Tại sao chúng ta biết quá ít về vi phạm nhân quyền của các tập đoàn lớn?

ENGLISH: Why do we know so little about corporate human rights abuses?

Người ta gọi đó là “chiếc máy bay trở thành một chiếc xe mui trần”. Vào năm 1988, trên chuyến bay quen thuộc từ Hilo đến Honolulu, chuyến bay 243 của hãng hàng không Aloha đã bị xì áp suất, cuốn đi phần trên của máy bay. Một tiếp viên hàng không, người duy nhất không được thắt dây an toàn, bị hút ra khỏi máy bay cùng với phần trên máy bay.

Tai nạn xảy ra là tiếng gọi thức tỉnh ngành công nghiệp hàng không. Trong nhiều năm, việc bãi bỏ nhiều quy định đã thu hút nhiều công ty vào lãnh vực này, làm gia tăng áp lực lên các hãng hàng không để mở rộng vòng đời của các máy bay và bỏ qua việc bảo trì để duy trì hoạt động của máy bay trên không.

Sau tai nạn này, các hãng hàng không và các nhà làm luật quyết định giải quyết vấn đề an toàn trực tiếp. Cơ quan Hàng không Liên bang Mỹ yêu cầu mọi hãng hàng không báo cáo dữ liệu về việc bảo trì, kiểm tra và tai nạn, và lập ra những giới hạn theo luật định về số lần mỗi phương tiện được sử dụng trước khi ngưng hoạt động.

Các hãng hàng không nhận sứ mạng giảm tai nạn nghiêm túc như là các nhà làm luật. Các hãng hàng không cài đặt các bộ cảm ứng trong từng máy bay để ghi lại điều kiện chuyến bay, tình trạng thiết bị và phản ứng của phi công. Các hãng hàng không phối hợp các mô hình kiểm định để nhấn mạnh chất lượng đặc trưng hơn là đối phó với các quy định. Quy định an toàn-không an toàn đảm bảo rằng bất kỳ sự trục trặc thiết bị nào cũng được tách riêng ra và sữa chửa trước khi nó dẫn đến tai nạn.

Từng bước nhỏ, tất cả các hệ thống này – nhận diện rủi ro, báo cáo chúng, phối hợp bên trong ngành công nghiệp và phối hợp với các nhà làm luật – cộng lại thành sự cải thiện khổng lồ trong vấn đề an toàn. Ngày nay, việc đi lại bằng máy bay khắp đất nước an toàn hơn là việc lái xe đến sân bay.

Tôi là trưởng nhóm Liên Hiệp Quốc về Quyền Kinh doanh và Con người, một nhóm các chuyên gia làm việc để giải quyết các ảnh hưởng về quyền con người ở tập đoàn lớn. Lãnh vực của tôi có một sự kiện của hãng hàng không Aloha vào năm 2013, khi một xí nghiệp 8 tầng tên gọi Rana Plaza sập ở ngoại ô của Dhaka, Bangladesh, giết chết hết 1000 công nhân may mặc trong đó.

Tai nạn này làm cho chúng ta nhận ra, giống như ngành công nghiệp hàng không vào những năm 1980, rằng thế giới đã thay đổi nhanh hơn khả năng bắt kịp của chúng ta. Hiện tượng toàn cầu hoá đã đẩy các công ty đi ngày càng xa khỏi đất nước sinh ra chính công ty đó, làm yếu đi khả năng đảm bảo, và trong một số trường hợp thậm chí khả năng biết, điều kiện mà các sản phẩm của họ được làm ra. Chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ trong nước, và các cơ quan quốc tế không có khả năng nhận ra tất cả các cách mà những tập đoàn lớn này gây tác động đến nhân quyền, làm yếu đi sức mạnh để ngăn chặn việc này.

Vào năm 2011, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã đồng ý thông qua các Nguyên tắc Hướng dẫn về Kinh doanh và Quyền Con người, là một loạt các hướng dẫn cho công ty và chính phủ để xác định ai chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề nhân quyền khi những quyền này bị chịu ảnh hưởng bởi doanh nghiệp. Từ đó, Nhóm của Liên Hiệp Quốc về Quyền Kinh doanh và Con người, cùng với hàng trăm công ty, chính phủ, tổ chức dân sự xã hội và tổ chức quốc tế, đã làm việc để thực hiện các tiêu chuẩn này.

