Làm sáng tỏ những hiểu lầm về việc đọc và hội chứng khó đọc

English: Unraveling the Myths Around Reading and Dyslexia

Giáo viên đang tìm kiếm phương pháp đào tạo mới để hiểu về khoa học não bộ liên quan đến hội chứng khó đọc (dyslexia), một khuyết tật được cho là phổ biến nhất ở trẻ em.

>Trong 17 năm là giáo viên các môn xã hội ở trường trung học cơ sở tại Nashville, Tennessee, Su Williams hay gặp những học sinh có khó khăn trong việc đọc ở trình độ cơ bản, và những kiến thức mà cô học được trong trường sư phạm và kinh nghiệm giảng dạy trong gần 2 thập kỷ không giúp được gì cho cô.

Cô nói “Tôi học được từ những lớp học của tôi đó là những gì tôi đã được đào tạo – Toàn bộ Ngôn ngữ và phương pháp tập đọc cân bằng – không hề có tác dụng (với trẻ mắc chứng khó đọc). Điều đó đã thức tỉnh tôi”. Không có thời gian để dạy học sinh lớp năm cách đọc lưu loát  hoặc hiểu thấu đáo về cơ chế sinh học cách thức trẻ em học đọc, Williams tiếp tục tập trung vào môn học mà cô phải dạy trong 1 năm học, hy vọng việc đọc của bọn trẻ sẽ dần dần được cải thiện.

Tiếp tục đọc “Làm sáng tỏ những hiểu lầm về việc đọc và hội chứng khó đọc”

Solar farm is good for biodiversity

The issue of vast fields of solar panels restricting other types of land use is still a controversial one for the PV industry but, as the head of Germany’s Federal Association of New Energy Industry Robert Busch said: “Germany is not a plains country but for the climate and energy targets the federal government needs a lot more renewable energy, unless it is … all just lip service.” Tiếp tục đọc “Solar farm is good for biodiversity”

Hong Kong: Học đường biến thành chiến trường và cội rễ sâu xa

  • LOAN PHƯƠNG, 23.11.2019, 08:00

TTCT – Trong khi tám đại học lớn được chính quyền tài trợ ở Hong Kong có lịch sử đấu tranh chính trị đã lâu đời, những cuộc biểu tình do sinh viên khởi phát và đóng vai trò trụ cột khắp vùng lãnh thổ này suốt 5 tháng qua là chưa có tiền lệ. Những trận chiến âm thầm khác diễn ra ngay trong khuôn viên xanh mát của các trường đại học cũng vậy.

Hong Kong: Học đường biến thành chiến trường và cội rễ sâu xa
Sinh viên Đại học Bách khoa Hong Kong đeo mặt nạ trong lễ tốt nghiệp. Ảnh: Nikkei

Tiếp tục đọc “Hong Kong: Học đường biến thành chiến trường và cội rễ sâu xa”

Đề nghị đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

ratruong

Đề nghị sau đây là một khung tư duy gồm những nguyên tắc chính để đổi mới hệ thống giáo dục Đại học VN. Mỗi nguyên tắc chính đều có nhiều chi tiết cần thực hành khi khai triển thành hành động cụ thể.

1. Cạnh tranh trong thị trường tự do: Khi có cạnh tranh tự do thì sản phẩm (giáo dục) tăng chất lượng và giá cả thấp xuống.

2. Đại học tự trị: Đại học là nơi dạy người ta suy nghĩ và sáng tạo, và nơi sản xuất chất xám cho đất nước. Đại học phải được tự trị, để có thể tự do dạy bất kì môn gì, dạy bất kì kiểu nào, nghiên cứu bất kì đề tài nào, tự do tuyển chọn và quản lý giáo chức và sinh viên, và độc lập tài chính, để tự do phát triển tri thức. Tiếp tục đọc “Đề nghị đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”

Học sinh bắt cá bống tặng cô giáo

VNE – Thứ ba, 19/11/2019, 17:29 (GMT+7)

KON TUM – Không có tiền mua quà, em A Chan, học sinh lớp 8 ở huyện Tu Mơ Rông, ra suối bắt cá bống đá mang tặng giáo viên chủ nhiệm nhân ngày 20/11.

“Đó là món quà đặc biệt nhất trong 10 năm công tác tại trường”, cô Đặng Thị Tuyết Thanh, 33 tuổi, giáo viên chủ nhiệm lớp 8A, trường THCS Đăk Rơ Ông xúc động, nói. Trân trọng món quà, cô cẩn thận bỏ vào tủ lạnh, không nỡ ăn.

