Nguyễn Cung Thông (1)
Phần này bàn về một số cách dùng như bề tràng, bề ngang, nói khoét, nói hoặc, xác mấy, đi xa xác … từ TK 17.
Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm hay Hán Việt cùng thời.
Ngoài ra, một số từ Hán Việt thời này đã có chức năng rộng hơn hay được dùng một cách tự do hơn (free morpheme/A ~ hình vị tự do) như tràng, hoặc, quốc, tiểu, trở, thậm, vô (và dạng cổ hơn là mựa), cùng…
Một số trường hợp rất khó nhận ra dạng Hán Việt vào TK 17 vì là âm cổ như mựa, âm cổ hơn của vô 無 ~ không, chẳng, hay nghỉ là âm cổ của y 伊 là đại từ nhân xưng ~ hắn, gã, khứng là âm cổ hơn của khẳng 肯 ~ đồng ý, muốn…
Đây là không kể đến một số từ Hán Việt dùng với nghĩa khác hơn ngày nay: td. giao cảm(2) 交感 là giao cấu/ăn nằm trai gái với nhau, khốn nạn(3) 困難 là bần cùng, cực khổ đáng thương, đã nhản tiền 眼前 (nhản thanh hỏi/VBL) ~ đã thấy…
Phần sau bàn thêm về các dạng âm cổ cùng một số biến âm của tràng – trường – trưởng, khoát –hoát – khoét – phét – phách – khoác, hoặc/quốc – vực – nực – nứt – nấc – bậc – nước – úc, *khác – xác – chắc – rạc trong quá trình hình thành tiếng Việt hiện đại.
Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là các tài liệu chép tay của LM Philiphê Bỉnh (sđd – xem chi tiết trong mục Tài liệu tham khảo chính – trưởng và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN in năm 1651), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC in năm 1651) trong phần đầu của từ điển Việt Bồ La (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL in năm 1651) có thể tra tự điển này trên mạng như http://books.google.fr/books?id=uG`hkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), ĐNA (Đông Nam Á), LM (Linh Mục), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chánh Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chánh Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), (Việt Nam Tự Điển/Hội Khai Trí Tiến Đức 1931), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị 1895) …v.v…
Kí viết là ký (tên người, tên sách) và trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (td. có gốc Việt cổ hay Hán cổ).
(1) Nhà nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne (Úc) – email nguyencungthong@gmail.com
(2) Giao cảm thời Đường có nghĩa là cảm ứng lẫn nhau, td. Hàn Dũ 韓愈 (768-824) từng viết “Ngũ khí tự hành, vạn vị thuận thành, giao cảm bàng sướng, thánh hiền dĩ sanh 五氣敘行, 萬彙順成, 交感旁暢, 聖賢以生 ” (Tế Đổng tướng công văn 祭董相公文) – tạm dịch/NCT: năm loại năng lượng theo thứ tự, mọi sự đều hoàn tất, giao cảm thông suốt, thánh hiền ra đời. Tuy nhiên, một nét nghĩa mở rộng, phàm tục hơn (rất ‘cụ thể’) phát sinh sau này để chỉ giao cấu/ân ái nam nữ: td. tác giả Lăng Mông Sơ (1580-1644) từng viết trong Sơ khắc phách án kinh kì quyển thập thất “Thử hậu hoảng hoảng hốt hốt, hợp nhãn tựu mộng kiến Ngô thị lai dữ tha giao cảm 此後恍恍惚惚, 合眼就夢見吳氏來與他交感” – tạm dịch/NCT: sau đó, trong cơn mộng ảo ông ta thấy bà Ngô đến cùng ân ái nhau. Một điểm đáng nhắc lại ở đây là cách dùng giao cảm phản ánh giao lưu ngôn ngữ văn hóa với Trung Hoa vào TK 16 và 17, cũng như các cách dù Nghng phạn so với phạm như làm phúc làm phạn, Tịnh Phạn Vương, lịch sự, Phổ Kiến so với Phúc Kiến trong VBL; tham khảo thêm loạt bài viết “Những đợt sóng giao lưu ngôn ngữ Việt-Trung qua con đường tôn giáo” cùng tác giả (NCT, 2014), trên trang này chẳng hạn http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ngon-ngu-hoc/291-en-category/conference/literature,-buddhism/5149-nhng-t-song-giao-lu-ngon-ng-vit-trung-qua-con-ng-pht-giao-am-han-vit-phm-hay-phn-phn-11.html …v.v…
(3) Khốn nạn HV hàm ý cực khổ đáng thương (heu miſellule, verba compatientis/L VBL trang 374) – không có nghĩa tiêu cực như tiếng Việt hiện đại hàm ý đáng ghét!
Click vào đây để đọc tiếp file Word Tiếng Việt từ TK 17 – p37BTải về
Click vào đây để đọc tiếp file PDF Tiếng Việt từ TK 17 – p37BTải về