Cà Mau mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 20.000 ha

DT Nuôi tôm sinh thái kết hợp với bảo vệ rừng được tỉnh Cà Mau phấn đấu mở rộng diện tích lên đến 20 ngàn ha trong năm 2020.

Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh. 
Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh. 

Rừng và tôm

ĐBSCL, tháng 5 nắng nóng oi bức, chúng tôi lặn lội về vùng nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ở huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) được chứng kiến cuộc chuyển đổi tư duy ở đây. Đến nơi đây, cái nắng nóng đã dịu hẳn đi khi chúng tôi ẩn mình vào trong những cánh rừng đang nuôi tôm sinh thái và được nghe những câu chuyện thành công trong cuộc chuyển đổi này.

Tiếp tục đọc “Cà Mau mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 20.000 ha”

Nông nghiệp, nông thôn bị lợi dụng, cày xới như thế nào? – 8 kỳ (Chuỗi bài đang cập nhập)

***

Nông nghiệp, nông thôn bị lợi dụng, cày xới như thế nào?

Điện mặt trời áp mái nhà như một ‘cơn lốc’ tràn qua khắp các vùng nông nghiệp, nông thôn Nam Trung bộ và Tây Nguyên, chiếm đất sản xuất và gây nhiều hệ lụy…

Dự án điện mặt trời áp mái trang trại: Chưa được phê duyệt vẫn xây dựng

Đầu năm 2020, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam, gần như ngay lập tức, các nhà đầu tư khắp cả nước, như nằm chờ sẵn, chui lên từ đất lên, đồng loạt xuất hiện ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên, biến nhiều diện tích đất chăn nuôi, trồng trọt, trang trại, thủy sản, thủy lợi, nông thôn… thành những dự án điện mặt trời và bằng mọi giá hoàn thành công trình, thực hiện mua bán điện với giá cực kỳ ưu đãi của Chính phủ mang lại hiệu quả, lợi nhuận lớn cho nhà đầu tư. Nhưng đổi lại các dự án điện mặt trời cũng tàn phá khủng khiếp các vùng sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Nhóm phóng viên Báo Nông nghiệp Việt Nam đã đi sâu tìm hiểu vạch trần những chiêu trò núp bóng nông nghiệp, nông thôn để thực hiện các dự án sai phạm, trục lợi chính sách. Cũng như sự làm ngơ, thiếu trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành và chính quyền một số địa phương khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên như thế nào?… 

Hệ thống Điện mặt trời áp mái nhà trải dài hàng cây số tại huyện Chư Prông, Gia Lai.
Hệ thống Điện mặt trời áp mái nhà trải dài hàng cây số tại huyện Chư Prông, Gia Lai.

 

Tiếp tục đọc “Nông nghiệp, nông thôn bị lợi dụng, cày xới như thế nào? – 8 kỳ (Chuỗi bài đang cập nhập)”

CÁC MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT TRONG NGÀNH ĐIỆN: Ai làm gì và vì sao?

English: Regulatory Models in the Power Sector

Các mô hình điều tiết là sự tổ chức các hoạt động cần thiết khác nhau để cung cấp điện cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo truyền thống, bốn hoạt động chính được xác định là: sản xuất (phát điện), truyền tải, phân phối và cung cấp. Tuy nhiên, nhiều hoạt động khác có thể được nhấn mạnh và phát triển mọt cách độc lập, chẳng hạn khi vận hành hệ thống (độc lập với truyền tải) hoặc đo đạc (độc lập với phân phối).

Mô hình điều tiết là gì?

Việc xác định mức độ phù hợp của việc phân tách mạng lưới độc quyền của các công ty thực hiện các hoạt động cạnh tranh có tầm quan trọng lớn khi thảo luận về các mô hình quản lý.

Tiếp tục đọc “CÁC MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT TRONG NGÀNH ĐIỆN: Ai làm gì và vì sao?”

Historical Greenhouse gas (GHG) Emissions

Climatewatchdata.org

Greenhouse gas (GHG) emissions which cause climate change have increased 50 fold since the mid-1800s. Energy makes up nearly three-quarters of global emissions, followed by agriculture. Breaking down the energy sector into its sub-sectors, electricity and heat generation make up the largest portion of emissions, followed by transportation and manufacturing. 64% of GHG emissions come from just 10 countries, while the 100 least-emitting contributed less than 3%.

 

From Zero to hero, the various case of Vietnam’s renewable energy

On the boil

*On the boil newsletter co-founded by 2 girls with a dream to see Vietnam become a leader in the fight against climate change.  The newsletter delivers the information in a digestible format,

  • Global climate change and sustainability news? 
  • Updates on the environment and sustainability projects in Vietnam?
  • Inspiring stories of climate leaders and their projects?

From Zero to hero, the various case of Vietnam’s renewable energy

In January, a humble “S-shaped” country in South East Asia became the talk of the town. Having been “chasing the sun”, Vietnam saw a boom in rooftop solar installations at the end of 2020. It beat all forecasts, even that of Bloomberg, who made an entire podcast episode featuring Vietnam’s race to green energy.