Món quà học sinh tặng cô Thanh nhân dịp 20/11. Ảnh: Ngọc Oanh.

Số cá bống đá học sinh tặng cô Thanh nhân dịp 20/11. Ảnh: Ngọc Oanh.

Tiếp tục đọc “Học sinh bắt cá bống tặng cô giáo”

Trường học sáng tạo: Cốt lõi của cách mạng cải cách giáo dục

Bài viết nhận định về cuốn sách Creative Schools: The Grassroots Revolution That’s Transforming Education của Ken Robinson Ken Robinson và Lou Aronica.

Một thập kỉ trước, bài chia sẻ trên cộng đồng Tedtalk “Trường học có giết chết sáng tạo?” của Ken Robinson – Giáo sư tại đại học Greg Chalfin bắc Colorado đã trở thành video được theo dõi nhiều nhất trong lịch sử của TEDtalk với hơn 37 triệu lượt xem.

Robinson đã chỉ ra rằng tất cả các hệ thống trường học trên khắp thế giới đều coi trọng một kiểu học giống nhau: Khi trẻ lớn lên, chúng ta bắt đầu dạy chúng dần dần từ thắt lưng trở lên. Và sau đó chúng ta tập trung vào đầu của trẻ. Và hơi thiên về một phía (Robinson, 2006). Trong các trường học sáng tạo: Cuộc cách mạng nền tảng trong cải cách giáo dục, Robinson đã tái hiện các chủ đề giáo dục mà ông đã đề cập trong bài phát biểu làm nên thương hiệu của mình: sự phát triển của sáng tạo, định nghĩa về trí thông minh và sự đa dạng về năng lực của con người mà giáo dục nên phát triển ở trẻ em. Tiếp tục đọc “Trường học sáng tạo: Cốt lõi của cách mạng cải cách giáo dục”

English proficiency of Vietnamese hits five-year low: EF report

tuoitre – Wednesday, November 06, 2019, 14:05 GMT+7

English proficiency of Vietnamese hits five-year low: EF report
A foreign teacher shows a student a picture during an English lesson at an elementary school in Ho Chi Minh City. Photo: Nhu Hung / Tuoi Tre

Vietnamese people’s proficiency in using English has fallen for the third year in a row to reach the lowest point since 2015, according to the 2019 English Proficiency Index compiled by the global education firm Education First (EF).

Vietnamese’ English skills improved from “very low” to “low” between 2011 and 2014, before maintaining a “moderate” proficiency level between 2015 and 2018, according to the annual EF report.

This year’s report, EF’s biggest league table to date, showed Vietnam drastically dropping to 52nd place out of 100 countries and regions with a score of 51.57, which is considered “low” proficiency. Tiếp tục đọc “English proficiency of Vietnamese hits five-year low: EF report”

Những món đồ kể chuyện về học trò miền cao

Theo thống kê của UNDP, mỗi học sinh dân tộc thiểu số Việt Nam phải trải qua quãng đường bình quân 17,6 km để đến được trường trung học phổ thông. Lên đến cấp 3, thì tỷ lệ học sinh dân tộc đi học chỉ còn 41,8%, chưa đến một nửa, theo báo cáo của Hội đồng dân tộc Quốc hội.

Bước được lên nấc thang học vấn là một nỗ lực lớn của nhiều em học sinh vùng núi lẫn gia đình. Trên mỗi đoạn đường đời, những đồ vật tưởng giản đơn lại có một công năng riêng, vun đắp cho những đứa trẻ đi qua đói nghèo, thất học.

VnExpress chọn và giới thiệu 9 đồ vật, hình ảnh tiêu biểu cho đời sống học sinh miền cao, được ghi lại ở các trường THCS bán trú tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Tiếp tục đọc “Những món đồ kể chuyện về học trò miền cao”

Dạy môn Đạo đức ngành kỹ thuật và công nghệ ở bậc đại học – Những vấn đề tồn tại

English: Continuing and Emerging Issues in Engineering Ethics Education

Trong bài viết này, tác giả thảo luận những ưu và nhược điểm của xu hướng giảng dạy và mô hình của chương trình học khi dạy môn Đạo đức trong ngành công nghệ và kỹ thuật ở các trường đại học tại Mỹ.

