups may face financial or social barriers to seeking justice. Courts may not be independent or impartial, leading to public distrust of the judicial system. However, EDI results also show that in 44 countries (63 percent), courts have temporarily blocked — or outright prohibited —activities that may be threatening the environment.

As the examples above show, despite the encouraging expansion of environmental democracy around the world, there are still areas where environmental laws are not being properly or fully implemented. EDI can support national dialogues on improving the implementation and enforcement of laws that promote better environmental governance. It can also highlight countries that do well, serving as a resource for practitioners and advocates. In EDI’s next iteration, WRI plans to expand and improve upon the practice indicators to more fully evaluate transparency, public participation and access to justice. When they know where practice is not living up to legal standards, policymakers can more effectively promote open, inclusive and accountable decision-making for the environment.

1 bình luận về “Bốn thử thách khi thực hiện dân chủ trong các vấn đề môi trường

  1. Em thấy ở đây WRI và tác giả muốn thúc đẩy sự minh bạch (transparency) đúng đắn trong cung cấp thông tin về môi trường đặc biệt là các vấn đề ô nhiễm và liên quan đến sức khỏe và tính mạng của người dân. Điều này để người dân có thể tham gia vào các quyết định và dự án có tác động lớn tới môi trường như là điện nguyên tử, khai tác khoáng sản, nguồn nước….

    Tuy nhiên có cảm tưởng là khái niệm “Dân chủ về môi trường” có lẽ chưa được ưa chuộng ở Việt Nam

    Đã thích bởi 1 người

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s