Before we get to the real meat of what happened, let us first take a step back to look at the whole relationship between energy and climate, and why moving to green energy matters.

  • All living things on the planet contain carbon [insert Sir. David Attenborough‘s voiceover here]. When organisms died hundreds of millions of years ago, their remains got buried deep under layers of sediment and rock. Under high heat and pressure, they were slow-cooked into carbon-rich deposits we now call fossil fuels, i.e. coal, oil and natural gas.
  • Fast forward to the 18th century. The Industrial Revolution unlocked the huge potential of fossil fuels as an abundant source of energy. Since then, fossil fuels have rapidly established themselves as the major source of power, supplying about 84% of global energy in 2019.
  • Now back to Chemistry 101: when we burn fossil fuels for energy, the carbon atoms (C) that have been stored away for millennia meet with oxygen (O), releasing an enormous amount of CO2. Unsurprisingly, 81% of total CO2 emissions from 1959 to 2019 comes from burning oil, coal, and natural gas. This is bad news for our friend Earth, as CO2 is a long-lived greenhouse gas capable of trapping heat from sunlight, causing global warming.
  • The answer is no…if 1) we move away from fossil fuels and into low-carbon, renewable energy (RE) and 2) we reduce energy consumption and increase energy efficiency. In this issue, we’ll zoom in on the first solution.
  • From 1965 to 2019, the share of renewables (e.g. solar, wind, hydropower) in the energy mix almost doubled from 6% to 11%. This seems…puny compared to that of fossil fuels. On the bright side, the recent net-zero emission targets set by the world’s major economies as well as big corporates in an effort to slow climate change are expected to accelerate renewables’ growth.
  • Vietnam is also encouraging a shift from fossil fuel to renewables, in order to meet its CO2 emission mitigation target.

Vietnam – from zero to hero on the renewables Tiếp tục đọc “From Zero to hero, the various case of Vietnam’s renewable energy”

Summers could last for half the year by 2100

theguardian.com

Heatwaves and wildfires will be more likely and winter will be squeezed to just 31 days

A man walks in the dried-out lake of Jato near the Sicilian village of Partinico.
A man walks in the dried-out lake of Jato near the Sicilian village of Partinico. Photograph: Tony Gentile/Reuters
@katerav Sat 20 Mar 2021 06.00 GMT127

Our summers are already about 20% longer than they used to be, and if the climate crisis continues unabated then northern hemisphere summers could cover nearly half of the year by 2100, making them more than twice as long as they were in the 1950s. And unlike their counterparts of the 1950s, future summers will be more extreme, with heatwaves and wildfires more likely.

Researchers used historical climate data to measure how much the seasons have changed already. They defined summer as the onset of temperatures in the hottest 25% for that time period and winter as the onset of the coldest 25% of temperatures. Their results, published in Geophysical Research Letters, show that the average northern hemisphere summer has grown from 78 to 95 days between 1952 and 2011, while winter has shrunk from 76 to 73 days. Spring and autumn have contracted too.

Tiếp tục đọc “Summers could last for half the year by 2100”

Giáo sư Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời.”

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 1.

soha – Tháng 11 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc quyết định ban hành nghị quyết số 120. Bản nghị quyết còn có tên gọi đặc biệt khác: “Thuận thiên”, về Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo lời kể của vị giáo sư “cây lúa” Võ Tòng Xuân, 2 chữ “thuận thiên” ấy được bắt đầu từ một cuộc trò chuyện ngắn ngủi trên bàn ăn giữa Thủ tướng và ông. Một điều ít ai biết, GS Võ Tòng Xuân đã ấp ủ nó để được “thưa” suốt 30 năm.

4 năm sau cuộc gặp ấy, trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông lão 80 tuổi tóc bạc phơ vẫn ngày ngày cần mẫn với công việc nghiên cứu, giảng dạy cho hàng nghìn sinh viên nông nghiệp. Và vẫn tự hào khi nhắc về 80 năm cuộc đời trăn trở cho con đường “thuận thiên”…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 2.

Bắt đầu cuộc trò chuyện này, tôi muốn biết từ khi nào “thuận thiên” xuất hiện trong suy nghĩ của giáo sư, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân: Khi 15.000 hecta vùng đất thấp ngập mặn, lúa chết sạch, Sóc Trăng bà con kêu thấu trời xanh.

Một thời Việt Nam ta tự hào vì 9 con rồng đổ mình ra biển Đông, nhưng đến thập kỷ 1960 con rồng Ba Thắc (Sóc Trăng) thực sự đã chết. Thập kỷ 1980 thì tới lượt con rồng Ba Lai (Bến Tre) mười mấy cây số đều bị lấp, không còn đủ chảy nước chảy thành một lòng sông…

Khi ấy, tôi nói đùa với đồng nghiệp: “Cửu Long mất hai, giờ chẳng lẽ đổi tên đồng bằng ta là Thất Long sao?”. Nhưng nói xong, chỉ thấy nhói tận tâm.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 3.