Hai thập kỷ qua, giáo dục đại học ngành kĩ thuật đã có nhiều thay đổi, gồm có nhận thức ngày càng tang về tầm quan trọng của đạo đức và trách nhiệm xã hội đối của ngành công nghệ kỹ thuật. Một phần do tranh cãi chính trị về ý nghĩa về xã hội của công nghệ và việc thay đổi các tiêu chuẩn giáo dục được phát triển bởi Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ (Accreditation Board for Engineering and Technology – ABET), các nhà giáo dục trong ngành kỹ thuật đã bắt đầu nghiêm túc đón nhận và hành động cho những thử thách khi chuẩn đào tạo những người lành nghệ có năng lực kỹ thuật và nhạy cảm về đạo đức.
Điều này không có nghĩa là các khóa học về đạo đức ngành kỹ thuật đã trở thành chuẩn mực. Stephan năm 1999 xác định rằng gần 70 phần trăm các tổ chức được ABET – Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ công nhận không hề có các khóa học liên quan đến đạo đức cho tất cả sinh viên kỹ thuật. Mặc dù 17% các viện trường đại học có một hoặc nhiều khóa học bắt buộc có nội dung liên quan đến đạo đức, những khóa học này thường không hẳn dạy về đạo đức ngành kỹ thuật, mà dạy các môn liên quan tới đạo đức như: triết học, tôn giáo hoặc các môn học khác. Tuy nhiên, vấn đề đạo đức ngành công nghệ kỹ thuật đã bắt đầu ghi nhận những dấu ấn nhất định khi trở thành môn học bắt buộc cũng như nhiều khóa học tự chọn trong chương trình tại một số trường đại học. Tiếp tục đọc “Dạy môn Đạo đức ngành kỹ thuật và công nghệ ở bậc đại học – Những vấn đề tồn tại”

Xin hãy dành cho thầy Y Jút một vị trí xứng đáng

baodaklak – Cập nhật lúc 10:33, Chủ Nhật, 18/01/2015 (GMT+7)

Linh Nga Niê Kdăm

Trong hồi ký 50 năm theo Bác Hồ, cố bác sĩ Y Ngông Niê Kdăm có nhắc câu chuyện thầy Y Jút giải thích khi học sinh Trường Tiểu học Pháp – Đê ngày ấy hỏi về những người tù bị bắt làm Quốc lộ 14, rằng “đó là những người tù chính trị”.
Phần mộ của vợ chồng nhà giáo Y Jút nằm lọt giữa khu dân cư buôn Păn Lăm. Ảnh: Hoàng Gia
Phần mộ của vợ chồng nhà giáo Y Jút nằm lọt giữa khu dân cư buôn Păn Lăm. Ảnh: Hoàng Gia
Trong hồ sơ xin xây lại ngôi mộ của thầy Y Jút ở buôn Păn Lăm (phường Tân Lập, TP. Buôn Ma Thuột), nhà giáo – Tiến sĩ Phan Văn Bé, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo Dak Nông, đã nói rất kỹ về ông:

Tiếp tục đọc “Xin hãy dành cho thầy Y Jút một vị trí xứng đáng”

Giáo dục nhân văn ở đại học

tiasang – 26/03/2018 08:00 – Neal Koblitz

Một đại học tốt không phải là một cơ sở đào tạo nghề. Nếu như trong đào tạo nghề, một sinh viên chỉ học các kĩ năng liên quan đến kĩ thuật để kiếm một việc làm đủ tốt, thi thoảng có thể học thêm một vài thứ gọi là “kỹ năng mềm”, bao gồm tâm lý học và quản trị, để phục vụ cho việc giám sát nhân viên và giao tiếp với khách hàng. Nhưng, “đại học”, xuất phát từ khái niệm “tri thức toàn cầu” (universal knowledge) và hơn hết, nó có nghĩa là giáo dục nhân văn. Lịch sử, văn học, ngoại ngữ và các môn nghệ thuật là cốt lõi của giáo dục đại học chất lượng cao.

Kết quả hình ảnh cho firestone library princeton nj
Thư viện Firestone của Đại học Princeton, Mỹ dành cho các sách trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Khái niệm “khai phóng” (liberal arts), xuất phát từ gốc Latin liberalis trong thời kì cổ đại, nhằm chỉ những kiến thức tổng quát mà một con người tự do cần nắm được để tham gia vào đời sống dân sự. Trong thời hiện đại, thuật ngữ này thường chỉ chung những môn học nằm ngoài các môn chuyên ngành, kỹ thuật, dạy nghề. “Khai phóng” có thể bao gồm những môn khoa học xã hội và khoa học cơ bản nhưng trọng tâm của giáo dục khai phóng là các ngành nhân văn.

