20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ – 8 kỳ

    • Bữa tiệc trong đêm lịch sử Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam
    • Việt – Mỹ: Điều chưa kể về khoảng lặng trước giờ G
    • ‘Nhân tố’ Mỹ và thời khắc của sự đột biến
    • Thách thức của vị Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Mỹ
    • Basa ‘vàng’ sang Mỹ: Nổi tiếng nhờ… bị kiện
    • Ông ‘basa’, chuyện chưa kể về vụ kiện 10 năm ở Mỹ
    • Cuộc chơi với đại gia Mỹ: Đẳng cấp và khổ ải
    • Cơ chế xin – cho và niềm tin của tỷ phú Mỹ
BTA, Việt Mỹ, quan hệ thương mại, xuất siêu, xuất khẩu, Nguyễn Đình Lương, Phạm Chi Lan, Hiệp định, Bình thường hoá, cấm vận, BTA, Việt-Mỹ, quan-hệ-thương-mại, xuất-siêu, xuất-khẩu, Nguyễn-Đình-Lương, Phạm-Chi-Lan, Hiệp-định, bình-thường-hoá, cấm-vận
Lễ ký Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.

***

Bữa tiệc trong đêm lịch sử Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam

VNN – Có rất nhiều xúc cảm và cả những suy tư, thậm chí e dè nghi ngại, rằng điều gì sẽ đến với kinh tế Việt Nam sau thời khắc lịch sử Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận Việt Nam, 5h sáng ngày 4/2/1994 (theo giờ Việt Nam)?

LTS: Để chọn một điển hình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì chắc chắn quan hệ giao thương Việt Mỹ là một câu chuyện thành công.

20 năm từ ngày Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, giao thương giữa hai nước từ gần như con số 0 thương mại hai chiều đã bùng nổ lên hơn 35 tỷ USD vào cuối 2014. Mỹ đã trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Điều này phản ánh nét tiêu biểu nhất trong quan hệ kinh tế hai nước là: Bùng nổ về quy mô và gia tăng tốc độ mạnh mẽ.

Từ bình thường hóa quan hệ, tới Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, rồi WTO và sắp tới có thể là TPP, mỗi bước tiến hội nhập chính là một nấc thang mới trong quan hệ kinh tế hai nước. 

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, VietNamNet xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài: “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ” để góp cái nhìn tổng thể về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ cũng như một góc nhìn về hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Những bữa tiệc doanh nhân Việt – Mỹ

16 tháng sau, ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton và Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao.

“Lúc đó, tôi đang công tác ở TP.HCM. Đã có ngay một bữa tiệc, DN Việt và một số DN Mỹ cùng kéo đến một khách sạn để ăn mừng. Chúng tôi đã vô cùng hồ hởi và cùng gửi lời cảm ơn đầu tiên tới tổng thống Bill Clinton, tới các vị lãnh đạo hai nước,…” – chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhớ lại.

Bà kể: “Chúng tôi coi tuyên bố dỡ bỏ cấm vận của Tổng thống Bill Clinton như một món quà Tết đặc biệt ý nghĩa, bởi nó rơi đúng vào dịp Tết Quý Dậu của Việt Nam, ngày 4/2/1994”.

BTA, Việt Mỹ, quan hệ thương mại, xuất siêu, xuất khẩu, Nguyễn Đình Lương, Phạm Chi Lan, Hiệp định, Bình thường hoá, cấm vận, BTA, Việt-Mỹ, quan-hệ-thương-mại, xuất-siêu, xuất-khẩu, Nguyễn-Đình-Lương, Phạm-Chi-Lan, Hiệp-định, bình-thường-hoá, cấm-vận
Lễ ký Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.

“Đến khi Mỹ tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao, tôi cảm thấy rất sung sướng, vì nghĩ đây là một bước tiến cao hơn trước rất nhiều. Thực sự khi đó, tôi có một niềm tin mãnh liệt, từ đây, nước ta có thể bắt tay vào công cuộc phục hồi kinh tế một cách vững chắc hơn. Việt Nam sẽ bắt đầu một con đường phát triển mới, dù không dễ dàng gì”, bà giãi bày.

Theo cựu Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), “Việt Nam thực hiện Đổi mới nhưng tiến trình vẫn chưa được như mong muốn. Ngày đó, dù không nói ra, ai nấy đều đã nghĩ đến bước tiếp theo sẽ là bình thường hoá quan hệ kinh tế giữa hai bên”.

Trong khi đó, ở Hà Nội, tại khách sạn Thắng Lợi, một gala lớn cũng được tổ chức, bởi một công ty của Mỹ.

“Họ mời tất cả những người Mỹ ở Việt Nam và bạn bè liên quan để ăn mừng và có mời cả tôi. Sau đó, bức ảnh chụp ảnh tôi và một người bạn Mỹ nâng ly rượu chúc mừng đã được đăng trên một tờ báo lớn của Mỹ với dòng chú thích “Người Mỹ và người Việt đón chào sự kiện hai nước bình thường hoá quan hệ”, ông Nguyễn Đình Lương, nguyên trưởng Đoàn đàm phán hiệp định thương mại BTA chia sẻ.

Tuy nhiên, ông Lương giãi bày: “Doanh nghiệp cả nước đều phấn khởi nhưng nói thật, ở ta, nhiều nơi đón nhận tin ấy không có sự vồ vập một cách đặc biệt. Vì không ít người vẫn còn nặng nề lắm”.