Suốt một thời gian dài từ 2000 đến nay, tôi đã chứng kiến ĐBSCL trải qua những mùa khô và hạn hán khốc liệt như thế đấy! Đi đến đâu, gặp bất kỳ người nông dân nào, cũng chỉ nước mắt và lời kêu than không thể nào đau lòng hơn.

Cho đến một buổi sáng tháng 3/2010, tôi tình cờ đọc trực tuyến trên tờ Bangkok Post bản tin về Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo ngồi giữa thửa ruộng Vân Nam. Xung quanh bốn bề đất nứt như gót chân người, không còn lấy một giọt nước.

Dưới bức ảnh, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhắn: “Tôi không dám vào viếng một nhà nông dân nào. Vô đó, tôi chắc chắn họ không còn nước mời tôi uống”.

Ngày 25/3/2010, tôi đi viếng vùng nhiễm mặn Sóc Trăng cũng thấy tình trạng cạn khô như vậy.

Khi đó tôi mới vỡ lẽ.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 4.

Vỡ lẽ về điều gì, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân: Suốt thời gian dài, chúng ta nói, thượng nguồn Trung Quốc xây đập thuỷ điện chằng chịt, chặn đứng nguồn nước Mê Kông gây hạn hán, ngập mặn. Việt Nam, Thái Lan, Campuchia nhiều năm nay vẫn kiện cáo, đòi mở đập để “giải cứu” cây lúa miền dưới.

Nhưng thực tế không phải vậy!

Rõ ràng lúc Việt Nam đang gặp hạn thì trên Vân Nam họ cũng thế! Từ sau năm 2015, mực nước sông Mê Kông mùa khô liên tục rơi xuống còn 1.600 m3 – 1.800 m3/s, trong khi trước đây nó từng đạt 40.000 m3/s vào mùa mưa và 2000 m3/s vào mùa khô.

Chúng ta kiện, chúng ta đòi mở nước nhưng Trung Quốc họ đã không còn đủ nước cho cả đất nước họ nữa rồi. Mà cho là có năm dư, khi xuống tới đường ranh Thái Lan – Lào, hàng ngày hàng nghìn trạm bơm vẫn lấy nước đổ vào cho vùng hạn Đông Bắc Thái Lan thì đến lượt Việt Nam liệu có còn nước không?

Đó là tình hình chung thế giới! Và cái biến đổi khí hậu nó đã xảy ra hàng chục năm nay, trên toàn bộ Trái Đất, chứ đâu phải đến tận bây giờ ông trời mới bắt Việt Nam gồng gánh nỗi đau này?

Có thời điểm vì sợ thiếu lương thực, Bộ Nông nghiệp và Hải Quan đề nghị nước ta tạm ngưng xuất khẩu gạo. Hơn một tháng trời, nước ngoài không đợi được, họ liền quay sang Thái Lan mua gạo.

Lúc đó, tôi lên tiếng khẳng định luôn: “Nước ta không bao giờ thiếu lúa gạo!”.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 5.

Để chứng minh điều này, tôi đã đi dọc các tỉnh ven biên giới Campuchia. Ở đó, khoảng 1,2 triệu hecta đất vùng nước ngọt quanh năm, nước mặn không thể ngập tới, cây lúa vẫn phát triển tốt, thậm chí còn cho năng suất rất cao.

Chỉ duy khoảng 15.000 hecta ở vùng ven biển của mấy ông nông dân “cãi trời”, chính quyền đã cảnh báo nhưng vẫn chăm chăm làm lúa thì giờ mới than trời kêu đất.

Truyền thông không nhìn thấy được bức tranh toàn cảnh nên đã gây ra rất nhiều hiểu lầm.

Tháng 9/2017, tôi được mời tham dự Hội nghị về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ, do Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì. Nhân dịp này tôi mới rút ruột rút gan ra trình bày với Thủ Tướng:

“Nông dân miền Tây mình đang mắc vòng kim cô rất lớn! Thưa Thủ tướng…”

Thủ tướng thấy lạ bèn hỏi lại: “Kim cô gì thầy? Nhờ thầy nói rõ!”

“Kim cô chính là lúa.”.

Tôi giải thích tiếp: “Giờ này chúng ta thặng dư nhiều lúa rồi nhưng Nhà nước cứ buộc nông dân trồng lúa, vùng mặn cũng phải làm. Đó chính là ta đi ngược với thiên nhiên, chống thiên nhiên.”

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 6.

Thủ tướng hỏi: “Chống như thế nào thầy?”

“Ở các vùng mặn, mùa nắng ruộng chỉ có nước mặn, đáng lẽ người ta phải nuôi tôm, nuôi cá, sinh lời… lại bắt người ta trồng lúa. Đó là không thuận thiên…”

Lúc ấy, Thủ tướng vỡ lẽ.

Kết thúc kỳ họp, Thủ Tướng đồng ý dùng 2 chữ “thuận thiên” làm tôn chỉ cho nghị quyết mới.

Tháng 11/2017 thì nghị quyết 120 do Chính phủ ban hành đã nhấn mạnh tầm quan trọng của 2 chữ “Thuận thiên”.