Giáo dục khai phóng đem lại lợi ích to lớn hơn nhiều so với việc dạy nghề một cách hạn hẹp. Trước hết, chất lượng đời sống dân sự của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết của công dân. Điều đó bây giờ còn thiết thực hơn so với trước kia. Chúng ta đang đối mặt với những vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp trong thế kỉ 21 – biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng giữa người giàu và người nghèo, căng thẳng trên trường quốc tế và nguy cơ xảy ra chiến tranh. Trước những thách thức đó, một chính phủ có thể sẽ nhận được sự ủng hộ to lớn của công chúng khi đưa ra những chính sách dài hạn và khéo léo nếu như người dân được giáo dục tốt. Ngược lại, những người dân không có hiểu biết về lịch sử và văn hóa thường có xu hướng ủng hộ những quan điểm cực đoan và hiếu chiến mà họ thu nhận được từ internet hoặc mạng xã hội.

Thứ hai, trong khi dạy nghề chỉ chuẩn bị cho sinh viên trở thành một mắt xích trong một cỗ máy sản xuất hoặc một bộ máy hành chính, giáo dục khai phóng bồi đắp tri thức cho con người một cách toàn diện, chuẩn bị cho họ đối diện với nhiều khía cạnh của đời sống.

Lý do thứ ba – thường không mấy được chú ý, đó là phông kiến thức rộng về các lĩnh vực nhân văn đem lại những lợi ích to lớn cho những chuyên gia trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Chỉ trừ một số rất ít ngoại lệ, nếu muốn tạo ra ảnh hưởng xã hội, những người trong lĩnh vực STEM phải có kĩ năng viết hiệu quả và sáng tạo. Chẳng hạn như trong lĩnh vực của chính tôi, về ứng dụng của toán học trong bảo mật thông tin. Bốn mươi năm trước, vào thuở bình minh của kỷ nguyên máy tính, Hiệp hội Kỹ sư điện và điện tử (IEEE) đã xuất bản một bài báo với nhan đề “Những phương hướng mới trong ngành mật mã học”, được coi là bài báo quan trọng nhất trong lịch sử lĩnh vực này. Viết bởi hai nhà khoa học máy tính được đào tạo một cách toàn diện, Wit Diffie và Martin Hellman, tác động của bài báo không phải bởi những kiến thức chuyên ngành (Phím biến hoán Diffe- Hellman), dù rất ấn tượng mà bởi hai tác giả có khả năng vẽ ra một tương lai của internet mà cho đến bây giờ vẫn đóng vai trò dẫn dắt cho sự phát triển những định luật cơ bản của mật mã học.

Xã hội luôn cần những con người có thể diễn dịch ngôn ngữ khoa học công nghệ thành ngôn ngữ mà công chúng và những nhà hoạch định chính sách có thể hiểu được. Chẳng hạn, các chuyên gia trong lĩnh vực bảo mật dữ liệu, ở mức độ nào đó, phải khuyến cáo chính phủ trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. Hơn nữa, những người có khả năng giao tiếp hiệu quả luôn là thành viên chủ chốt trong một nhóm nghiên cứu liên ngành.

Những nhà khoa học muốn trình bày công trình của họ ở một hội thảo lớn hoặc trên những tạp chí hàng đầu nên học cách viết tốt. Những phần quan trọng nhất của một công bố là phần tóm tắt (Abstract) và mở đầu (introduction), bởi vì đây là phần mà tất cả mọi người sẽ đọc và dựa vào đó để đánh giá người viết. Một phần mở đầu tốt cần phải rõ ràng và hấp dẫn đối với cả những người ngoài ngành, nó kể một câu chuyện đi từ nhận định về vấn đề, tính cấp thiết, tổng quan những nghiên cứu trước đó cho đến khái quát về đóng góp của bài báo và thách thức cho những nghiên cứu và phát triển sau này. Tương tự như vậy, một đơn xin tài trợ hoặc một báo cáo chính về một dự án có thành công hay không phụ thuộc vào khả năng truyền tải những thành tựu khoa học trong một ngôn ngữ đưa ra bối cảnh, lịch sử và phương hướng mà không bị mắc lỗi “thấy cây mà không thấy rừng”.