Một kết luận nổi bật nổi lên từ những nỗ lực này trong 4 năm qua là rất đơn giản: ngăn trở lớn nhất với việc ngăn chặn vi phạm quyền con người của các công ty là chúng ta không biết nó xảy ra ở đâu và phải làm gì để ngăn chặn nó. Gần 3 năm sau vụ sập Rana Plaza, chúng ta không có không tin một cách hệ thống về việc liệu điều kiện các xí nghiệp ở Bangladesh, hoặc những nơi khác, có tiến bộ hay không. Những công ty đa quốc gia có hồ sơ tốt đang tăng cường cam kết về nhân quyền, nhưng chúng ta không biết liệu những cam kết này có đang được thực hiện, và cũng không biết liệu việc vi phạm đã được đẩy xuống các công ty ít tiếng tăm hơn.

Vậy tại sao lại quá khó để tìm ra ở đâu các vi phạm nhân quyền của công ty đang xảy ra và ngăn chặn chúng? Đây là 3 trở ngại chính:

1) Chúng ta không biết những vi phạm tồi tệ nhất đang diễn ra ở đâu

Như được lưu ý trên trang “Xác định quyền kinh doanh và con người”, một blog về vấn đề này, chỉ có 15% số người chết vì sốt rét và 16% trẻ em mới sinh trên thế giới được ghi lại một cách chính xác. “Poor Numbers – Những con số tệ hại”, điều tra năm 2013 Morten Jerven về các cơ quan thống kê ở châu Phi, báo cáo rằng ngay cả những số liệu “mục tiêu” từ những nước đang phát triển , những cái như thống kê GDP và tình hình dân số, thường được ghi lại từ chỉ một vài điểm điều tra dữ liệu, thỉnh thoảng còn lấy từ nước láng giềng hay các thập kỷ trước đó.

Đối với những người nỗ lực ngăn chặn vi phạm nhân quyền của các công ty, những khoảng trống thông tin này có nghĩa chúng ta đang làm việc trong bóng tối. Chúng ta thiếu nhưng thông tin được cập nhật và hệ thống về việc nước nào có tỉ lệ lao động trẻ em cao nhất, công ty nào đang mua những miếng đất canh tác lớn nhất, cơ quan nhà nước nào đang đòi hối lộ nhiều nhất. Không chỉ vậy, nhưng chúng ta còn thiếu thông tin cơ bản về nơi nào có nguy cơ cao nhất về những vi phạm này. Không có những số liệu cơ bản về đầu tư và phát triển tư nhân, chúng ta không có cơ sở để đảm bảo rằng đầu tư tạo nên phát triển.

Những khoảng trống về thông tin này là có thể hiểu được. Nhiều vi phạm về nhân quyền của doanh nghiệp, về bản chất, là vô hình. Điều kiện lao động chợ đen, nạn buôn người và tham nhũng nhà nước được thiết kế để tránh bị phát hiện. nhiều nước đang phát triển thiếu nhân viên và trang thiết bị để theo dõi điều kiện làm việc, đo lường ô nhiễm và kiểm toán doanh thu. Có thể hiểu được vì nó như vậy, dù vậy, nó có nghĩa là vi phạm nhân quyền của công ty luôn đi trước những người nỗ lực ngăn chặn chúng một bước.

2) Chúng ta không thế chống lại mọi công ty
Hai năm sau vụ sập nhà máy Rana Plaza, vào tháng 5 năm 2015, một xưởng giày ở ngoại ô Manila bị cháy trụi. Công ty đó không có giấy phép hoạt động, không có hệ thống dập lửa và không có lối thoát cháy. 72 công nhân may mặc đã chết.

Vậy tại sao tai hoạ này không trở thành một điểm chủ ý của thế giới? Tại sao tên của xưởng này, Kentex, không trở thành từ viết tắt cho điều kiện làm việc nguy hiểm như Rana Plaza?

Bởi vì Kentex không sản xuất những sản phẩm cho những thương hiệu nổi tiếng hay cho khách hàng quốc tế. Nó chỉ sản xuất giày chủ yếu tiêu thụ ở thị trường trong nước cho người Philippines. Đây là thách thức thứ 2 về việc đo lường các vi phạm về quyền con người của công ty: chúng ta chỉ nghe biết một phần nhỏ của các vi phạm.