Bởi khi ấy, nếu nông dân tiếp tục “cãi trời”, ĐBSCL sẽ đi vào thế khó. Thuận thiên thì không những biến nguy thành cơ mà còn là cơ hội “vàng” cho Tây Nam Bộ vươn lên làm giàu.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 7.

Trước Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Giáo sư đã bao giờ đề cập đến con đường “thuận thiên” này lần nào khác?

GS Võ Tòng Xuân:  Thú thật, hơn 50 năm “ăn nằm” với cây lúa, tôi chưa bao giờ thôi nghĩ về nó.

Thời kỳ đất nước giải phóng, chúng ta đề ra chính sách đảm bảo an ninh lương thực, chú trọng việc trồng lúa.

Tại kỳ họp thứ 1 Quốc hội Khóa VII (1981-1987) do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng chủ trì, Chánh phủ báo cáo đã mở rộng sản xuất lương thực vùng Đồng Tháp Mười và vùng lúa Tứ Giác Long Xuyên.

Đến lúc đại biểu Quốc Hội tham luận, tôi đăng ký xin thưa: “2 vùng vừa báo cáo không chỉ không cho kết quả như ý muốn mà còn làm nãn lòng nhân dân”.

Bởi thời điểm đó, những vùng này đất rất phèn, cây tràm đã sống thành rừng mà giờ ta lại chỉ đạo phá rừng, trồng lúa.

Mọi người cứ nghĩ Nam Bộ “cò bay thẳng cánh” thì đâu đâu cũng trồng lúa được. Không phải! Đó là cưỡng trời, là đi ngược thiên nhiên. Bao nhiêu vốn đầu tư nhưng sẽ không lấy lại được bao nhiêu!

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 8.

Nghe xong, chủ tịch Phạm Văn Đồng nhìn tôi, trách: “Tại sao đến giờ đồng chí mới nói?”.

Lúc đó, tôi thưa: “Dạ! Đây là dịp đầu tiên cháu mới có được môi trường Quốc hội để phát biểu”. Sau đó, ông cười rồi lập tức kêu Ông Phan Xuân Đợt (Bộ trưởng Lâm Nghiệp bấy giờ) và ông Nguyễn Đăng (nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp) đưa ra phương án, nhanh chóng sửa sai vấn đề này ngay.

Đến cuối năm 1989, nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo. Ngặt cái, trồng lúa ở miền Bắc thì cứ như chống giặc vậy! Vụ đông xuân thì chống rét, hạ chống hạn, thu đông thì chống bão lũ… Lúc đó tôi mới thấy sao nông dân mình khổ quá! Suốt đời cứ chống, đi đánh thế thì bao giờ mới có ăn. Tôi liền nghĩ đến phương án giảm trồng lúa.

Năm 1990, tôi đổi tên “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa” của mình thành “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác”. Trong những lần ra nước ngoài, tôi vận động Australia giúp kinh phí chi Viện Lúa Quốc tế (IRRI) và Canada tài trợ chương trình nghiên cứu khoa học. Về nước tôi mời các khoa Nông nghiệp của đại học Việt Nam thành lập Mạng Lưới nghiên cứu hệ thống canh tác xoay quanh cây lúa cho từng vùng. Chủ yếu là để giảm bớt một, hai vụ lúa nhằm luân canh cây trồng khác hoặc nuôi tôm, cá.

Nhưng cuối cùng dự án đó mãi mãi không thực hiện được…

Sang kỳ họp Quốc hội thứ 8, tôi tiếp tục đề cập vấn đề cắt giảm nhu cầu trồng lúa, chuyển sang canh tác cây ăn quả, thâm canh tôm, cá giá trị cao. Lúc đó, một đại biểu Quốc Hội đứng lên phản bác rất gay gắt: “Mình là con người, con người phải ăn cơm ăn gạo, chỉ có con khỉ mới ăn quả”.

Vậy đó, họ nói tôi như thế đó!

Tôi về, đi ra đồng thì ông nông dân vẫn hỏi: “Bây giờ mình dư nhiều gạo, xuất khẩu nhiều quá rồi, sao nhà nước còn khuyến khích trồng lúa?”. Có lúc tôi không biết trả lời họ câu hỏi đó sao cho phải…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 9.

Một đời người nghiên cứu về cây lúa nhưng năm lần bảy lượt ông lại ủng hộ quan điểm Việt Nam không nên tiếp tục trồng nhiều lúa. Điều đó có mâu thuẫn quá không, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân:  Đúng! Đúng là có lúc tôi từng mâu thuẫn như thế!

Thời điểm năm 1975, chính sách đảm bảo an ninh lương thực khiến dân ta không có lựa chọn nào ngoài chuyện trồng lúa. Miền Bắc thì tập trung lo đê điều, Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ thì thuỷ lợi, ngọt hoá. Hơn 70% kinh phí nhà nước cấp cho ngành nông nghiệp khi ấy chỉ để xây thủy lợi, làm lúa nước.

Dân phá rừng trồng lúa, thậm chí nhà nào có vườn hoa đẹp phải cuốc lên, có vườn trái cây đều đào gốc, trồng rau, khoai. Nhiều gia đình thèm có một cái cây ăn trái lắm, phải lén đắp mô ở trong ruộng, chỗ này một ít, chỗ kia một ít để có cây nhãn, cây xoài ăn chơi.

