Gia Định Thành Thông Chí – Trịnh Hoài Đức

Gia Định Thành Thông Chí – Giới thiệu

Gia Định Thành Thông Chí – Mục lục

Gia Định Thành Thông Chí – Quyển 1

Gia Định Thành Thông Chí – Quyển 2A

Gia Định Thành Thông Chí – Quyển 2B

Gia Định Thành Thông Chí – Quyển 3

Gia Định Thành Thông Chí – Quyển 4

Gia Định Thành Thông Chí – Quyển 5

Gia Định Thành Thông Chí – Quyển 6

 

Advertisements

Ngôi trường trong mơ của làng Ca Dong trên núi

VNE – Thứ sáu, 13/4/2018, 00:08 (GMT+7)

Gần nửa năm sau bão Damrey, nhiều gia đình trên những dãy núi ở Nam Trà My, Quảng Nam vẫn đang gắng gượng làm lại cuộc sống.

Con bé Mộc Lan ba tháng tuổi, đã nằm chết trên lưng ba.

Anh Ngọ cõng cái xác con bé đội mưa xuống huyện. Anh cùng mấy người dân quân khiêng con bé lớn Chi Nhược và người vợ đang hấp hối, đi dọc con đường đã bị đất đá vùi lấp để xuống bệnh viện. Mưa lớn quá, có người thương hai ba con lấy ô ra che. “Con chết rồi, che làm chi nữa” – sau này người ta kể, anh kêu lên ai oán.

Continue reading “Ngôi trường trong mơ của làng Ca Dong trên núi”

Tục vác kiếm

Bản sắc không phải là điều gì quá to tát lớn lao như những mỹ từ trước nay người ta từng ca ngợi: “hiền lành, giản dị, thuần nông, yêu hòa bình, 4000 năm lịch sử…”, mà nó đơn giản bắt nguồn từ những chi tiết văn hóa nhỏ nhất, từ những thói quen thường nhật nhất. Nhưng những thói quen, lệ tục tưởng như nhỏ nhặt, rất đỗi bình thường đó tồn tại qua các thời đại – bất kể là nét văn hóa đó học từ Tàu hay do ta sáng tạo ra – thế nên chúng luôn nhất quán qua các thời kỳ triều đại trong lịch sử, thống nhất cho đại bộ phận dân chúng, đặc trưng khi so sánh tổng quan với các quốc gia khác, và chính chúng đã tạo nên nền tảng cho văn hóa Việt. Continue reading “Tục vác kiếm”

Lịch sử trang phục và mũ nón Việt Nam

CÁC KIỂU TRANG PHỤC TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Là một nghệ sĩ có niềm đam mê to lớn dành cho văn hóa Á Đông, đặc biệt là Việt Nam, Nancy Dương đã dùng kỹ thuật số hiện đại để thổi sức sống mới vào các giá trị truyền thống của người Việt.

Nancy Dương chia sẻ, cô rất yêu thích trang phục lịch sử Việt Nam và muốn được quan sát quá trình tiến hóa của chúng qua từng giai đoạn. Với các tác phẩm đồ họa theo dạng timeline, cô đã giúp người xem có một cảm nhận trực quan về sự tiến hóa này qua việc đối chiếu các mẫu trang phục được đặt nối tiếp nhau theo các cột mốc thời gian.

Những hình ảnh được tái hiện dựa trên việc tham khảo các tư liệu lịch sử như tranh, tượng cổ, những bức ảnh thời xưa, thông qua internet và một ấn phẩm có tên “Đi tìm trang phục Việt” của các nhà sản xuất phim. Continue reading “Lịch sử trang phục và mũ nón Việt Nam”

Dệt nên triều đại – khôi phục văn hóa cung đình đã phôi phai

Weaving a realm (Dệt nên triều đại) – a teaser by Vietnam Centre

Tái hiện Lễ sắc phong Hoàng thái hậu thời Lê sơ

***
31/12/2017 16:08 GMT+7 TTOChiều 30-12, tại Hà Nội, nhóm Vietnam Centre đã ra mắt dự án Dệt nên triều đại với phần trình diễn trang phục và tái dựng nghi lễ sắc phong hoàng thái hậu thời Hậu Lê. Continue reading “Dệt nên triều đại – khôi phục văn hóa cung đình đã phôi phai”

Bổ tử Việt Nam tại bảo tàng Penn

Các bổ tử Đàng Trong sau cải cách của Võ Vương Phúc Khoát (1744) hoặc thời Nguyễn (đến 1911) tại bảo tàng Penn- Mỹ.