Phần lớn các hoạt động kinh tế được thực hiện bởi các công ty quy mô nhỏ, những công ty mà bạn chưa bao giờ nghe tới, hầu hết trong lĩnh vực không chính thức. Hàng hoá của họ không đi xuyên biên giới, và khi họ bóc lột công nhân hay làm hại cho cộng đồng, bạn không nghe thấy điều đó. Thậm chí giữa các công ty đa quốc gia, hầu hết không bán sản phẩm của họ trực tiếp cho người tiêu dùng, và một số lượng đang tăng lên các công ty có trụ sở ở các nước nới việc bảo vệ người tiêu dùng và các tổ chức phi chính phủ quốc tế không đến được. Danh sách 500 doanh nghiệp toàn cầu của Fortune năm 2015 bao gồm gần 100 doanh nghiệp chỉ nằm ở Trung Quốc. Thậm chí nhiều doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lãnh vực (như là bảo hiểm, hoá chất, sản xuất bê tông) mà bán trực tiếp cho doanh nghiệp khác hay giao dịch về sản phẩm đầu vào. Chiến dịch tên-và-sự-hổ-thẹn (name-and-shame) chỉ hiệu quả khi các công ty có một cái tên cần bảo vệ, và một số lượng tăng lên các công ty trên thế giới không có điều đó.

3) Chúng ta không biết Cái gì đang làm việc

Nếu bạn muốn biết có bao nhiêu công ty đa quốc gia có một tuyên bố trên trang web của họ cam kết sẽ tôn trọng nhân quyền trong hoạt động, thì không khó tìm ( có 395 công ty). Nếu bạn muốn biết số nước có luật cấm lao động cho trẻ em dưới 14 tuổi, điều đó cũng dễ (167 nước). Hàng chục các tổ chức và sáng kiến theo dõi những cam kết này và công bố danh sách theo xếp hạng và chỉ số, sắp xếp các công ty và các quốc gia theo mức độ lời hứa họ đưa ra.

Cái chúng ta bỏ quên, dù vậy, lại là thông tin về việc những lời hứa đó có được giữ lời hay không. Trong số các công ty đã cam kết tôn trọng nhân quyền, bao nhiêu công ty làm được trong thực tế? Trong số các nước với luật hoàn thiện cấm lao động trẻ em, bao nhiêu nước thực sự kiểm tra nơi làm việc để tìm ra nó?

Điều đó khó hơn nữa để tìm ra.

Sự phân biệt này – giữa việc đo lường các cam kết và đo lường kết quả – là quan trọng để giảm vi phạm nhân quyền của công ty. Lời hứa của các hãng hàng không rằng cải thiện số liệu an toàn sẽ không có giá trị nhiều nếu chúng ta không biết có bao nhiều vụ tai nạn máy bay hằng năm. Trong lãnh vực của chúng tôi, chúng tôi không thể xác định công ty nào tốt nhất về tư vấn cộng đồng trước khi biết họ, nhà cung cấp nào luôn trả lương đúng hạn hay chính phủ nào thường điều tra vi phạm nhân quyền.

Khi những quan điểm kinh doanh cũ không còn, những gì được đo sẽ được quản lý. Và hiện tại, chúng ta đang làm một điều mà không có điều kia.

Điều kỳ diệu nhất về chuyến bay 243 của hãng hàng không Aloha có lẽ là, sau khi phần trên của máy bay bị cuốn đi, viên phi công đã xoay sở để hạ cánh an toàn. Thậm chí trước khi các hãng hàng không và nhà làm luật thực hiện cải cách hệ thống, họ đã xây dựng một hệ thống hạ tầng – dây an toàn, mặt nạ oxy, lối thoát khẩn cấp – đã ngăn chặn tai nạ trở thành thảm hoạ.

Trong nhân quyền, khi chúng ta tiếp tục phát triển hệ thống thông tin của chính mình – chia sẻ và giải quyết rủi ro của chính mình, quan trọng là chúng ta có thông tin để nhận diện thành công và chứa đựng thất bại.

Điều này nghe có vẻ như nhiệm vụ bất khả thi, nhưng hãy tưởng tượng ra những thách thức của ngành công nghiệp hàng không những năm 1980. Công nghệ phức tạp, lợi ích kinh tế bị bớt đi, rủi ro lớn về làm sai. Có một khoảng thời gian tai nạn máy bay dường như không tránh khỏi giống như các công ty đa quốc gia vi phạm nhân quyền.
Thách thức mà chúng ta đối mặt trong lãnh vực của chúng ta là lớn, nhưng không phải là không thể vượt qua. Bước đầu tiên hướng đến ngăn chặn tai nạn, sau hết, là biết ở đâu, làm thế nào và tại sao tai nạn xảy ra.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s