Bởi khi ấy, chúng ta còn quá ám ảnh cái đói sau 2 cuộc thế chiến! Cái chính sách an ninh lương thực là cần thiết. Nhưng suốt 30 năm, từ khi chúng ta đủ ăn, dư ăn và xuất khẩu gạo rồi, chúng ta vẫn duy trì chính sách ấy, vẫn trồng lúa mọi nơi, thậm chí còn tốn nhiều tiền để ngọt hóa vùng mặn để trồng thêm.

Nếu tôi vì bản thân mình thì tôi đã nhắm mắt cho qua. Nhưng không phải! Tôi đã chứng kiến nhiều câu hỏi không biết trả lời thế nào từ những nông dân như thế rồi.

Đúng như ý nguyện của Bác Hồ “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu”, tôi nghĩ đã đến lúc nhà nước ta, các doanh nghiệp và cả người nông dân đều cần thay đổi.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 10.

Con đường thay đổi đó thực hiện như thế nào?

GS Võ Tòng Xuân: Trước đây, người Việt hay có quan niệm: “Không học thì đi làm nông dân”. Bởi ngày xưa, ông bà ta chỉ làm nông theo hình thức tự phát, kinh nghiệm, bắt chước.

Nhưng giờ Việt Nam đã qua cái thời “thất học ra đồng”! Chúng ta có rất nhiều cơ sở để tri thức hoá người nông dân như các nước châu Âu.

Nói vậy không phải là bắt ông nông dân phải đi học đại học, cao đẳng. Mà ông ấy chỉ cần qua các lớp đào tạo do doanh nghiệp, nhà nước địa phương tổ chức nhằm làm sao cho nguyên liệu do nông dân làm ra đạt đủ tiêu chuẩn yêu cầu thì xem như đã qua lớp và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện “hành nghề ”.

Thứ hai, trong tương lai gần, với tình trạng hạn mặn và sạt lở diễn ra mạnh mẽ ở ĐBSCL như hiện nay, để phát triển toàn diện thì cần phải giảm lúa gạo. Tại vùng ven biên giới Campuchia, là vùng luôn luôn có đủ nước ngọt và không bị nước mặn xâm nhập, thì chúng ta nên thiết kế 1.2 triệu hecta lúa, trồng 2-3 vụ/năm để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu một phần.

Còn những tiểu vùng gần biển thì nên trồng lúa vào mùa mưa, mùa nắng có thể kết hợp nước mặn với nước ngọt trộn lại để nuôi tôm, nuôi cá thâm canh hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn. Vùng giữa thì bắt đầu lên liếp đất để hạn chế nước mặn và có rảnh mương dự trữ nước trong mùa mưa để tưới cho cây trồng trong mùa nắng.

Thứ 3, nhà nước cần nắm được các khuynh hướng nông nghiệp trên thế giới. Từ đó, tạo điều kiện liên kết vùng, nông dân-nông dân (dồn điền -PV), nông dân-doanh nghiệp, doanh nghiệp-doanh nghiệp để sản xuất trên diện tích lớn bằng cơ giới và công nghệ 4.0.

Ngược lại, phía doanh nghiệp phải được đào tạo thành nhà doanh nhân giỏi, là đơn vị tiên phong trong chế biến sản phẩm có thương hiệu, năng nổ khám phá và sẵn sàng tìm đầu ra cho sản phẩm.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 11.

Cuối cùng là công cuộc chiếm lĩnh thị trường 100 triệu dân trong nước. Sự thật là những năm qua, ngành nông nghiệp đang dần chiếm được tình cảm của người tiêu dùng Việt bởi những sản phẩm an toàn vệ sinh, ngon, hấp dẫn, không kém sản phẩm ngoại nhập.

Vậy trong 3 năm thực hiện nghị quyết 120, con đường “thuận thiên” ấy đã để lại cho chúng ta tín hiệu đáng mừng như thế nào rồi, thưa GS?

GS Võ Tòng Xuân: Nông dân các tỉnh ven biển ĐBSCL đã và đang phấn khởi với những vùng chuyển đổi mà Đảng và Nhà nước quy hoạch mới, hàng ngàn hecta lúa-tôm đã đem lại lợi tức gấp 4-5 lần trồng lúa độc canh trước đây.

Bến Tre ngoài cây dừa đã trồng thêm cây ăn trái như bưỡi, xoài, sầu riêng bằng bón phân hữu cơ sinh học chống mặn tốt. Trên các cánh đồng lúa bát ngát ở Châu Đốc (An Giang), Tháp Mười (Đồng Tháp) cũng bắt đầu nhen nhóm những vườn xoài, chuối. Nhiều doanh nghiệp như Vinamit, vua chuối Út Huy, công ty Cỏ May (Đồng Tháp), Trung An (Cần Thơ),… đã áp dụng nông nghiệp “sạch”, chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng con đường “chất lượng thắng số lượng.”

