Đề nghị đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

ratruong

Đề nghị sau đây là một khung tư duy gồm những nguyên tắc chính để đổi mới hệ thống giáo dục Đại học VN. Mỗi nguyên tắc chính đều có nhiều chi tiết cần thực hành khi khai triển thành hành động cụ thể.

1. Cạnh tranh trong thị trường tự do: Khi có cạnh tranh tự do thì sản phẩm (giáo dục) tăng chất lượng và giá cả thấp xuống.

2. Đại học tự trị: Đại học là nơi dạy người ta suy nghĩ và sáng tạo, và nơi sản xuất chất xám cho đất nước. Đại học phải được tự trị, để có thể tự do dạy bất kì môn gì, dạy bất kì kiểu nào, nghiên cứu bất kì đề tài nào, tự do tuyển chọn và quản lý giáo chức và sinh viên, và độc lập tài chính, để tự do phát triển tri thức. Tiếp tục đọc “Đề nghị đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”

Some info and statistics on Education in Vietnam – Một số thông tin và thống kê về giáo dục ở VN

  1. Viet Nam National Education for All 2015 review
    – At UNESCO
    – At CVD
    Báo cáo Quốc gia – Giáo dục cho mọi người 2015 của Việt Nam
    – At UNESCO
    – At CVD
  2. International Standard Classification for Education (ISCED 2011)
  3. Luật Giáo Dục
  4. Chiến lược Phát triển Giáo Dục Việt Nam 2009-2020 (at UNESCO)
    – pdf file on CVD
  5. Những con số biết nói về giáo dục đại học Việt Nam – Vietnamnet (Aug. 11, 2017)
    Bức tranh toàn cảnh về nền giáo dục Việt Nam những năm qua – giaoduc.net.vn (Aug. 13, 2017)
  6. Education in Vietnam – World Education News and Reviews (Nov. 8, 2017)
  7. Tóm tắt báo các đánh giá ngành giáo dục – Asian Development Bank (2012-2015)
    – pdf file on CVD
  8. Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020”
  9. Vietnam Non-Formal Education – UNESCO (2007)
    – pdf file on CVD
  10. Vietnam Education Statistics – General Statistics Office of VN
  11. Vietnam – High quality education for all by 2020 : World Bank Overview/policy report (English)
    – pdf file on CVD
  12. The Higher Education System in Viet Nam (Kristy Kelly, Director of Institute of International Education/VN, 2008)
    – pdf file on CVD
  13. Education in Vietnam – WERN
  14. Vietnam: Higher Education and Skills for Growth – World Bank (june 2008)
    – pdf file on CVD
  15. VN Quality Education for All_World Bank
  16. Achievements and Lessons Learned from Vietnam’s Higher Education Quality Control System After a Decade of Establishment – International Education Journal (2017)
    – pdf file on CVD
  17. Facts and Details – Higher Education, Science and Universities in Vietnam
  18. The Road Ahead for Higher Education Sector in Vietnam, Le Thi Kim Anh & Martin Hayden (2017)
  19. Higher Education in Vietnam Shows Steady Improvement – The Borden Project
  20. World Bank Database
  21. Vietnam: Preparing the Higher Education Sector Development Project – ADB Technical Consultant’s Report (2010)
  22. Vietnamese higher education: Opportunities and challenges for foreign institutions (Jan. 2018)
  23. Vietnam: Phát triển Giáo Dục Đại Học đáp ứng nhu cầu công việc – World Bank
  24. Survey Assessment of Vietnamese Youth Round1 (SAVY1 – 2003) – Ministry of Health, General Statistic Office, WHO, UNICEP
    – pdf file on CVD
  25. Survey Assessment of Vietnamese Youth Round 2 (SAVY2) – Ministry of Health, General Statistic Office, WHO, UNICEP. Hanoi: Statistics Publishing House; 2010. (No electronic copy)
  26. Health of Adolescent in Vietnam (Summary of SAVY1 and SAVY2) – WHO (2011)
    – pdf file on CVD
  27. OECD Youth Report – VietNam (2017)
    – pdf file on CVD
  28. Đến năm 2020 sinh viên người dân tộc thiểu số đạt 130-150 sinh viên/vạn dân
  29. Nghị quyết Số 52/NQ-CP (2016) Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030
  30. Tình hình giáo dục của dân tộc thiểu số ở bậc Cao đẳng và Đại học – Gilaipraung.com
  31. Tăng cường công tác phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số – cơ sở quan trọng để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc – Tạp chí Cộng Sản
  32. Kết quả điều tra thực trạng KT-XH 53 dân tộc thiểu số năm 2015 – Ủy ban Dân Tộc
  33. Đại học tự trị – University autonomy

 

Châu Á “nhập khẩu” mô hình giáo dục Phần Lan: Vì sao không thành công?