Với nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư, ông Phan Hữu Thắng, thời khắc mà Tổng thống Bill Clinton dỡ bỏ lệnh cấm vận và tuyên bố bình thường hoá quan hệ với Việt Nam mang đến cho ông một cảm xúc có phần điềm tĩnh hơn.

“Ngày ấy, ai ở Bộ KH-ĐT cũng đều theo rất sát sự kiện này, từ Bộ trưởng, các thứ trưởng đến các anh em chuyên viên. Từng giờ, từng phút, tiến trình ra sao, chúng tôi đều nắm được vì có tin nội bộ”, ông Thắng nhớ lại.

Và ông giải thích: “Chính bởi thế, anh em chúng tôi cũng đều đã cảm nhận được, trong tiến trình vận động này, rồi sẽ đến thời điểm Mỹ tuyên bố như vậy. Nhưng khi diễn ra chính thức, ai cũng rất mừng”.

Ông Thắng đánh giá: “Tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao là mục tiêu mà nhân dân Việt Nam mong đợi. Hai bên xếp lại quá khứ để bước tới tương lại. Chúng tôi nghĩ rằng, đó là một kết thúc quan trọng, đặt ra một cơ sở phát triển lâu dài trong quan hệ kinh tế Việt – Mỹ nói chung, đặc biệt là đầu tư và thương mại”.

Những dự cảm và bất ngờ 20 năm sau

Ông Nguyễn Đình Lương – khi đó là Vụ trưởng Vụ Âu Mỹ và các tổ chức quốc tế của Bộ Thương mại, thời kỳ Mỹ cấm vận đã không ít lần phải giải quyết tình huống phía Mỹ nhắc nhở khi phát hiện hàng Việt có mặt trên đất Mỹ.

Bình thường, hàng hoá Việt Nam không thể vào Mỹ mà hầu như, đều ẩn dưới bóng một thương hiệu, qua quốc gia thứ ba khác,… Chẳng hạn như áo sơ mi của ta rất rẻ, các nước mua về rồi xuất sang Mỹ, rồi cả cà phê của Việt Nam cũng được các nước mua về để xuất sang Mỹ.

Một hôm, đó là năm 1992, đại diện thương mại của Việt Nam ở Hồng Kông điện về thông báo, hải quan Mỹ đang xin vào Hà Nội để kiểm tra một số lô hàng may mặc đi từ Sài Gòn vào Mỹ nhưng dưới xuất xứ nước khác.

BTA, Việt Mỹ, quan hệ thương mại, xuất siêu, xuất khẩu, Nguyễn Đình Lương, Phạm Chi Lan, Hiệp định, Bình thường hoá, cấm vận, BTA, Việt-Mỹ, quan-hệ-thương-mại, xuất-siêu, xuất-khẩu, Nguyễn-Đình-Lương, Phạm-Chi-Lan, Hiệp-định, bình-thường-hoá, cấm-vận
Thủy sản – mặt hàng chủ lực tăng trưởng mạnh mẽ xuất khẩu vào Mỹ.

Nghe vậy, ông Lương điện sang Mỹ, nói: “Việt Nam với Hoa Kỳ chưa có quan hệ ngoại giao. Do vậy, các ông không vào Việt Nam được. Chúng tôi đề nghị các ông cung cấp đầy đủ thông tin về lô hàng đó, để chúng tôi kiểm tra và khi có kết quả, sẽ báo lại”.

“Sau đó, hải quan Mỹ không nói gì thêm nữa”, ông Lương kể. Và ông hóm hỉnh cười: “Mỹ muốn bắt tận tay lô hàng để trừng phạt. Nhưng chưa bỏ lệnh cấm vận mà anh đã đòi vào là không được!”.

Khi trả lời nước Mỹ như vậy, có lẽ, ông Lương cũng không thể ngờ rằng, 20 năm sau, hàng dệt may Việt Nam thẳng cánh vào Mỹ trung bình mỗi năm gần 10 tỷ USD, chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ.

Bà Phạm Chi Lan bày tỏ: “Tôi đã hi vọng, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tìm được cơ hội của mình sang thị trường Mỹ nhưng lại e ngại về điều ấy khi doanh nghiệp của ta có một sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển với doanh nghiệp Mỹ”.

“Nhưng rồi, thật bất ngờ khi thấy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã đi vào thị trường Mỹ rất tốt. Nhất là đối với nông sản, hàng Việt vẫn sang Mỹ với tốc độ tăng trưởng mạnh, trong khi xưa nay, Mỹ là nước có truyền thống bảo hộ nông sản”, bà Lan chia sẻ.

Cũng là một chặng đường 20 năm, sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, quy mô thương mại giữa hai nước giờ đã chạm con số 35 tỷ USD. Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu số 1 của Việt Nam và cũng là thị trường mà Việt Nam luôn xuất siêu kỷ lục. Năm 2014, Việt Nam đã xuất siêu tới 22,4 tỷ USD vào quốc gia này.

Đồng thời, vốn đầu tư của Mỹ đứng thứ 7 trong 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.

Trước khi BTA có hiệu lực, năm 2001, thương mại hai chiều hai nước chỉ vỏn vẹn có 1,5 tỷ USD.

“Ngày ấy, ngay cả những quan chức ở Bộ Thương mại chỉ nghĩ rằng, thương mại hai nước sẽ tăng lên khoảng 6-7 tỷ USD/năm mà thôi”, bà Phạm Chi Lan cho biết.