Điểm chung trong những lý do trên là khả năng kể câu chuyện. Trái ngược với những quan điểm sai lầm về khoa học và công nghệ, một công trình kỹ thuật tốt không phải là những công thức hay phép tính rời rạc mà nó phải thể hiện mình là một phần của câu chuyện dài kì với một dàn nhân vật đông đảo.

Kể chuyện cũng là hoạt động trải dài suốt một đời người, từ khi chúng ta còn thơ bé. Nó cũng là cốt lõi của nhiều truyền thống văn hóa.

Vậy làm sao để một sinh viên kể chuyện giỏi? Đầu tiên và quan trọng nhất, bằng cách đọc những tác phẩm văn học lớn. Tôi có một sự biết ơn sâu sắc, đầu tiên là với tất cả những người thầy dạy Văn học Anh xuất sắc thời phổ thông và thứ hai là với Dostoevsky, tác giả của những tác phẩm mà tôi say mê khi còn trẻ. Một cách khác để sinh viên có thể học cách phân tích bối cảnh và theo dõi sự hình thành và phát triển của một ý tưởng đó là học lịch sử. Thứ ba, một trong những cách hiệu quả nhất để mở rộng quan điểm và trân trọng những sắc thái trong giao tiếp là qua việc học ngoại ngữ và văn học (Tôi học bằng kép là Toán học và Văn học, ngôn ngữ Nga khi tôi còn là sinh viên đại học).

Các trường đại học Mỹ có truyền thống lâu đời về giáo dục khai phóng. Tuy nhiên, mặt bằng chung giáo dục đại học của Mỹ đang bị giảm sút, vì nhiều lý do. Yêu cầu về ngoại ngữ bị hạ thấp hoặc loại bỏ – ở mức mà hầu hết các sinh viên ở đại học Mỹ chỉ biết mỗi tiếng Anh. Hơn nữa, họ cũng không hiểu rõ ngôn ngữ viết của mình đủ tốt, do kĩ năng viết được dạy qua loa ở cả trường phổ thông và đại học.

Nhiều giáo sư phàn nàn về sự “kinh doanh hóa” trong trường đại học của họ. Khái niệm “Kinh doanh hóa” nghĩa là những người điều hành trường đại học đặt ưu tiên tài chính lên hàng đầu. Những khoa có nhiều hợp đồng với khối chính phủ và khối công nghiệp – thường sẽ không bao gồm các khoa liên quan đến các môn khai phóng – mới được hỗ trợ. Sự cắt giảm ngân sách đặc biệt nhắm vào những lĩnh vực trong trường đại học mà không đem lại những lợi ích kinh tế ngay lập tức. Một tỉ lệ lớn ngân sách của đại học giờ đây được dùng để chi trả cho bộ máy hành chính và các chương trình thể thao hơn là những nhu cầu học thuật căn bản. Những người điều hành trường đại học luôn tìm kiếm cách thức để “giáo dục với giá rẻ” qua hình thức các khóa học online, sử dụng những học sinh cao học và các giáo sư danh dự để giảng dạy hơn là những người trong biên chế, và cấp cho sinh viên miễn phí các chứng chỉ cho các môn ở đại học nếu sinh viên đó đã học các khóa tương tự (nhưng với chất lượng rất thấp) ở phổ thông hoặc các trường cao đẳng cộng đồng. Hơn nữa, các giáo sư thì lúc nào cũng bị áp lực phải chấm điểm cao hơn và thiết kế khóa học dễ hơn. Tuy vậy, mặc dù với những xu hướng tiêu cực này, các sinh viên tốt nhất ở những trường đại học hằng đầu ở Mỹ vẫn được giáo dục tốt trong các môn nhân văn.

Điều gì tạo nên đẳng cấp cao của giáo dục đại học? Những sinh viên được giáo dục tốt ở Việt Nam, ngoài tiếng Anh và tiếng Việt, nên biết ít nhất thêm một ngoại ngữ và nền văn học khác – có thể là tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Trung hoặc Ả Rập (cùng với tiếng Anh là một trong sáu ngôn ngữ trong Liên Hợp Quốc). Họ cũng cần phải có kiến thức về truyền thống văn hóa và lịch sử, cả thời cổ và hiện đại và biết trân trọng vị trí của Việt Nam trong lịch sử thế giới.