Bổ tử là miếng vải vuông thêu hình chim thú để phân biệt cấp bậc mà các quan từ thời Lê Sơ đến Nguyễn đính trên ngực và lưng quan phục ngày thường. Quan võ thêu hình thú, quan văn thêu hình chim chóc. Theo thông tin của bảo tàng, bổ tử VN khác bổ tử nhà Thanh cùng thời ở việc dùng vải đoạn làm nền.

La folie des grandeurs

vietnamnews Update: May, 06/2018 – 09:00
Painting of West Lake by Hanoi-based artist George Burchett.

by George Burchett*

Around the time Admiral Charles Rigault de Genouilly (1807-1873), under the orders of Emperor Napoleon III, fired the first canon shots of the Cochinchina campaign (1858-1862) to lay claim to what would become France’s colony of Indochina, Paris embarked on an epic renovation project directed by Baron Georges-Eugène Haussmann, also under the Emperor’s orders. The plan was to modernise Paris and get rid of insalubrious slums – breeding ground for diseases as well as popular discontent.  No doubt rich plunder from the colonies helped fund this – largely successful – imperial enterprise. Continue reading “La folie des grandeurs”

Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5B)

Nguyễn Cung Thông[1]

>> Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5A)

Phần này bàn về tiếng Việt dùng trong Kinh Lạy Cha (KLC) qua các văn bản từ thời bình minh của chữ quốc ngữ. Tiếp theo bài viết 5A, bài 5B sẽ ghi nhận thêm các dữ kiện nhìn KLC từ các lăng kính khác nhau, hi vọng người đọc sẽ thấy thích thú và tìm hiểu sâu xa hơn.


Chúng ta đang ở đây (ở trên trái đất, trong hệ mặt trời hay chỉ là một chấm nhỏ ở đầu mũi tên này). Hình trên cho thấy hệ mặt trời nằm trong dãi Ngân Hà có trung tâm là vùng sáng ở giữa (chùm sao Saggitarius). Continue reading “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5B)”

Nữ du kích Bảy Mô

TĐH: Tình cờ hôm nay mình mới biết câu chuyện của nữ du kích Bảy Mô trên mạng. Có lẽ nhiều bạn đã biết rồi. Mình vốn đã khâm phục các nữ chiến binh. Câu chuyện đậm tình người lại làm mình thêm cảm động. Thêm vào đó nữ anh hùng này sau khi ra khỏi quân đội thì về sống cực khổ ở Tây Ninh, quê vợ của mình. Và Củ Chi là huyện rìa của Sài Gòn, cách nhà mình không xa. Mọi địa danh đều rất quen thuộc. Cuốn sách “The Tunnel of Cu Chi” nhắc đến người nữ du kích này là một cuốn sách về Chiến tranh Việt Mỹ rất nổi tiếng ở Mỹ.

Câu chuyện này còn nói lên một điểm lịch sử và chiến lược quan trọng: Những chiến binh du kích ở Miền Nam, sinh ra, lớn lên và chiến đấu như là cuộc sống tự nhiên – đời cha chiến đấu chống Pháp, đời con chiến đấu chống Mỹ. Chẳng ai bắt vào lính, chẳng ai tuyển mộ, chẳng ai bắt làm gì cả. Lớn lên là tự động chiến đấu như hít thở. Đây chính là điều các chiến lược gia Mỹ và VNCH chẳng hề biết. Đi lính như một nghĩa vụ phải làm là một chuyện. Tự nhiên mà chiến đấu, là chiến binh mà không “đi lính”, là một chuyện khác — chiến đấu tự nhiên như hít thở của cuộc sống, đó là nguồn sức mạnh vượt trên cả phi thường, đứng trên phương diện chiến lược mà nói.

Dưới đây là một clip về câu chuyện Bảy Mô, một series 3 clips nói chuyện với Bảy Mô, một clip về các nữ du kích Củ Chi (bây giờ đã là bà nội bà ngoại), và một bài báo.

Nữ Anh Hùng VN Siêu Đẳng Có Tấm Lòng Bồ Tát Tha Mạng Cho Lính Mỹ Vì Họ Khóc Khoe Ảnh Vợ Con

Continue reading “Nữ du kích Bảy Mô”

​Vietnamese movie wins Best Asian Film at int’l film festival in Iran

The movie about a father’s journey to take his son to hospital touched judges’ hearts at the festival

By Tuan Son / Tuoi Tre News Saturday, April 28, 2018, 14:02 GMT+7

Vietnamese director Luong Dinh Dung (R) poses for a photo with Reza Mirkarimi, director of the 36th Fajr International Film Festival in Tehran, Iran, April 27, 2018.