Ông Nguyễn Đình Lương giãi bày: “Chúng tôi không hình dung được hết về tiềm năng quan hệ kinh tế với Mỹ, cũng như chưa hiểu hết được Mỹ có vị trí như thế nào trong nền kinh tế thế giới”.

Nhưng phải nói rằng, chính vì sự e dè vẫn còn đó, 5 năm sau sự kiện tuyên bố bình thường hoá quan hệ hai nước, thương mại, đầu tư giữa hai nước vẫn là một nốt trầm.

Quan hệ kinh tế hai nước chỉ mới bùng nổ và thực sự chuyển động lớn sau khi BTA được ký kết ngày 13/7/2000 và sau khi Mỹ áp dụng Quy chế quan hệ thương mại bình thường và quy chế tối huệ quốc (MFN) đối với Việt Nam.

Phạm Huyền

***

20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ

Việt – Mỹ: Điều chưa kể về khoảng lặng trước giờ G

VNN – Trong thâm tâm nhiều người hôm nay có lẽ vẫn đang có một dấu hỏi lớn, lý do thực sự nào khiến trước giờ G, mùa thu năm 1999, việc ký kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (BTA) lại bị hoãn lại?

LTS: Để chọn một điển hình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì chắc chắn quan hệ giao thương Việt  Mỹ là một câu chuyện thành công.
20 năm từ ngày Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, giao thương giữa hai nước từ gần như con số 0 thương mại hai chiều đã bùng nổ lên hơn 35 tỷ USD vào cuối 2014. Mỹ đã trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Điều này phản ánh nét tiêu biểu nhất trong quan hệ kinh tế hai nước là: Bùng nổ về quy mô và gia tăng tốc độ mạnh mẽ.Từ bình thường hóa quan hệ, tới Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, rồi WTO và sắp tới có thể là TPP, mỗi bước tiến hội nhập chính là một nấc thang mới trong quan hệ kinh tế hai nước. Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, VietNamNet xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài: “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ” để góp cái nhìn tổng thể về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ cũng như một góc nhìn về hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Khoảng lặng… 11 tháng

Những ai quan tâm theo sát quan hệ Việt – Mỹ đều biết về khoảng lặng ấy, kéo dài 11 tháng.

Nước Mỹ muốn Hiệp định BTA được ký kết tại Aukland, New Zealand vào một ngày đầu tháng 9/1999, nhân dịp Hội nghị APEC. Bởi lẽ, cả Thủ tướng Phan Văn Khải và Tổng thống Bill Clinton đều có mặt tại sự kiện này. Lễ ký kết nếu diễn ra sẽ là trong sự chứng kiến của bạn bè thế giới. Để sau đó, tháng 11, Quốc hội Mỹ sẽ họp và phê chuẩn BTA. Tổng thống Bill Clinton sẽ đến Việt Nam trong chuyến công du châu Á trên cương vị đã là một đối tác kinh tế của Việt Nam.

Thế nhưng…!

Lúc bấy giờ, ở Hà Nội, vào đêm hôm trước của ngày dự kiến ký kết BTA, doanh nghiệp hai nước Việt – Mỹ và rất nhiều doanh nghiệp nước khác đã hồ hởi kéo nhau đến khách sạn Melia. Họ ngồi chờ trong niềm háo hức tột độ, sẵn sàng chỉ cần bên kia điện về báo tin, ở đây, tất cả sẽ cùng nổ sâm banh ăn mừng!

Nguyễn Đình Lương, BTA, TPP, Phạm Chi Lan, Hiệp định thương mại, Việt Mỹ, chiến tranh, quá khứ, tương lai, bữa tiệc, Nguyễn-Đình-Lương, BTA, TPP, Phạm-Chi-Lan, Hiệp-định-thương-mại, Việt-Mỹ, chiến-tranh, quá-khứ, tương-lai, bữa-tiệc
Trưởng đoàn đàm phán BTA Trần Đình Lương và ông Joe Damond Trưởng đoàn đàm phán phía Hoa Kỳ trong ngày gặp lại ở Hà Nội năm 2011.

Nhưng rồi, chẳng có điều gì xảy ra.

Đêm thu đã buông màn, đồng hồ đã điểm 12 giờ, gương mặt những vị doanh nhân cứ ngồi đó thẫn thờ, rũ ra và cho đến sáng hôm sau, vẫn không có lễ ký kết nào được báo về.

Sáng hôm sau, bà Virginia Foote, Chủ tịch Hội đồng thương mại Việt – Mỹ đến văn phòng làm việc của bà Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), với dáng vẻ thất vọng: “Lan ơi, tại sao lại thế này?”.

“Chị đưa cho tôi một tập ảnh chụp các vị doanh nhân hai nước, mỗi người một vẻ, chờ đợi mệt phờ đến nỗi ngủ gật ở khách sạn Melia. Có một không khí chán chường lộ rõ”, bà Phạm Chi Lan nhớ lại.

Tại thời điểm đó, phía Việt Nam đề nghị tạm hoãn lại.

Bà Lan nhìn nhận: “Đó là kỷ niệm rất đặc biệt của cộng đồng doanh nghiệp hai nước về một hiệp định thương mại mà không bao giờ thấy ở các hiệp định khác”.

Và mảnh ghép cuối

Gạt qua những ám ảnh quá khứ, 5 năm và 11 vòng đàm phán, Việt Nam và Hoa Kỳ đã cùng nhau kiếm tìm, gọt giũa và tỉ mẩn lắp ghép từng mảnh nhỏ của niềm tin, hi vọng để tạo nên một bức tranh BTA đẹp. Sau bình thường hoá quan hệ ngoại giao, BTA là chứng thư lịch sử cho bình thường hoá quan hệ về kinh tế giữa hai nước.