Những kiến thức lịch sử hết sức cấp thiết đối với những công dân được đào tạo bài bản. Tôi cảm thấy hết sức khó chịu khi nghe thấy những người Mỹ và vài người Việt Nam nói rằng Việt Nam “chỉ nên nghĩ về tương lai thay vì ngoái lại quá khứ”. Sự thiếu hiểu biết về quá khứ không phải là điều đáng tự hào hay đáng khuyến khích. Những sự kiện và truyền thống lịch sử đem lại những bài học giá trị và chỉ dẫn cho tương lai. Trong nhiều trường hợp, nó còn truyền cảm hứng cho thế hệ sau.

Ví dụ, trận Điện Biên Phủ huy hoàng 64 năm về trước là một sự kiện chấn động của thế kỷ 20 – đánh dấu sự kết thúc của chế độ thực dân châu Âu. Trong Kháng chiến chống Mỹ, việc sơ tán trường đại học lên những cánh rừng của Thái Nguyên là một thành tựu chưa từng xuất hiện trong lịch sử thế giới. Trước đấy, chưa bao giờ có một nước đang phát triển trong giai đoạn nghèo khó có đủ khả năng duy trì giáo dục đại học chất lượng cao lúc sơ tán trong khi thủ đô thì bị đánh bom bởi một lực lượng quân đội có sức mạnh khủng khiếp. Theo ý kiến của tôi, sẽ là hợp lý nếu ngày nào đó, những địa điểm lịch sử này, Điện Biên Phủ và địa điểm sơ tán của Đại học Hà Nội được công nhận là di sản thế giới của UNESCO.

Những người trẻ được đào tạo bài bản về nghệ thuật, lịch sử , văn học và ngoại ngữ sẽ có khả năng bảo tồn truyền thống văn hóa của đất nước họ. Họ sẽ không dễ dàng bị dụ dỗ bởi những giá trị giả tạo của chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa tiêu dùng bành trướng đang được du nhập từ các quốc gia khác. Họ có thể dẫn dắt đất nước của họ theo một con đường độc lập.

Hãy để tôi kết luận với một lời cảnh báo. Khái niệm “khai phóng” đang trở thành một từ thời thượng để quảng cáo của những tổ chức gọi là đại học đang mọc lên như nấm ở rất nhiều nước đang phát triển, bao gồm Việt Nam. Nhận định này đặc biệt phổ biến ở những “đại học” mà Mỹ tài trợ, chẳng hạn như Đại học Fulbright Việt Nam. Đừng bị lầm tưởng bởi những bong bóng quảng cáo. Trước khi đồng tình với những tuyên bố “chúng tôi theo đuổi giáo dục khai phóng”, hãy hỏi vài câu sau đây: Có bao nhiêu khoa cung cấp bằng Tiến sĩ ở các môn học như lịch sử, văn học và nghệ thuật? Họ có thư viện kiểu gì? Những khoa học về lịch sử và văn học là về Việt Nam hay các quốc gia khác? Họ có những cơ sở vật chất nào cho các studio về nghệ thuật? Những người điều hành cấp cao là những trí thức thực sự với những công bố khoa học, hay chẳng qua họ chỉ là doanh nhân và các chính trị gia? Trong hầu hết các trường hợp, những câu trả lời cho những câu hỏi này là đủ để tiết lộ tổ chức đấy không phải là những đại học thực sự và không đủ khả năng để theo đuổi giáo dục khai phóng.

Chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho những người trẻ ở Việt Nam không nằm trong những đại học nước ngoài hay đại học tư nhân mà nằm ở sự tiến bộ của những đại học quốc gia và đại học vùng của Việt Nam. Với sự hỗ trợ của chính phủ, những trường đại học này có thể không chỉ đào tạo để cho sinh viên có việc làm mà còn có thể cung cấp một nền giáo dục khai phóng.

Hảo Linh dịch

Mô hình đại học trong đại học của Việt Nam chẳng giống ai

  Linh Hương

(GDVN) – Việc hai đại học lớn nhất ở nước ta không được xây dựng theo mô hình “university” thật sự là một cản trở lớn để phấn đấu trở thành đại học đẳng cấp thế giới.

LTS: Sự tách rời giữa hệ thống các trường đại học và các viện nghiên cứu lớn, và việc vắng mặt các trường đại học đa lĩnh vực là hai tàn tích của mô hình Liên Xô cũ. Đây chính là hai cản trở lớn làm cho khối các nước kinh tế chuyển đổi có rất ít trường đại học đẳng cấp thế giới.