Năm 2020, bất chấp đại dịch Covid-19 chúng ta đã xác lập nhiều kỷ lục khi sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã vươn xa tới gần 190 thị trường thế giới, xuất khẩu nông sản đạt mốc 41,2 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Nhiều loại quả như vải thiều, chôm chôm, thanh long, vú sữa, xoài, nhãn… đã có mặt tại những thị trường khó tính nhất như Mỹ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc…, giá trị còn tăng gấp 20-30 lần so với trong nước.

Về gạo, khối lượng gạo xuất khẩu giảm 3,5% nhưng tăng 9,3% về giá trị, trong đó gạo chất lượng cao chiếm 85% gạo xuất khẩu. Một khoảng thời gian, chúng ta đã vượt hẳng qua Thái Lan. Như hôm qua (ngày 22/2), tôi vừa xem giá gạo thì Việt Nam đạt 536 USD/ tấn, cao hơn hẳng nước bạn.

Đó đều là tín hiệu đáng mừng!

Và từ năm 2020 trở đi, với điều kiện thuận lợi của Hiệp định Thương mại tự do EVFTA, CPTPP… nông sản Việt vào thị trường EU không bị đánh thuế, thì chúng ta có quyền hy vọng con đường đến top 15 nền nông nghiệp hàng đầu thế giới.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 12.

Ở tuổi 81 này, GS còn điều gì trăn trở cho cuộc sống và nền nông nghiệp Việt Nam?

GS Võ Tòng Xuân: Năm 1991, tôi sang Mỹ, có dịp gặp một vài anh bạn người Việt gốc Hoa làm chủ chuỗi siêu thị Á Châu. Ngồi nghe tâm sự, các anh ấy đều nói:“Bây giờ thầy phải làm thế nào đi thầy? Tụi con thèm bán gạo Việt lắm mà Việt Nam không có giống gạo ngon nào, siêu thị tụi con toàn phải mua gạo Thái Lan”.

Câu hỏi ấy cứ theo tôi mãi!

Năm 2019, khi Hồ Quang Cua – sinh viên của tôi, lai tạo thành công “giống gạo ngon nhất thế giới” ST25, tôi mới có thể tự tin giới thiệu với các siêu thị Á Châu.

80 năm cuộc đời, tôi đã đặt chân đến trên 80 nước để mang về những cải tiến cho nền nông nghiệp Việt Nam. Tôi vui khi hoàn thành được những hoài bão. Nhưng sẽ càng hạnh phúc hơn nhiều nếu đi đâu đâu trên khắp thế giới này tôi đều thấy nông sản Việt Nam, thấy người ta hào hứng lựa chọn nó, tôi hay tưởng tượng đến những nụ cười sung sướng của người nông dân đã và đang sản xuất nguyên liệu an toàn, chất lượng để cung cấp cho nhà doanh nghiệp, cùng nhau làm ra những sản phẩm có thương hiệu nổi trội.

Đó là những người tiếp tay làm nên sự giàu có của chính họ và của đất nước Việt Nam.

Bây giờ, mỗi ngày tôi vẫn làm việc bình thường. Nói chuyện với bạn hôm nay, lát nữa sẽ về Cần Thơ để mai gặp sinh viên. Kế hoạch cuối tuần này thì lên Nhà máy đường Gia Lai tính chuyện hợp tác với người dân tộc tại Huyện Eatun trồng cây mía,… Ngày nào còn sức khỏe và trí óc minh mẫn, ngày ấy tôi sẽ còn truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng cho thế hệ sau bấy lâu.

Như Khổng Tử, Trang Tử, Lão Tử của ngày xưa mong muốn tìm người tiếp nối. Tôi chỉ mong một mai sẽ có đôi mắt thay tôi nhìn ngắm những cánh đồng Việt Nam phát triển thế nào…

Xin cám ơn ông vì những chia sẻ chân thành này…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 13.

Bài: Huy HậuẢnh: Hải Long

Thiết kế: Trang Đinh

US raise concerns over China’s upstream dams on Mekong

ANI
02 Mar 2021, 02:18 GMT+10 Asiapacificnews.net

Washington [US], March 1 (ANI): Raising concerns over the dipping water-levels of the Mekong River and upstream dams in China, Principal Deputy Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs Ambassador Atul Keshap points out that upstream dams in China that exacerbate droughts are hurting the communities and ecosystems that have relied for countless generations on the Mekong River’s natural flood pulse.

Speaking at the Indo-Pacific conference on Strengthening Transboundary River Governance, Keshap on Saturday (local time) said the conference report launched at the event is excellent and summarizes our work examining the challenges facing the Mekong River basin and its ties to the economies, livelihoods, and culture of nearly 70 million people.

“We remain concerned just as we were in October during the conference–that record droughts and the upstream dams in China that exacerbate them are hurting the communities and ecosystems that have relied for countless generations on the Mekong River’s natural flood pulse,” he said as reported by the Frontier Post.