Nguyễn Đình Lương, BTA, TPP, Phạm Chi Lan, Hiệp định thương mại, Việt Mỹ, chiến tranh, quá khứ, tương lai, bữa tiệc, Nguyễn-Đình-Lương, BTA, TPP, Phạm-Chi-Lan, Hiệp-định-thương-mại, Việt-Mỹ, chiến-tranh, quá-khứ, tương-lai, bữa-tiệc
Sau bình thường hoá quan hệ ngoại giao, BTA là chứng thư lịch sử cho bình thường hoá quan hệ về kinh tế giữa hai nước.

Thế nhưng, vào phút chót, mảnh cuối cùng, rất nhỏ thôi, ghép mãi không vừa.

Khoảng lặng 11 tháng tưởng là không cần thiết và với nhiều người, vẫn có sự nuối tiếc. Nhưng kỳ thực, đó là khoảng thời gian rất quan trọng để cho cả hai cùng nhau chỉnh sửa lại cạnh viền cho thẳng mịn, loại bỏ hoàn toàn những vết nhám xấu xí trên miếng ghép cuối cùng cho sáng đẹp. Mọi tồn đọng còn lại trong cuộc đàm phán đều đã được giải quyết.

Và mùa hè năm 2000, ngày 13/7, bức tranh BTA đã được hoàn tất.

Ông Nguyễn Đình Lương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán BTA, bảo: “Ngày ấy, vết thương quá khứ ở ta vẫn còn nặng nề lắm”. Vì thế, ông coi việc chưa ký kết BTA chỉ là “cơ duyên chưa đến với dân tộc Việt Nam”.

BTA – đó là cái bắt tay giữa hai thể chế chính trị và thể chế kinh tế hoàn toàn khác biệt nhau.

Phải chăng, vì con đường đi quá gian nan đó mà BTA được coi như một cuộc đấu trí căng thẳng nhất trong lịch sử đàm phán kinh tế của Việt Nam. Đó là cái bắt tay đầu tiên giữa một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Khi tất cả đều nghĩ đến lợi ích quốc gia thì hố sâu thăm thẳm đó cũng đều có thể vượt qua. Như Tổng thống Mỹ Bill Clinton nói, chúng ta không thể sửa được quá khứ nhưng chúng ta có thể cùng nhau xây dựng được tương lai mới.

Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ (BTA) ký ngày 13/7/2000, là thoả thuận thương mại thứ hai sau Thoả thuận gia nhập khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA).

Với BTA, lần đầu tiên Việt Nam đưa ra các cam kết có ý nghĩa mở cửa thị trường, dịch vụ, đầu tư, trong đó, có các cam kết quan trọng về dịch vụ.

BTA cũng là thoả thuận thương mại đầu tiên thực sự giúp một số ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam vượt qua giới hạn của sức mua nội địa, dựa vào thị trường ngoài để phát triển.

Phạm Huyền

(còn nữa)

***

20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ

‘Nhân tố’ Mỹ và thời khắc của sự đột biến

VNN – 20 năm trước, nếu có hàng Việt bán ở nước Mỹ thì đó là điều cấm kỵ. Nhưng giờ, người Mỹ mặc áo, đi giày made in Vietnam, ăn cá basa và uống cà phê Việt. Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA) đã khởi đầu cho sự đổi thay kỳ diệu đó.

LTS: Để chọn một điển hình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì chắc chắn quan hệ giao thương Việt  Mỹ là một câu chuyện thành công.

20 năm từ ngày Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, giao thương giữa hai nước từ gần như con số 0 thương mại hai chiều đã bùng nổ lên hơn 35 tỷ USD vào cuối 2014. Mỹ đã trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Điều này phản ánh nét tiêu biểu nhất trong quan hệ kinh tế hai nước là: Bùng nổ về quy mô và gia tăng tốc độ mạnh mẽ.

Từ bình thường hóa quan hệ, tới Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, rồi WTO và sắp tới có thể là TPP, mỗi bước tiến hội nhập chính là một nấc thang mới trong quan hệ kinh tế hai nước. 

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, VietNamNet xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài: “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ” để góp cái nhìn tổng thể về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ cũng như một góc nhìn về hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Choáng với ngôn ngữ kiểu Mỹ

“Tôi thực sự bị choáng. Nó quá mới mẻ, hàng loạt khái niệm chưa được tiếp cận, làm quen”, ông Nguyễn Đình Lương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán BTA, nhớ lại ngày đầu tiên khi đọc dự thảo BTA do phía Mỹ soạn thảo. Đó là tháng 4/1997.

Ông kể: “Bản dự thảo thiết kế trên những nguyên tắc WTO mà ở thời điểm đó, Việt Nam chỉ mới nghe chữ WTO, chưa biết nội dung của nó là gì”.

Trong đó, Hoa Kỳ đưa ra quy chế “Đối xử quốc gia”, “Đối xử bình đẳng”,… “Thế nhưng, từ điển tiếng Việt ngày đó còn chưa có những từ này”, ông Lương cho biết.

Nguyễn Đình Lương, BTA, Nguyễn Mại, Hiệp định thương mại, Việt Mỹ, dệt may, nhập khẩu, hàng Việt, xuất siêu, Nguyễn-Đình-Lương, BTA, Nguyễn-Mại, Hiệp-định-thương-mại, Việt-Mỹ, xuất-siêu, dệt-may, nhập-khẩu, hàng-Việt
Dệt may là mặt hàng tăng trưởng ấn tượng nhất sau BTA.