TT – Phần Lan, với dân số 5 triệu người, trở thành quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới những năm gần đây. Nhiều quốc gia đã cử các học giả, nhà nghiên cứu sang tìm hiểu mô hình giáo dục của đất nước này, nhưng lại không thể áp dụng hiệu quả. Vì sao?

Châu Á "nhập khẩu" mô hình giáo dục Phần Lan: Vì sao không thành công? Phóng to

Giáo viên hướng dẫn học sinh trong lớp ở Phần Lan – Ảnh: FT

tuoitre.vn_Bí mật thành công của nền giáo dục Phần Lan chính là chất lượng dạy học, lấy học sinh làm trung tâm và đội ngũ giáo viên được quan tâm và ưu tiên hàng đầu, chứ không chạy đua theo thành tích.

Tất cả giáo viên đều được đào tạo nghiêm ngặt, phải có bằng thạc sĩ mới được đứng lớp và họ được xem là những chuyên gia giáo dục. Phần Lan lựa chọn và tuyển dụng giáo viên rất kỹ lưỡng. Chẳng hạn trong năm 2010, có 1.258 sinh viên đăng ký chương trình đào tạo giáo viên tiểu học nhưng chỉ 123 người (9,8%) được chấp nhận để tham gia chương trình đào tạo giáo viên tiểu học trong thời gian năm năm. Mức lương hằng năm của một giáo viên tiểu học từ 40.000-60.000 USD và giáo viên làm việc 190 ngày/năm.

“Chương trình đào tạo giáo viên tiểu học năm năm rất tốn kém, nhưng đội ngũ giáo viên được đào tạo ra đều có năng lực cao và được xã hội tôn trọng” – Jari Lavonen, trưởng khoa sư phạm tại đại học Helsinki, cho biết.

Chương trình dạy học linh động

Hàn Quốc băn khoăn chuyện học bằng tiếng Anh

Tiếp tục đọc “Châu Á “nhập khẩu” mô hình giáo dục Phần Lan: Vì sao không thành công?”

Việt Nam nghiên cứu nhập khẩu chương trình giáo dục Phần Lan

Việt Nam nghiên cứu nhập khẩu chương trình GD Phần Lan
(PLO)- Việt Nam và Phần Lan trao đổi về khả năng mua bản quyền xuất bản các sách về toán, khoa học, tiếng Anh, chương trình STEM; nhập khẩu chương trình đào tạo bậc tiểu học, phổ thông, ĐH của Phần Lan…

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ cùng đoàn công tác của Bộ GD&ĐT vừa có chuyến thăm và làm việc với nhiều cơ quan giáo dục của Phần Lan.

Theo đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Văn hóa Phần Lan Sanni Grahn-Laasonen, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã chứng kiến ký kết 18 biên bản ghi nhớ giữa các trường ĐH và trung học của Việt Nam với các đối tác Phần Lan, mở ra nhiều cơ hội học tập tốt hơn cho học sinh, sinh viên Việt Nam.

Các biên bản ghi nhớ tập trung chủ yếu vào bốn lĩnh vực: Chuyển giao tài liệu về chương trình và sách giáo khoa, chuyển giao công nghệ đào tạo trực tuyến, khuyến khích mở thêm trường phổ thông Phần Lan ở Hà Nội (bên cạnh dự án trường phổ thông Phần Lan ở TP.HCM đang trong quá trình hoàn tất); hợp tác ĐH để cùng liên kết đào tạo một số lĩnh vực; phối hợp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên.

Cũng trong dịp này, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã hội đàm với bộ trưởng Thương mại và Phát triển Phần Lan. Hai bên đã trao đổi về khả năng mua bản quyền xuất bản các sách về toán, khoa học, tiếng Anh, chương trình STEM; nhập khẩu chương trình đào tạo bậc tiểu học, phổ thông, ĐH của Phần Lan; thúc đẩy các hoạt động hợp tác, dự án về khởi nghiệp…

TN

Best universities in the Asia-Pacific region 2017

The top universities in the Asia-Pacific region according to data from Times Higher Education

Times Higher Education has launched its first Asia-Pacific University Ranking 2017 to reflect the region’s growing strength in the higher education sector.