Nhận thấy rõ điều này, chia sẻ với Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư Lâm Quang Thiệp (Đại học Thăng Long) cho rằng, Việt Nam muốn sớm có các trường đại học đẳng cấp thì cần quyết tâm cao trong việc khắc phục các cản trở nói trên.

Theo giáo sư Lâm Quang Thiệp,  việc hai đại học lớn nhất ở nước ta không được xây dựng theo mô hình “university” thật sự là một cản trở lớn để phấn đấu trở thành đại học đẳng cấp thế giới. (Ảnh: Thùy Linh)

Tiếp tục đọc “Mô hình đại học trong đại học của Việt Nam chẳng giống ai”

Vì sao nghiên cứu của sinh viên đại học quan trọng cho khoa học và cho sinh viên

English:
Why Research By Undergraduates Is Important For Science And Students

Giáo sư Laura McManus-Spencer nói chuyện với sinh viên nghiên cứu tại Hội nghị chuyên đề Steinmetz – Ảnh của Union College Communications

forbes – 12-7-2017 – Chad Orzel

Trên báo điện tử về đào tạo đại học, hai nhà hóa học, David S. Rovnyak và George C. Shields, có một bài viết với tiêu đề “Nghiên cứu của sinh viên đại học thúc đẩy khoa học đi lên như thế nào” nói về rất nhiều đóng góp của các nhà nghiên cứu khi còn là sinh viên đại học. Điều này rất phù hợp với quan tâm của tôi, vì một trong nhiều cái mũ tôi đội đó là Giám đốc chương trình Nghiên cứu Đại học tại Union College. Tôi đã dành khá nhiều thời gian của mình với tư cách là một giảng viên của một trường đại học nhỏ làm việc với các sinh viên đại học trong một loạt các dự án nghiên cứu, vì vậy đây rõ ràng là điều tôi đánh giá rất cao. Tiếp tục đọc “Vì sao nghiên cứu của sinh viên đại học quan trọng cho khoa học và cho sinh viên”

Kết hợp các nguyên tắc trong tâm lý học nhận thức để cải thiện việc học của học sinh/sinh viên

English: Incorporating Principles in Cognitive Psychology to Improve Student Learning

students working on a problem in class

Hội nghị chuyên đề STEM FIT 2017 tại Đại học Washington, ở St. Louis, Mark McDaniel, Tiến sĩ, Giáo sư, Tâm lý học và Khoa học não bộ, đồng giám đốc của tổ chức CIRCLE – Center for Integrative Reserch on Cognition, Learning, and Education), và đồng tác giả cuốn sách về phương pháp học Make it Stick: The Science of Successful Learning (2014) đã trình bày toàn bộ nguồn tài liệu về cách nghiên cứu trong tâm lý học nhận thức để hỗ trợ thực hành giảng dạy hiệu quả và cải thiện việc học tập. Từ việc thực hành các thí nghiệm tại phòng thí nghiệm kết hợp với thực tế, nhiều kỹ thuật mà McDaniel trình bày từ cuốn sách có thể áp dụng được cho hầu hết các môn học giúp sinh viên thúc đẩy việc học của mình. Tiếp tục đọc “Kết hợp các nguyên tắc trong tâm lý học nhận thức để cải thiện việc học của học sinh/sinh viên”

Chăm lo cho mầm non vùng cao

14:23, 24/09/2019 [GMT+7]

(Báo Quảng Ngãi)- Chỉ cần nghe thông tin ở đâu có khả năng “xin được” là cô lại chủ động liên lạc, để xin hỗ trợ. Một lần chưa được thì xin nhiều lần. Chính sự chân thành của cô đã thuyết phục được nhiều nhà hảo tâm từ khắp mọi nơi. Nhờ vậy mà học sinh ở các điểm trường mầm non  vùng cao Tây Trà đã có được nơi học tập, vui chơi tốt hơn.

 Niềm vui của các cháu khi có trường mới với nhiều đồ chơi.
Niềm vui của các cháu khi có trường mới với nhiều đồ chơi.

Đó là tấm lòng của cô giáo Trần Thị Minh Hiền (1981), người đã dành cả tuổi thanh xuân để chăm lo cho những mầm non ở một trong những nơi còn nghèo nhất nước. Tiếp tục đọc “Chăm lo cho mầm non vùng cao”