Theo lời của ông Lương, Hoa Kỳ yêu cầu gỡ bỏ hết mọi rào cản thương mại theo quy định của WTO, thực thi một nền thương mại tự do. Thậm chí, Hoa Kỳ còn đòi Việt Nam giảm thuế xuất nhập khẩu. Đây quả là điều vô cùng khó khăn cho Việt Nam, bởi khi đó, ở Hoa Kỳ, thuế xuất nhập khẩu chỉ chiếm chưa đầy 2% nguồn thu ngân sách. Nhưng ở Việt Nam, đây là nguồn thu chủ yếu, chiếm gần 20% ngân sách. Khi đó, ở Hoa Kỳ đã có thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản trong khi ở Việt Nam, chưa có sắc thuế nào ngoài thuế xuất nhập khẩu.

Đối với lĩnh vực dịch vụ, trong khi Hoa Kỳ đã phát triển rất mạnh mẽ, có luật lệ hoàn chỉnh đề điều tiết thì ở Việt Nam, dịch vụ chỉ coi như khâu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, như ngân hàng, vận tải. Việt Nam chưa có bất kỳ một luật nào điều tiết hoạt động này.

Về đầu tư, những nội dung mà Hoa Kỳ đưa ra đàm phán lai hoàn toàn khác với các hiệp định bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký với hàng chục quốc gia trước đó.

Và trên hết, dù đã gia nhập ASEAN và bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, nhưng Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn nào về hội nhập trong suốt 5 năm đàm phán BTA. Mãi 1 năm sau khi BTA được ký kết, Bộ Chính trị mới có Nghị quyết 07 về hội nhập kinh tế.

Ông Lương chia sẻ: “Cuộc đàm phán đã diễn ra trầy trật, kéo dài, “lên bờ xuống ruộng”. Chấp nhận những cam kết như thế này nghĩa là phá vỡ gần như toàn bộ khung pháp lý hiện hành. Đó là điều chưa có trong một cuộc đàm phán quốc tế”.

Trong khi đó, những điều thiết yếu nhất như thông tin về nền kinh tế Mỹ, về tầm ảnh hưởng của Mỹ như thế nào trong nền kinh tế thế giới đối với ông Lương và thành viên đoàn đàm phán lại rất ít ỏi.

“Nhưng rồi, trên cơ sở nhận diện được xu thế của thời đại, những thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế thế giới và nhu cầu bình thường hoá đầy đủ quan hệ với Hoa Kỳ, xã hội Việt Nam đã nhận ra rằng, hệ thống pháp lý Việt Nam thời điểm đó đang cản trở sự phát triển, đang làm bế tắc mọi ý tưởng đổi mới, không thể vận hành được nền kinh tế thị trường. Muốn hội nhập, muốn phát triển, Việt Nam phải cải tạo hệ thống luật pháp”, ông Lương đánh giá.

Kết quả là ngay sau khi BTA được ký kết và có hiệu lực từ tháng 12/2001, Việt Nam đã có cuộc tổng rà soát, sửa đổi toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật để phù hợp với BTA. Hệ thống luật lệ của Việt Nam đã giảm hẳn những quy định lý thuyết, áp đặt chung chung mà thay vào đó là những quy định rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực thi hơn cho một nền kinh tế thị trường.

Ông Lương đã gọi đó là “những gam màu rất Mỹ” trong thể chế kinh tế Việt Nam.

Bùng nổ và tăng tốc

Nhìn lại những bước phát triển ấn tượng về thương mại và đầu tư giữa hai nước mới thấy, giá trị ảnh hưởng của BTA trong 15 năm qua là rất lớn.

Nếu năm 2001, khi BTA chưa có hiệu lực, thương mại hai chiều Việt – Mỹ chỉ là 1,51 tỷ USD thì năm 2002, ngay sau khi BTA có hiệu lực, thương mại hai chiều hai nước đã tăng đột biến lên 2,89 tỷ USD, bằng 1,85 lần. Đến nay, năm 2014, con số này là gần 35 tỷ USD, gấp 23 lần 15 năm trước.

Khi Việt Nam gia nhập WTO, quan hệ thương mại với Mỹ càng bùng nổ.

Nguyễn Đình Lương, BTA, Nguyễn Mại, Hiệp định thương mại, Việt Mỹ, dệt may, nhập khẩu, hàng Việt, xuất siêu, Nguyễn-Đình-Lương, BTA, Nguyễn-Mại, Hiệp-định-thương-mại, Việt-Mỹ, xuất-siêu, dệt-may, nhập-khẩu, hàng-Việt
Thủy sản đã có những bài học hội nhập giá trị trên chính thị trường Mỹ.

Việt Nam đã tăng xuất khẩu sang Mỹ lên 36 lần, từ 800 triệu USD vào năm 2000 lên gần 29 tỷ USD năm 2014.

Sự tăng tốc ngoạn mục đó đã giúp cho Việt Nam vượt qua Thái Lan, Malaysia, Indonesia để trở thành quán quân về xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ trong ASEAN. Hàng hoá của Việt Nam chiếm tỷ trọng cao nhất, 22% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn khu vực này sang Mỹ.