THE’s Asia-Pacific University Ranking 2017 analysed universities across 38 nations in East Asia, Southeast Asia and Oceania. The overall ranking features just over 200 universities from 13 different nations.

The ranking uses the same performance indicators as the THE World University Rankings 2016-17, however the weightings were adjusted to reflect the younger profile of some of the universities in the region. The full methodology can be found here.

Japan is the most-represented nation with 69 universities featured. China is in second place with 52 universities. Other countries with a strong presence in the ranking are Australia (35 universities), Taiwan (26), South Korea (25) and Thailand (nine). Tiếp tục đọc “Best universities in the Asia-Pacific region 2017”

Education Ministry’s survey shows weaknesses of non-state universities

Last update 07:30 | 21/04/2017

VietNamNet Bridge – A report by the Ministry of Education and Training (MOET) about the status of non-state universities is nothing new, but the schools complain they are at a disadvantage compared with state-owned schools.

vietnam economy, business news, vn news, vietnamnet bridge, english news, Vietnam news, news Vietnam, vietnamnet news, vn news, Vietnam net news, Vietnam latest news, high school finals, MOET, non-state schools

A comprehensive survey of 59 of 60 non-state schools was carried out for the first time by MOET. The schools account for 25.5 percent of total 235 universities and academies in Vietnam.

Non-state schools’ reports in 2016 showed that they had 20,500 lecturers, 71 percent of whom were permanent, while the others were visiting lecturers. At the Bac Ha International University, the number of visiting lecturers was higher than permanent le turers (49 vs 48). Tiếp tục đọc “Education Ministry’s survey shows weaknesses of non-state universities”

No student left behind: universities offer compassion, care for the poor

vietnamnews

Update: June, 19/2017 – 09:00

Students play ping pong at Cỏ May Dormitory, which provides free accommodation to poor university students in HCM City. —VNS Photo Gia Lộc

Gia Lộc

HCM CITY — Trần Thị Diễm Sương was about to enter her third year of university when her mother told her she could no longer afford to pay her tuition and living expenses in HCM City.

With her future in doubt, Sương decided to apply for admission to Cỏ May Dormitory, founded by the late Phạm Văn Bên, a humanitarian and businessman whose mission was to help the disadvantaged attend university.

Located on the campus of Nông Lâm University in HCM City’s Thủ Đức District, the dorm offers free housing and VNĐ40,000 (US$1.75) for daily meals to poor students with excellent marks attending any university in the city. Tiếp tục đọc “No student left behind: universities offer compassion, care for the poor”

Four VN universities get accreditation from France

vietnamnews

Update: June, 14/2017 – 16:10

The Hà Nội University of Science and Technology is one of the four universities accredited by the High Council for Evaluation of Research and Higher Education.—Photo dantri.com.vn

HÀ NỘI — Four universities in Việt Nam have been evaluated and accredited for meeting international standards by the High Council for Evaluation of Research and Higher Education (HCERES) in France.

The four universities are Hà Nội University of Science and Technology, Hồ Chí Minh City University of Technology, Đà Nẵng University of Technology, and the National University of Civil Engineering, all of which offer the Excellent Engineer Training Programme (PFIEV) supported by the French government.

This is the first time that an international organisation has evaluated higher education institutions in the country. The accreditation is valid for five years, from 2017 to 2022.

Till date, 18 courses have been introduced under the PFIEV programme, and 16 of them have been evaluated and accredited by the French Engineering Qualifications Commission (CTI).

In March, 2016, the CTI sent a delegation of experts to Việt Nam for the third time to evaluate the quality of PFIEV’s engineering degree holders.

In April 2016, the Ministry of Education and Training sent a letter to the HCERES, requesting the evaluation and accreditation of the four above-mentioned institutions. All four universities then started preparing self-assessment reports to meet the HCERES standards.

After a preliminary survey by the HCERES expert group last October, it was decided that all four institutions are eligible to conduct the accreditation.

In January, the four universities completed and submitted their self-assessment reports as required by the HCERES. By the end of February, HCERES set up two expert delegations, each consisting of seven members, all senior experts in higher education management and training, to assess the reports.

The process of accreditation involved several steps aimed at examining and evaluating practical activities, including quality assurance of facilities, teaching staff, training, research activities, management innovation, method innovation, students’ opinion polls, staff, managers, and also the direction of development of the institution in the future.

