UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P6)

ENGLISH: Learning the Treasure within – Jacques Delors

Báo cáo Ủy ban quốc tế UNESCO về giáo dục cho thế kỷ 21– Những điểm nổi bật 

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P1)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P2)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P3)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P4)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P5)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P6)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P7)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P8)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P9)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P10)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P11)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P12)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P13)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P14)

Đánh giá ảnh hưởng của Báo cáo UNESCO Delors 1996: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn

 
https://i1.wp.com/ecx.images-amazon.com/images/I/512ZLvBLRJL._SY344_BO1,204,203,200_.jpg

Các giai đoạn và cầu nối của giáo dục: một cách tiếp cận mới

Bằng cách tập trung đề xuất vào khái niệm về giáo dục và học tập suốt đời, Ủy ban không có ý định truyền đạt ý tưởng rằng bằng một bước nhảy vọt về chất lượng như vậy ta có thể tránh việc suy nghĩ thấu đáo về các cấp học khác nhau. Trái lại, vấn đề học tập suốt đời đặt ra để tái khẳng định  một số các nguyên tắc tiên tiến chính của UNESCO, như là nhu cầu thiết yếu cho giáo dục cơ bản, để thúc giục việc xem xét lại vai trò của giáo dục trung học và để kiểm tra các vấn đề nổi cộm bở sự phát triển của giáo dục đại học, đặc biệt là hiện tượng giáo dục đại học đại trà.

Khá là đơn giản, học tập suốt đời hiện thực hóa việc tổ chức các giai đoạn khác nhau của giáo dục để cung cấp cho sự chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn khác và để đa dạng hóa các hướng đi thông qua hệ thống, trong khi tăng cường giá trị của mỗi giai đoạn. Điều này có thể là một cách để tránh một lựa chọn cam go giữa chọn lọc bởi khả năng – điều làm tăng  lượng thất bại về học thuật và những rủi ro của sự loại trừ – và nền giáo dục tương đồng cho mọi người –  điều mà có thể cản trở các tài năng.

Những điều nói trên không có cách nào làm giảm đi định nghĩa xuất sắc về các nhu cầu học tập cơ bản được đưa rưa năm 1990 tại Hội nghị thế giới về Giáo dục cho tất cả mọi người (Jomtien, Thái Lan):

Những nhu cầu này bao gồm các công cụ học tập cần thiết (như là biết đọc biết viết, diễn đạt bằng lời nói, tính toán và giải quyết vấn đề) và các nội dung học tập cơ bản (như là kiến thức, kỹ năng, giá trị và thái độ) được đáp ứng bởi nhu cầu  để nhân loại có thể tồn tại được, để phát triển đầy đủ các năng lực của mình, để sống và làm việc với lòng tự trọng, để tham gia đầy đủ vào sự phát triển, để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, để đưa ra các quyết định có hiểu biết, và để tiếp tục việc học tập. (Tuyên ngôn Thế giới về Giáo dục cho Mọi người, Điều. 1, đoạn. 1.)

Những điều kể trên chắc chắn là một danh mục ấn tượng, nhưng danh mục này không nhất thiết ám chỉ sự quá tải cho chương trình giảng dạy. Mối quan hệ giáo viên-học sinh, việc học tập có sẵn trong môi trường địa phương của trẻ em, và sự sử dụng hiệu quả các phương tiện truyền thông hiện đại (nơi chúng tồn tại) có thể kết hợp đóng góp vào sự phát triển cá nhân và trí tuệ của mỗi học sinh. Điều ‘3 Rs’ – Đọc, viết và số học – (The ‘3 Rs’- reading, writing and arithmetic) nêu ra quyền được hưởng đầy đủ nhu cầu của trẻ. Sự kết hợp của việc giảng dạy truyền thống và các phương pháp tiếp cận ngoài trường học nên cho phép trẻ em trải nghiệm ba chiều kích của giáo dục – 1- Đạo đức và văn hóa, 2- khoa học và công nghệ, 3 – kinh tế và xã hội.

Nói một cách khác, giáo dục là một kinh nghiệm xã hội mà trẻ em học về chính bản thân mình, phát triển các kỹ năng giao tiếp và tiếp thu kiến thức và các kỹ năng cơ bản. Kinh nghiệm này nên bắt đầu ở thời thơ ấu, trong các hình thức khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh, nhưng luôn luôn diễn ra với sự tham gia của gia đình và cộng đồng địa phương.