Đặc biêt, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ cũng chuyển biến tích cực. Năm 2001, 78% hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ là hàng sơ chế, chủ yếu là tôm và dầu khí thì chỉ 2 năm sau khi BTA có hiệu lực, 2003, các mặt hàng chế tác như dệt may, điện tử, đồ gỗ, giày da,… đã chiếm 72% và hiện nay, là 75% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ.

Mỹ từ thị trường nhỏ nhất đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

GS Nguyễn Mại, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về hợp tác về đầu tư, chia sẻ, nhờ có BTA, cánh cửa xuất khẩu sang Mỹ đã trở nên rộng mở. Bởi sau đó, Mỹ đã áp dụng Quy chế quan hệ thương mại bình thường và Quy chế tối huệ quốc MFN, giảm mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nhập khẩu từ Việt Nam từ 40% xuống chỉ còn 3-4%.

Nói về quan hệ đầu tư, phải nói rằng, các doanh nghiệp Mỹ đã tích cực đón đầu cơ hội do BTA mang lại từ rất sớm.

GS Mại cho biết, trong 5 năm hai nước còn đang đàm phán BTA thì tại Việt Nam, đã có hàng loạt các thương hiệu nổi tiếng của Mỹ tìm đến như Pepsico, Coca-Cola, Cargil, 3M, P&G, Kimberly-Clark,… Họ đã đến Việt Nam xây dựng nhà máy để tranh thủ lợi thế nhân công giá rẻ.

Những ngày này ở năm 2015, nhiều công ty cũng đã và đang kỷ niệm 20 năm đến Việt Nam kinh doanh.

Tuy nhiên, trước năm 2007, dòng vốn đầu tư Mỹ hầu như chỉ tập trung ở các ngành thâm dụng nhiều lao động như dệt may, gỗ, nội thất. Phải sau khi Việt Nam vào WTO, sau 2007, vốn Mỹ mới bắt đầu có bước chuyển biến sang lĩnh vực khoa học công nghệ cao, mà người mở đầu chính là Tập đoàn Intel.

Tuy nhiên, GS Nguyễn Mại nhìn nhận, việc thu hút đầu tư của Mỹ vào Việt Nam vẫn còn chưa như mong đợi. Tổng vốn đầu tư của Mỹ chỉ đứng thứ 7, với hơn 11 tỷ USD. Ngay cả việc nhập khẩu hàng hoá, là thiết bị, máy móc của Mỹ vào Việt Nam vẫn chưa nhiều trong khi, đây là xứ sở công nghệ cao.

Phạm Huyền

***

20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ

Thách thức của vị Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Mỹ

VNN – Những ngày đầu làm đại diện ngoại giao chính thức ở Mỹ đối với ông Lê Văn Bàng, nguyên Đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Mỹ luôn có nhiều kỷ niệm đặc biệt. Dù quan hệ kinh tế Việt – Mỹ đã bước sang một trang mới, nguyên Đại sứ Bàng vẫn mong chờ và hi vọng, sẽ có sự bùng nổ hơn nữa trong tương lai.

LTS: Để chọn một điển hình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì chắc chắn quan hệ giao thương Việt – Mỹ là một câu chuyện thành công.

20 năm từ ngày Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, giao thương giữa hai nước từ gần như con số 0 thương mại hai chiều đã bùng nổ lên hơn 35 tỷ USD vào cuối 2014. Mỹ đã trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Điều này phản ánh nét tiêu biểu nhất trong quan hệ kinh tế hai nước là: Bùng nổ về quy mô và gia tăng tốc độ mạnh mẽ.

Từ bình thường hóa quan hệ, tới Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, rồi WTO và sắp tới có thể là TPP, mỗi bước tiến hội nhập chính là một nấc thang mới trong quan hệ kinh tế hai nước.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, VietNamNet xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài: “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ” để góp cái nhìn tổng thể về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ cũng như một góc nhìn về hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Bình thường hoá quan hệ: Chiến thắng trọn vẹn

Thưa ông, trở về ngày 11/7/1995, khi Tổng thống Bill Clinton và Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao, thời khắc ấy đối với ông đã diễn ra như thế nào?

Nguyên Đại sứ Lê Văn Bàng: Phải nói rằng, sau 20 năm đấu tranh, từ 1975 đến 1995, Hoa Kỳ mới chịu bỏ cấm vận, bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.

Là một người trong cuộc, tham gia nhiều cuộc đàm phán giữa hai nước từ 1980 đến 1995, tôi thật sự vui mừng và tự hào vì cuối cùng Hoa Kỳ cũng chính thức công nhận Việt Nam về mặt ngoại giao và đồng ý thiết lập sứ quán ở thủ đô hai nước.

Tuy nhiên, vì trải qua quá nhiều khó khăn, thất vọng trước đó nên khi hai nước tuyên bố chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, tôi vui mà nước mắt cứ trào ra.

Lê Văn Bàng, Việt Mỹ, BTA, thương mại, xuất siêu, môi trường kinh doanh, 20 năm, quan hệ ngoại giao, bình thường hoá, Lê-Văn-Bàng, Việt-Mỹ, BTA, thương-mại, xuất-siêu, môi-trường-kinh-doanh, 20-năm, quan-hệ-ngoại-giao, bình-thường-hoá

Nguyên Đại sứ Lê Văn Bàng

Lúc diễn ra tuyên bố bình thường hóa quan hệ hai nước tôi đang ở Washington D.C., cả cơ quan đã mở tiệc rượu ăn mừng. Từ Văn phòng liên lạc, chúng tôi trở thành nhân viên Đại sứ quán đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam tại Hoa Kỳ. Mọi hoạt động của chúng tôi giờ đây sẽ chính thức hơn, dễ dàng hơn.