Tiếp tục đọc “US raise concerns over China’s upstream dams on Mekong”

Massive boats dredge sand, threaten erosion on rivers in Vietnam’s Mekong Delta

Wednesday, February 24, 2021, 17:42 GMT+7 tuoitre

Massive boats dredge sand, threaten erosion on rivers in Vietnam’s Mekong Delta
Two sand-mining boats with dredgers extract sand from the Tra On River, only 100 meters away from the shore, in Vinh Long Province, Vietnam, February 23, 2021. Photo: Chi Hanh / Tuoi Tre

Despite facing furious opposition from local residents, a big barge equipped with dredgers is publicly extracting sand off the Tra On River in Vinh Long Province, located in Vietnam’s Mekong Delta.

The barge has mined sand on the river for a few days, residents of My An Village in the province’s Binh Minh Town, said in a report to Tuoi Tre (Youth) newspaper on Tuesday.

As witnessed by Tuoi Tre, a massive boat numbered LA-07135 appeared at the junction of the Hau River and the Tra On River.

It was accompanied by another boat with registration number BTr-7402, with a perceived load capacity of hundreds of cubic meters of sand.

Tiếp tục đọc “Massive boats dredge sand, threaten erosion on rivers in Vietnam’s Mekong Delta”

How can Mekong Delta fly high if no one gives it wings?

By Nguyen Trong Binh   February 22, 2021 | 07:51 am GMT+7 vnexpress

On the morning of May 21, 2000, I woke up to a scene I had never witnessed before.

Nguyen Trong Binh
Nguyen Trong Binh
Những hình ảnh tuyệt đẹp về mưu sinh mùa nước nổi ở miền Tây - Báo Người  lao động

An endless stream of people driving motorbikes and cars from various provinces in the Mekong Delta like Hau Giang, Soc Trang, Bac Lieu, Ca Mau, and An Giang flooded the roads near my sister’s house in Vinh Long Province: They had come to see the inauguration of the My Thuan Bridge.

I was one of them.

Excited at the prospect of seeing the country’s first cable-stayed bridge, one that spans the Tien River, a major branch of the Mekong, to link Vinh Long and Tien Giang, I had gone to my sister’s house, eight kilometers from the bridge, the previous day, and got up early the next day for the inauguration.

Tiếp tục đọc “How can Mekong Delta fly high if no one gives it wings?”

Key Considerations for Adoption of Technical Codes and Standards for Battery Energy Storage Systems in Thailand.

Executive Summary

The deployment of battery energy storage systems (BESS) is rapidly increasing throughout the world. This technology presents many opportunities for increasing contributions of variable renewable energy technologies, providing ancillary services, enabling energy access to remote areas, and increasing resilience during grid power outages. At the same time, BESS has not been widely deployed and operated in many contexts. The use of BESS requires codes and standards similar to those for other inverter-based technologies but may also necessitate special safety considerations in specific contexts. As countries in Asia consider the inclusion of BESS in their power systems to meet policy objectives, renewable energy goals, increase resilience, and expand energy access, there is an opportunity to learn from the experiences of other regions and jurisdictions that have developed more advanced storage markets and practices.

This report presents global best practices of codes, standards, and interconnection procedures developed to support the safe and reliable deployment of BESS. Several relevant case studies highlight current efforts to ensure safe operation of BESS and showcase potential pathways for adoption of relevant codes and standards. Specifically, this report is intended to support the Thailand Office of Energy Regulatory Commission (OERC) and other stakeholders in their efforts to develop technical codes and standards to govern the installation and operation of BESS; it may also be utilized as a guide for other countries as interest in the deployment of BESS technologies continues to grow. Coupled with well-defined regulatory objectives, market incentives, permitting procedures, and technical review processes, the adoption of technical codes and standards that govern the design, construction, installation, and operation of BESS can help provide regulatory certainty, as well as reduce barriers to investment. Such codes and standards also ensure BESS deployment will meet national, regional, and local goals, while maintaining a reliable grid, and ensuring public safety.

Finally, a robust BESS market can support the increased adoption of variable renewable energy generation technologies to meet Thailand’s energy portfolio goals. This report has been prepared by the National Renewable Energy Laboratory (NREL) with support from the U.S. Agency for International Development (USAID) Regional Development Mission for Asia, and in collaboration with USAID Clean Power Asia.

Download full report https://www.nrel.gov/docs/fy21osti/78780.pdf

QUÁ TRÌNH GIẢM PHÁT THẢI TRONG CHUỖI CUNG ỨNG CỦA CÁC CÔNG NGHIỆP Ở ĐÔNG NAM Á

Báo cáo của Global Efficiency Intelligence

Lĩnh vực công nghiệp là lĩnh vực tạo ra phát thải khí nhà kính (GHG) lớn nhất  trên toàn cầu. Ở Đông Nam Á, công nghiệp cũng là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất. Cùng với mức tăng trưởng kinh tế và sản lượng công nghiệp đáng kể được dự báo tại từ Đông Nam Á trong vài thập kỷ tới, việc sử dụng năng lượng và phát thải khí nhà kính liên quan đến các ngành công nghiệp được dự báo là sẽ tăng  đáng kể nếu các quốc gia không có các chính sách và chiến lược quyết liệt để  giảm thải khí nhà kính.