Based on the analysis of the self-assessment reports and a three-day direct assessment, the HCERES expert team decided to accredit these four universities as having meet international university accreditation standards. — VNS

Fulbright University Việt Nam gets $15.5m US grant

vietnamnews

Update: June, 07/2017 – 18:00

US ambassador to Việt Nam Ted Osius hands over USAID grant of US$7.2 million to Fulbright University Việt Nam president Đàm Bích Thủy in HCM City earlier this week. — VNS Photo

Viet Nam News HCM CITY — Fulbright University Việt Nam (FUV) has received two grants worth US$15.5 million from the US Government.

A $7.2 million grant from the United States Agency for International Development (USAID) will support admissions and student recruitment policies and help establish financial aid and scholarship procedures for bachelor degree programmes.

The US State Department’s Bureau of Education and Cultural Affairs will provide $8.3 million to support bachelor’s and master’s degree programmes.

FUV recently got its operating licence and is preparing for its firstmaster’s course in autumn this year, Đàm Bích Thủy, its president, said.

The first undergraduate class will begin a year later.

Thủy announced the launch of an English language summer programme.

Fulbright Everest Launchpad will select 40 high school students for an eight-week course fully funded by FUV.

For the first four weeks all participants will study in a campus in HCM City before learning at home with online personal tutors. — VNS

World Bank funds US$155 Million to Support Autonomous Higher Education in Việt Nam

vietnamnews

Update: May, 16/2017 – 18:00

A World Bank project will support the financing of new facilities and equipment for teaching and research.—VNA/VNS Photo
Viet Nam News WASHINGTON — The World Bank’s Board of Executive Directors approved today US$155 million in financing to strengthen the research, teaching, and institutional capacity of three universities and improve the management of Việt Nam’s higher education system.

More than 150,000 students and 3,900 members of faculty will benefit from the investments for Việt Nam’s National University of Agriculture, the University of Science and Technology in Hà Nội, and the Industry University of Hồ Chí Minh City. Some 600,000 students and 27,000 lecturers from other higher education institutions will also gain access to a digital library at the National Economics University.

“Việt Nam’s gains in higher education are evident in the numbers: 17 times more students enrolled since 1991,” says Ousmane Dione, the World Bank Country Director for Việt Nam.

“But Việt Nam needs stronger growth in labour productivity and further significant shifts of the workforce to more productive sectors. Addressing this challenge requires different skills sets and competencies and further strengthening the access to, and quality of higher education. This is at the core of what this project aims to achieve,” he added.

The project will support the financing of new facilities and equipment for teaching and research, as well as the strengthening management systems.

Additional objectives of the project include support for the strengthening of the key components of higher education – such as the national accreditation system – as well as efforts to share the lessons learned by the beneficiary universities.

The International Development Association, the World Bank’s fund for low income countries, will provide US$155 million to the US$174 million project, with the Vietnamese Government providing the remaining funds.—VNS

Public colleges should become autonomous

vietnamnews

Update: May, 06/2017 – 10:08

The Government wants public colleges to become autonomous in order to be competitive, but many of them are worried about such a move, especially the financial aspect.— Photo nld.com.vn

HCM CITY — The Government wants public colleges to become autonomous in order to be competitive, but many of them are worried about such a move, especially the financial aspect.

They are worried autonomy would cause them to lose Government funding forcing them to hike fees. Tiếp tục đọc “Public colleges should become autonomous”

Why we are teaching science wrong, and how to make it right

Active problem-solving confers a deeper understanding of science than does a standard lecture. But some university lecturers are reluctant to change tack.

15 July 2015

Article tools

Illustration by Vasava

Outbreak alert: six students at the Chicago State Polytechnic University in Illinois have been hospitalized with severe vomiting, diarrhoea and stomach pain, as well as wheezing and difficulty in breathing. Some are in a critical condition. And the university’s health centre is fielding dozens of calls from students with similar symptoms. Tiếp tục đọc “Why we are teaching science wrong, and how to make it right”

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P11)

ENGLISH: Learning the Treasure within – Jacques Delors

Báo cáo Ủy ban quốc tế UNESCO về giáo dục cho thế kỷ 21– Những điểm nổi bật 

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P1)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P2)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P3)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P4)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P5)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P6)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P7)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P8)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P9)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P10)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P11)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P12)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P13)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P14)

Đánh giá ảnh hưởng của Báo cáo UNESCO Delors 1996: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn

 
https://i1.wp.com/ecx.images-amazon.com/images/I/512ZLvBLRJL._SY344_BO1,204,203,200_.jpg

Chương 5: Giáo dục suốt đời

  • Khái niệm Giáo dục suốt đời là chìa khóa cho con đường đến thế kỷ 21. Giáo dục suốt đời vượt xa sự phân biệt truyền thống giữa giáo dục ban đầu và giáo dục nối tiếp. Giáo dục suốt đời liên kết với khái niệm thường được lên trước như là xã hội học tập, trong đó mọi nỗ lực đáp ứng một cơ hội về giáo dục và phát huy đầy đủ tiềm năng của con người.