Những ngày làm Đại sứ đầu tiên ở Hoa Kỳ, với ông, thử thách nào là lớn nhất và ông vượt qua nó như thế nào?

Khi được Nhà nước cử sang làm Đại sứ tại Liên Hợp Quốc tháng Giêng năm 1993, tôi rất lo lắng. Đây là một vị trí phụ trách Liên Hợp Quốc và quan hệ với Mỹ. Tôi công tác tại Liên Hợp Quốc từ năm 1993 đến năm 1995, sau đó chuyển lên Washington DC và làm việc cho tới 2001. Tổng cộng gần 9 năm.

Trong suốt thời gian này, điều khó nhất đối với tôi và toàn cơ quan là làm thế nào để hóa giải được hội chứng Việt Nam trong lòng nước Mỹ. Vấn đề này tồn tại ngay từ Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc đến Quốc hội, các tổ chức cựu binh, gia đình người mất tích,…và người Việt di tản. Nước Mỹ là siêu cường bị thất bại ở Việt Nam, vì vậy họ khó quên.

Khi nói đến Việt Nam, họ mường tượng đó là một cuộc chiến tranh mà Mỹ bị thua và không muốn nhắc đến. Hoặc họ nhớ đó là kẻ thù không cần có quan hệ.

Khó nhất vẫn là số người Việt di tản. Họ biểu tình, hò hét thóa mạ và gây rối. Tất cả các hoạt động của Sứ quán liên quan đến công chúng Mỹ lớn nhỏ đều hiện diện nhóm người Việt biểu tình ít nhất cũng hàng trăm và đôi khi lên cả nghìn người.

Sứ quán đã kiên trì thuyết phục dư luận Mỹ rằng Việt Nam giờ đây là một đất nước, một dân tộc và đang trên đường đổi mới, là một thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và thương mại.

Chúng tôi đã tới thăm gần 40 bang và cuối cùng cũng đã thành công trong việc quảng bá hình ảnh Việt Nam đổi mới trong lòng nước Mỹ. Tôi nhớ khi gặp các đại sứ Miến Điện, Mông Cổ hay Đại diện phòng quyền lợi Cu Ba, các bạn thán phục và chỉ mong sao có ngày được đón tiếp thân thiện như Đại sứ Việt Nam tại Mỹ.

Môi trường kinh doanh minh bạch mới hút được vốn Mỹ

Sau này, năm 2000, khi hai nước ký Hiệp định thương mại (BTA), quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ đã bắt đầu bùng nổ. Việt Nam đã liên tục xuất siêu và Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Ông có thực sự hài lòng với kết quả đó?

Tôi nhớ, khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, kim ngạch buôn bán hai chiều rất khiêm tốn, chỉ đạt khoảng 50 triệu đô la.

Lê Văn Bàng, Việt Mỹ, BTA, thương mại, xuất siêu, môi trường kinh doanh, 20 năm, quan hệ ngoại giao, bình thường hoá, Lê-Văn-Bàng, Việt-Mỹ, BTA, thương-mại, xuất-siêu, môi-trường-kinh-doanh, 20-năm, quan-hệ-ngoại-giao, bình-thường-hoá
Việt Nam đã liên tục xuất siêu và Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, tôi rất vui vì từ năm 1987, Việt Nam đã có chính sách đổi mới mở cửa, nhưng khi đó, các doanh nghiệp của ta làm ăn với nước ngoài vẫn gặp rất nhiều trở ngại. Một doanh nghiệp nhỏ nhờ tôi can thiệp vì đối tác Ấn Độ trả tiền qua ngân hàng Mỹ và bị giữ vì lệnh cấm vận. Tất nhiên là tôi bất lực.

Giờ thì doanh nghiệp đó đã có thể lấy lại tiền và tự do kinh doanh kể cả với doanh nghiệp Mỹ.

Chỉ có điều, tôi không ngờ tới là sau khi Hiệp định thương mại BTA có hiệu lực (tháng 12/2001), nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam bị phía Hoa Kỳ tìm mọi cách áp đặt thuế chống phá giá, điển hình là cá tra rồi đến tôm của nông dân ta.

Mặt khác, tôi cũng đã kỳ vọng đầu tư của Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng đứng đầu trong danh sách các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Thế nhưng, điều này cho đến nay vẫn chưa diễn ra. Thực sự, tôi có chút thất vọng. Kể cả sau này, nếu Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết, tôi cũng băn khoăn chưa chắc kỳ vọng đó của tôi thành hiện thực.

Mặc dù vậy, về thương mại, với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2014 đạt gần 30 tỷ đô la thì tôi cho rằng, đó cũng là một thành tích đáng kể.

Theo ông, chúng ta cần phải làm gì hơn nữa để có thể thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn FDI từ Mỹ, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao trong giai đoạn tới?

Hãy nghe người Mỹ, DN Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam? Như ông Đại sứ Mỹ vừa qua đã nói rõ, DN Mỹ vào Việt Nam vẫn gặp rất nhiều khó khăn, mà lớn nhất là câu chuyện phí lót tay, bôi trơn, tham nhũng.

Chúng ta sẽ phải cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh làm sao cho thật sự minh bạch mà ở đó, mọi quan hệ kinh tế phải dựa trên pháp luật, chứ không phải dựa vào mối quan hệ xin – cho, quan hệ cá nhân. Doanh nghiệp Mỹ sẽ khó làm ăn ở Việt Nam nếu như chúng ta có một môi trường kinh doanh nặng xin – cho như vậy.