Lĩnh vực tư nhân có tiềm năng trọng yếu trong việc thúc đẩy các hành động giảm thải các-bon trong công nghiệp. Đối với nhiều công ty và các thương hiệu mà lượng phát thải từ chuỗi cung  lớn hơn nhiều lần so với lượng phát thải từ việc vận hành của chính công ty, thì rõ ràng để làm được hành động có ý nghĩa, các công ty sẽ phải tận dụng sức mua và  làm việc với chuỗi cung ứng của họ. Tuy nhiên, theo tổ chức CDP,  chỉ có 29% nhà cung cấp của các hãng báo cáo về lượng khí thải giảm tuyệt đối trong năm 2019, rõ ràng là người mua và các nhà cung cấp của họ  ở Đông Nam Á và các khu vực khác  phải nỗ lực nhiều hơn nữa.

Trong báo cáo này, đầu tiên, chúng ta phân tích việc sử dụng năng lượng công nghiệp ở 5 nước tiêu thụ năng lượng lớn ở Đông Nam Á là: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Các chương tiếp theo của báo cáo thảo luận về các khía cạnh khác nhau của việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính trong  linh vực công nghiệp ở Đông Nam Á thông qua tính bền vững của chuỗi cung ứng. Chúng ta thảo luận về các rào cản chính trong quá trình giảm thải cácbon trong các chuỗi cung ứng, các thực hành hàng đầu để thúc đẩy chuỗi cung ứng công nghiệp các-bon thấp, và tầm quan trọng của các hệ thống đo lường hiệu suất và các chỉ số đánh giá cơ bản tương ứng (KPI) để thúc đẩy tính bền vững của chuỗi cung ứng. Các nghiên cứu điển hình về tính bền vững của chuỗi cung ứng tập trung vào lĩnh vực dệt may cũng như lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử. Hai lĩnh vực này có chuỗi cung ứng lớn ở Đông Nam Á.

Dựa trên những thực hành quốc tế tốt nhất xác định trong nghiên cứu này, các công ty có thể đưa ra các hành động để giảm phát thải carbon trong chuỗi cung ứng bằng cách:

• Phát triển các mối quan hệ chặt chẽ hơn với các nhà cung cấp của họ thông qua các chương trình gắn kết với nhà cung cấp và giúp các nhà cung cấp thiết lập các hệ thống và chính sách quản lý bền vững của riêng nhà cung cấp, điều này sẽ giúp cho  các nhà cung cấp đo lường và theo dõi lượng phát thải một cách có hệ thống.

• Là một phần của việc phát triển phương pháp quản lý dữ liệu cho nhà cung cấp, các công ty có thể tạo  lập hoặc thuê các công ty bên ngoài vận hành hệ thống  thu thập dữ liệu hoặc tận dụng chương trình báo cáo và công bố khí nhà kính hiện có.

• Đặt ra các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và giảm các-bon cho chuỗi cung ứng.

• Chuyển tải các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và giảm các-bon thành các mục tiêu cho các nhà cung cấp riêng lẻ của hãng có thể thực hiện được.

• Khuyến khích và hỗ trợ các nhà cung cấp chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, đây là chìa khóa để đạt được các mục tiêu giảm khí thải phạm vi số 3. (Các phát thải gián tiếp khác phát sinh từ các hoạt động có liên quan trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng từ các nguồn mà doanh nghiệp không sở hữu hoặc kiểm soát.)

• Khuyến khích và hỗ trợ các nhà cung cấp xác định và thực hiện các cơ hội sử dụng năng lượng hiệu quả và áp dụng tiêu chuẩn quản lý năng lượng ISO 50001

• Thiết lập giá carbon nội bộ. Chương trình này sẽ cung cấp cho các công ty cơ hội để đánh giá rủi ro liên quan đến các quy định trong tương lai   về giá các-bon bắt buộc, và do đó hướng tới việc xác định triển vọng tiết kiệm chi phí và doanh thu khi đầu tư vào các công nghệ  mới về các-bon thấp và giảm các-bon trong các hoạt động kinh doanh.

• Cung cấp thông tin và tài liệu đào tạo cho các nhà cung cấp của hãng để hỗ trợ nỗ lực của các nhà cung cấp và xây dựng năng lực trong việc cải thiện hiệu  suất năng lượng và chuyển đổi sang các-bon thấp.

Xem toàn bộ báo cáo tiếng Anh tại đây

2020 tied for warmest year on record, NASA analysis shows

Sciencedaily.com

Earth’s global average surface temperature in 2020 tied with 2016 as the warmest year on record, according to an analysis by NASA.

Continuing the planet’s long-term warming trend, the year’s globally averaged temperature was 1.84 degrees Fahrenheit (1.02 degrees Celsius) warmer than the baseline 1951-1980 mean, according to scientists at NASA’s Goddard Institute for Space Studies (GISS) in New York. 2020 edged out 2016 by a very small amount, within the margin of error of the analysis, making the years effectively tied for the warmest year on record.
Tiếp tục đọc “2020 tied for warmest year on record, NASA analysis shows”

How Vietnam came to embrace a new vision of the Mekong Delta’s future