Vietnamese independent movie Cha Cõng Con (Father and Son) has won Best Asian Film at the 36th annual Fajr International Film Festival that concluded on Friday in Iran.

The movie, directed by Luong Dinh Dung, was among 15 entries from 13 countries shortlisted for the festival’s Eastern Vista Awards, which recognizes films from Asian and Islamic countries.

The five-member board of judges, headed by three-time Oscar-winning American director Oliver Stone, praised the Vietnamese movie for the simplicity and homeliness in its narrative that stood out from the remaining award contenders. Continue reading “​Vietnamese movie wins Best Asian Film at int’l film festival in Iran”

EU – Vietnam: launching the first Viet – Mong bilingual supplementary materials for ethnic minority children in Lai Chau

aide-et-action – Lai Chau, December 9th, 2016 – Aide et Action Vietnam and its partner CISDOMA, has launched an initiative on the supplementary materials in Mong and Vietnamese languages for preschool and primary school (5 years old – 8 years old) in Tam Duong district, Lai Chau province. The Mother-Tongue Bilingual Based Education (MTBBE) approach uses Mong as the bilingual language of instruction, along with Vietnamese.

The materials cover 5 topics: gender equality, life skills, disaster preparedness, child rights, local culture and customs which will be mainstreamed into the daily classes at school. The development of the supplementary bilingual material is one of the key activities of the project “Promoting inclusive and relevant early childhood care and education for ethnic minority and disadvantaged children in Vietnam,” funded by the European Union, aiming at helping ethnic minority children overcomes the language barrier and enabling them to read and write in their mother tongue to preserve their culture first, and then transfer these skills to learning Vietnamese.

Cuộc vượt biên của những đứa trẻ bỏ trường

VNE – Thứ ba, 21/11/2017 | 00:00 GMT+7

Không nhìn thấy tương lai trong những trang sách, nhiều học sinh vùng cao đi thẳng từ lớp học đến biên giới. Chúng trở thành những lao động bất hợp pháp.

Bữa cơm đầu tiên ở bên kia biên giới của Sùng Mí Tú là cái bánh bao nhân thịt với chai nước trắng.

Tú 15 tuổi, nhỏ nhất trong nhóm người Mông xã Sà Phìn vượt biên sang Trung Quốc làm thuê. Mỗi ngày, em nhận được 80 nhân dân tệ cho công đào 160 hố trồng cây bạch đàn.

Tú không biết mình đang ở vùng nào của Trung Quốc, địa hình xung quanh ra sao. 10 người trú ở cái lán nằm sâu trong rừng. Ban đêm, họ rủ nhau đi ngủ sớm. Không ai dám đi quá khu lán một cây số vì sợ lạc đường, hoặc công an biên phòng Trung Quốc truy quét. Bị bắt rồi thì trả về nước, tiền công cũng mất hết.

Vài suy nghĩ về thời gian trong văn hoá

Nguyễn Cung Thông[1]

 

Có bao giờ bạn đi đám cưới mà phải chờ cả giờ đồng hồ trước khi bữa tiệc bắt đầu? Vấn đề này trở nên đáng quan tâm hơn nếu là giờ họp để bàn luận về công ăn việc làm, và có thể ảnh hưởng đến tương lai của một cộng đồng rộng lớn hơn. Quá trình thay đổi tư duy/thói quen như làm việc đúng giờ cần nhiều thời gian và trải nghiệm cá nhân, nhất là lồng trong một truyền thống văn hoá đã có từ lâu đời. Tuy gặp nhiều thử thách trong đời sống hàng ngày (ngôn ngữ, khác biệt chủng tộc và văn hoá, nghề nghiệp …), người viết (NCT) đã có cơ hội trải qua hai nên văn hoá Việt Nam (truyền thống Á Đông) và Úc (truyền thống Tây phương). Vấn đề thời gian lại càng nổi bật trong các hoạt động thuộc lãnh vực khoa học và kỹ thuật, có khi là yếu tố chính quyết định sự thành công hay không – xem giản đồ ba-góc Lewis ở phần dưới. Bài viết nhỏ này ghi lại vài suy nghĩ về hiện tượng ‘giờ dây thun[2]’ (giờ cao su) này với hi vọng bạn đọc có cơ hội suy ngẫm thêm về những lý do sâu xa hơn[3]. Từ đó đưa đến quyết định tích cực về quá trình quản lý thời gian, có lợi cho cá nhân và xã hội hơn nữa. Để cho liên tục, bạn đọc nên tham khảo thêm bài viết “Tản mạn về từ Hán Việt thời – thì” của cùng tác giả (NCT – 2012), có thể đọc toàn bài trên trang này chẳng hạn http://chimviet.free.fr/ngonngu/Angonngu.htm …v.v… Một số cách dùng được dịch ra tiếng Anh hay Pháp vì không có trong vốn từ Việt trước đây, hay chúng chỉ nhập vào ngữ vựng của toàn dân gần đây mà thôi. Một số chữ viết tắt trong bài là VN (Việt Nam), NCT (Nguyễn Cung Thông), TQ (Trung Quốc).