Hai quan sát mà Ủy Ban thấy rằng quan trọng nên được bổ sung ở giai đoạn này.

Giáo dục cơ bản cần được mở rộng trên toàn thế giới, đến với 900 triệu người lớn mù chữ, 130 triệu trẻ em không được đi học ở trường, và hơn 100 triệu trẻ em bỏ học sớm. Cam kết rộng lớn này là một ưu tiên cho các hỗ trợ kỹ thuật và các dự án hợp tác được thực hiện như một phần của hợp tác quốc tế.

Giáo dục cơ bản dĩ nhiên là một vấn đề ở tất cả các nước, kể cả các nước công nghiệp hóa. Từ giai đoạn ban đầu này trở đi, nội dung giáo dục phải được thiết kế để kích thích một tình yêu học tập và kiến thức và do đó phát triển những mong muốn và cung cấp các cơ hội cho việc học tập suốt đời.

Điều này đưa chúng ta đến một trong các lĩnh vực cơ bản nhiều vấn đề trong bất kỳ cải cách nào, rằng về các chính sách được áp dụng cho các giai đoạn của tuổi dậy thì và thanh niên, giữa giáo dục tiểu học và làm việc hoặc giáo dục đại học. Để có định nghĩa mới, các trường trung học đã cắt bỏ nhiều hơn là một con số đáng tiếc trong tư duy giáo dục. Điều này là mục tiêu chỉ trích đáng kể và cũng gây ra một sự thất vọng lớn.

Một trong những nguyên nhân của sự thất vọng này là các yêu cầu ngày càng tăng và ngày càng đa dạng,  dẫn đến sự tăng lên nhanh chóng lượng tuyển sinh và quá tải chương trình. Từ đó vấn đề quen thuộc gắn liền với  giáo dục đại trà, trong đó các nước kém phát triển có thể không dễ dàng giải quyết tại một trong hai vấn đề là tài chính hoặc trình độ tổ chức. Một nỗi lo lắng từ các học sinh tốt nghiệp, những người phải đối mặt với tình trạng thiếu cơ hội, lo lắng được tăng lên bởi nỗi ám ảnh tất cả hoặc không gì cả với việc phải học lên đại học. Thất nghiệp hàng loạt ở nhiều nước cho biết thêm tình trạng bất ổn. Ủy ban nhấn mạnh tình trạng đáng cảnh báo khi mà xu hướng đang hàng đầu, ở cả khu vực nông thôn và thành thị, ở cả các nước đang phát triển và các nước công nghiệp, không chỉ đối với thất nghiệp mà còn đối với việc không tận dụng hết các nguồn nhân lực.

Ủy ban được thuyết phục bởi chính mình rằng cách duy nhất ra khỏi tình hình khó khăn này là một sự đa dạng rất lớn về các loại nghiên cứu sẵn có. Điều này phản ánh một trong những mối quan tâm chính của Ủy ban, điều mà để tạo ra nhiều nhất các hình thức tài năng, để giảm thiểu thất bại về học thuật và ngăn chặn cảm giác quá sức phổ biến trong giới trẻ là  họ bị loại, bị bỏ loại không một chút triển vọng.

Những hình thức giáo dục khác nhau này nên bao gồm cả giáo dục thông thường, trong đó tập trung nhiều hơn vào sự trừu tượng – abstract và khái niệm hóa – conceptualization, và các phương pháp tiếp cận trong đó xen kẽ trương học với kinh nghiệm làm việc theo một cách đưa ra các khả năng bổ sung và các xu hướng mới. Trong mọi trường hợp, nên có những cầu nối giữa các phương pháp tiếp cận này để những lỗi trong sự lựa chọn phương hướng – điều quá thường xuyên xảy đến – có thể được sửa chữa.

Ủy ban cũng tin rằng triển vọng của khả năng quay trở lại với giáo dục hoặc đào tạo sẽ làm thay đổi hoàn cảnh nói chung bằng cách đảm bảo với những người trẻ tuổi rằng số phận của họ không bị định đoạt mãi mãi trong độ tuổi từ 14 đến 20. Giáo dục đại học nên được nhìn từ cùng góc độ này.