Tiếp tục đọc “UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P11)”

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P7)

ENGLISH: Learning the Treasure within – Jacques Delors

Báo cáo Ủy ban quốc tế UNESCO về giáo dục cho thế kỷ 21– Những điểm nổi bật 

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P1)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P2)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P3)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P4)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P5)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P6)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P7)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P8)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P9)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P10)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P11)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P12)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P13)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P14)

Đánh giá ảnh hưởng của Báo cáo UNESCO Delors 1996: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn

 
https://i1.wp.com/ecx.images-amazon.com/images/I/512ZLvBLRJL._SY344_BO1,204,203,200_.jpg

Để có các chiến lược cải cách đúng

Trong khi không được đánh giá thấp nhu cầu quản lý những ràng buộc ngắn hạn, cũng không bỏ qua nhu cầu thích ứng với các hệ thống hiện có, Ủy ban muốn nhấn mạnh sự cần thiết của  cách tiếp cận dài hạn hơn nếu muốn các cải cách thành công. Cũng trên cơ sở này, Ủy Ban nhấn mạnh một thực tế là có quá nhiều cải cách kế tiếp nhau có thể là cái chết của việc cải cách. Bởi vì các cải cách đó không cho hệ thống thời gian cần thiết để hấp thụ những thay đổi hoặc để có được tất cả các đối tượng quan tâm tham gia vào quá trình này. Hơn nữa, những thất bại trong quá khứ cho thấy nhiều nhà cải cách áp dụng một cách tiếp cận mà hoặc là quá cực đoan hoặc là quá lý thuyết, lờ đi những hữu ích có thể học được từ các kinh nghiệm trước đó hoặc bác bỏ những thành tựu trong quá khứ. Kết quả là, giáo viên, phụ huynh và học sinh bị mất phương hướng và không còn nhiều sẵn sàng để chấp nhận và thực hiện cải cách. Tiếp tục đọc “UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P7)”

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P6)

ENGLISH: Learning the Treasure within – Jacques Delors

Báo cáo Ủy ban quốc tế UNESCO về giáo dục cho thế kỷ 21– Những điểm nổi bật 

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P1)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P2)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P3)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P4)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P5)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P6)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P7)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P8)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P9)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P10)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P11)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P12)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P13)

UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P14)

Đánh giá ảnh hưởng của Báo cáo UNESCO Delors 1996: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn

 
https://i1.wp.com/ecx.images-amazon.com/images/I/512ZLvBLRJL._SY344_BO1,204,203,200_.jpg

Các giai đoạn và cầu nối của giáo dục: một cách tiếp cận mới

Bằng cách tập trung đề xuất vào khái niệm về giáo dục và học tập suốt đời, Ủy ban không có ý định truyền đạt ý tưởng rằng bằng một bước nhảy vọt về chất lượng như vậy ta có thể tránh việc suy nghĩ thấu đáo về các cấp học khác nhau. Trái lại, vấn đề học tập suốt đời đặt ra để tái khẳng định  một số các nguyên tắc tiên tiến chính của UNESCO, như là nhu cầu thiết yếu cho giáo dục cơ bản, để thúc giục việc xem xét lại vai trò của giáo dục trung học và để kiểm tra các vấn đề nổi cộm bở sự phát triển của giáo dục đại học, đặc biệt là hiện tượng giáo dục đại học đại trà.

Khá là đơn giản, học tập suốt đời hiện thực hóa việc tổ chức các giai đoạn khác nhau của giáo dục để cung cấp cho sự chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn khác và để đa dạng hóa các hướng đi thông qua hệ thống, trong khi tăng cường giá trị của mỗi giai đoạn. Điều này có thể là một cách để tránh một lựa chọn cam go giữa chọn lọc bởi khả năng – điều làm tăng  lượng thất bại về học thuật và những rủi ro của sự loại trừ – và nền giáo dục tương đồng cho mọi người –  điều mà có thể cản trở các tài năng. Tiếp tục đọc “UNESCO: Giáo dục – Kho tàng tiềm ẩn (P6)”