_______

[1] Nghiên cứu tiếng Việt độc lập ở Melbourne (Úc). Địa chỉ email nguyencungthong@yahoo.com

[2] Không nên nhầm ‘giờ dây thun’ với cảm nhận chủ quan của từng cá nhân về thời gian có lúc qua nhanh có lúc đi chậm lại. Thí dụ khi còn bé, thường phải tìm hiểu nhiều hơn qua các trải nghiệm mới lạ, nên bộ não chúng ta cần thời gian để xử lý nhiều thông tin và thời gian có vẻ trôi qua chậm hơn. Tuy nhiên, khi đã lớn và nhất là khi về già thì môi trường chung quanh trở nên quen thuộc hơn, số lượng thông tin mà bộ não tiếp nhận không nhiều và thời gian xử lý vì vậy nhanh hơn. Nhớ rằng đồng hồ ở ngoài ta vẫn hoạt động đều đặn và thời gian hoàn toàn giống y nhau. Thí dụ như khi chúng ta đi tìm một địa chỉ, khi đến tìm luôn cho cảm giác là mất thời gian hơn so với lúc về – dù là cùng một lộ trình và phương tiện di chuyển.

[3] Ngay từ thời LM Alexandre de Rhodes (1591-1660), ông đã nhận thấy là một giờ của Á Đông là bằng hai giờ Âu Châu (cũng là giờ theo cách hiểu hiên nay). Trong Phép Giảng Tám Ngày, ông viết “Mà lại nhật thực ấy một giờ rưỡi làm tối mặt trời” trang 229. Vào thời ấy, LM Girolamo Maiorica (1591-1656) cũng cùng một nhận xét “ba mươi ba giờ nước người. Chẳng phải giờ An Nam vì nước này lấy hai giờ nước người làm một” Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông trang 53, 161.

Đọc tiếp toàn bài >>

Nhà văn Nguyên Ngọc: Báo động ở Hội An

NĐT  07:15 | Thứ bảy, 07/04/2018

LTS: “Ký ức Hội An” là một chương trình “nghệ thuật thực cảnh” vừa ra mắt tại sân khấu mới được dựng lên ở cồn nổi trên dòng sông Hoài. Ngoài những phản ứng của dư luận về vở diễn thì dự án xây dựng – nơi đặt sân khấu lại gây bức xúc và lo ngại khác- một cồn nổi đẹp của Hội An, Quảng Nam thành những khối bêtông xám xịt. Bài viết dưới đây của nhà văn Nguyên Ngọc, lên tiếng cảnh báo về một thảm họa văn hóa cho thành phố này, và chắc chắn không chỉ dừng lại ở văn hóa.

Toàn cảnh không gian diễn ra“ Ký ức Hội An” tại Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An (Ảnh cắt từ trailer).

Tôi bắt chước anh Nguyễn Sự – nguyên Bí thư Thành ủy Hội An. Anh Sự được mời đi dự ra mắt chương trình hoành tráng “Ký ức Hội An’’, anh từ chối.

Ở cương vị anh và lại ở ngay Hội An, ai cũng có thể hiểu cử chỉ đó của anh, mặc dầu anh đã về hưu, là một thái độ rõ ràng, dứt khoát. Nhưng mấy hôm sau anh lặng lẽ mua vé, hai vợ chồng cùng đi xem, “để cho biết họ thật sự làm gì ở đấy, rồi mình có nói gì mới có căn cứ mà nói chớ’’, anh bảo. Continue reading “Nhà văn Nguyên Ngọc: Báo động ở Hội An”