Một điểm đầu tiên cần nhớ là, bên cạnh các trường đại học, còn có các loại hình khác về các tổ chức giáo dục đại học ở nhiềunước. Một số tổ chức đã chọn ra được các sinh viên có khả năng nhất trong khi những tổ chức khác đã được thiết lập để cung cấp sự đào tạo nghề chất lượng cao, được đặt mục tiêu cụ thể, kéo dài từ hai đến bốn năm. Sự đa dạng hóa như vậy không thể phủ nhận sẽ đáp ứng các nhu cầu của xã hội và nền kinh tế khi biểu hiện ở cả cấp độ quốc gia và cấp độ khu vực.

Sự chọn lọc ngày càng nghiêm ngặt để giảm bớt những áp lực gây ra bởi giáo dục đại học đại ở các quốc gia giàu có nhất là không thể chấp nhận được dù về mặt chính trị hay về mặt xã hội. Một trong những nhược điểm chính của cách tiếp cận như vậy là nhiều người trẻ đang bị loại ra khỏi quá trình giáo dục trước khi họ có thể có được một văn bằng chứng nhận- Do đó họ ở trong tình trạng khó khăn tuyệt vọng trong việc điều thu được không phải là một chất lượng chính thức cũng không phải là một sự đào tạo thích hợp cho thị trường việc làm.

Sự mở rộng về lượng tuyển sinh do đó cần phải được quản lý, nhưng điều này có thể được giữ trong giới hạn như một kết quả của cải cách giáo dục trung học, cùng với mở rộng phạm vi được đề xuất bởi Ủy ban. Các trường Đại học sẽ đóng góp vào quá trình này bằng cách đa dạng hóa những gì mà họ cung cấp:

  • như là cơ sở khoa học và các trung tâm giáo dục, những nơi mà từ đó sinh viên tiếp tục nghiên cứu hoặc giảng dạy lý thuyết hoặc ứng dụng;
  • như là các cơ sở cung cấp các chứng chỉ nghề nghiệp, kết hợp kiến thức cấp cao và các kỹ năng, với các khóa học và nội dung liên tục đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế;
  • như là một số trong các địa điểm gặp gỡ chính cho việc học tập suốt đời, mở các cánh cửa của họ cho người lớn, những người muốn tiếp tục sự học của họ hoặc để thích nghi và phát triển kiến thức của họ hoặc để thỏa mãn hứng thú học tập của họ ở tất cả các lĩnh vực của đời sống văn hóa; và
  • như là các đối tác hàng đầu trong hợp tác quốc tế, tạo điều kiện cho sự trao đổi của giáo viên và học sinh và đảm bảo rằng sự giảng dạy tốt nhất sẵn sàng được thực hiện rộng rãi thông qua các giáo sư quốc tế.

Bằng cách này, các trường đại học sẽ vượt qua được những sai lầm trong tổ chức mà sai lầm trở thành xung đột giữa logic về dịch vụ công cộng và logic về thị trường việc làm. Các trường đại học cũng sẽ giữ được định hướng về trí thức và xã hội của mình, theo nghĩa, là người canh gác cho các giá trị phổ quát và di sản văn hóa. Ủy ban xem những điều này như là những lý do thuyết phục cho việc thúc đẩy mạnh mẽ sự tự chủ đại học lớn hơn.

Khi phát triển các đề xuất này, Ủy ban nhấn mạnh rằng những vấn đề này mang một ý nghĩa đặc biệt ở các nước nghèo, nơi các trường đại học có một vai trò quyết định. Ở các nước đang phát triển, các trường đại học phải học hỏi từ quá khứ của chính mình và phân tích các khó khăn của đất nước mình, tham gia vào nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp cho vấn đề cấp thiết nhất trong số các khó khăn tồn tại. Đây cũng là nghĩa vụ của các trường đại học nhằm đề xuất một tầm nhìn mới cho sự phát triển mà sẽ cho phép đất nước của mình  xây dựng một tương lai thực sự tốt hơn. Các trường đại học phải cung cấp sự đào tạo nghề và đào tạo công nghệ cho các nhà lãnh đạo tương lai. Đào tạo cho giáo dục trung cấp và đại học được yêu cầu nếu đất nước cần phải thoát khỏi guồng quay của đói nghèo và kém phát triển. Điều này là đặc biệt cần thiết để chia ra các mô hình phát triển mới cho các vùng như tiểu Sahara châu Phi, như đã được thực hiện đối với một số nước Đông Á, trên cơ sở từng trường hợp cụ thể.

(còn tiếp)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s