Người Mỹ cũng đã khuyến chúng ta phải chủ động phát triển kinh tế sáng tạo. Các DN Việt Nam phải có sáng tạo về khoa học, kỹ thuật, tìm tòi và cải tiến và dựa trên nền tảng đó, giành được thị trường. Nếu như chúng ta chỉ trông chờ vào nguồn lực bên ngoài, hi vọng vào sự chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI thì không ổn. Bởi, phần lớn, chẳng có công ty lớn nào muốn chuyển giao công nghệ, nhất là công nghệ nguồn.

Tôi nhớ, phía Mỹ muốn giúp Việt Nam làm vườn ươm công nghệ, nhưng 15 năm rồi, vẫn chưa thấy thành công.

Có lẽ, trong câu chuyện thu hút vốn Mỹ và làm sao tranh thủ được tác động lan toả từ các DN công nghệ cao của Mỹ, chúng ta sẽ phải làm rất nhiều việc. Chính phủ và các bộ ngành giờ đây cũng đang nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh để tiến tới, Việt Nam đạt thứ hạng trung bình của ASEAN- 6, năm sau là ASEAN – 4 qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tôi mong, ngày nào đó, vốn Mỹ có thể sẽ đầu tư Việt Nam lớn hơn Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore.

Phạm Huyền (thực hiện)

***

20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ

Basa ‘vàng’ sang Mỹ: Nổi tiếng nhờ… bị kiện

VNN – Thâm nhập vào thị trường thủy sản Hoa Kỳ không phải là quá khó. Song, đối mặt với vụ kiện chống bán phá giá do Mỹ khởi xướng, lần đầu tiên xảy ra với một mặt hàng của Việt Nam, là cả quá trình gian truân, nhưng cũng giúp con cá tra, basa nổi tiếng toàn cầu.

LTS: Để chọn một điển hình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì chắc chắn quan hệ giao thương Việt – Mỹ là một câu chuyện thành công.

20 năm từ ngày Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, giao thương giữa hai nước từ gần như con số 0 thương mại hai chiều đã bùng nổ lên hơn 35 tỷ USD vào cuối 2014. Mỹ đã trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Điều này phản ánh nét tiêu biểu nhất trong quan hệ kinh tế hai nước là: Bùng nổ về quy mô và gia tăng tốc độ mạnh mẽ.

Từ bình thường hóa quan hệ, tới Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, rồi WTO và sắp tới có thể là TPP, mỗi bước tiến hội nhập chính là một nấc thang mới trong quan hệ kinh tế hai nước.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, VietNamNet xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài: “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ” để góp cái nhìn tổng thể về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ cũng như một góc nhìn về hội nhập kinh tế của Việt Nam.

“Không phải cá đâu, vàng đấy”

Ông Nguyễn Hữu Dũng, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản Việt Nam (VASEP), đặt chân lên Mỹ lần đầu tiên năm 1994. Hồi đó, ông phải xin visa ở Thái. Giờ, tuy không nhớ nổi là đã sang đó bao lần, nhưng ông có thể kể vanh vách về chuyện mình là người đầu tiên được Đại sứ quán Mỹ ở Láng Hạ đóng con dấu vào hộ chiếu khi xin visa (năm 1995) thế nào, ngay sau ngày bình thường hóa quan hệ với Mỹ.

Nhắc đến chuyện này bởi ông Dũng là một trong những người đầu tiên trong ngành thủy sản chứng kiến chuyện con cá basa “vượt vũ môn” vào Mỹ.

Ông kể lần đầu sang Mỹ để dự một hội thảo về biến đổi khí hậu, qua kênh mời của một tổ chức quốc tế, chưa dính gì đến thủy sản. Nhưng, chuyến đi rất ý nghĩa khi ông được gặp những người cùng ngành ở đất nước bên kia bán cầu, như bà Linda Chaves (Cục Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ – NOAA), ông Richard E. Gutting (Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản Hoa Kỳ – NFI) và những người bạn khác, từ đó mới bàn về cách tổ chức đưa đoàn thủy sản Mỹ đầu tiên sang Việt Nam.

cá basa, xuất khẩu, thủy sản, sang Mỹ, bị kiện, phá giá, nhập khẩu, cá-basa, xuất-khẩu, thủy-sản, sang-Mỹ, bị-kiện, phá-giá, nhập-khẩu,

Thâm nhập vào thị trường thủy sản Hoa Kỳ không phải là quá khó.

Vậy mà, phải mất tới 4 năm sau, tháng 10/1998, mới làm được chuyện đó. Đoàn đại biểu Mỹ sang Việt Nam lúc bấy giờ được coi là mốc son về thiết lập quan hệ giữa hai nước trong lĩnh vực thủy sản. Sau khi tổ chức hội thảo tại Hà Nội, đoàn vào An Giang tham quan cơ sở nuôi và chế biến cá basa (hồi đó chưa xuất khẩu cá tra).

Đoàn của Mỹ gồm gần hai chục người, gồm quan chức thủy sản Mỹ và 5 doanh nhân, trong đó có 2 doanh nhân người Mỹ gốc Việt. Một trong hai người đó là ông Ngô Húa, Việt kiều ở Mỹ, chuyên làm thủy sản ở California.

Khi ngồi nói chuyện với nhau tại khách sạn Deawoo, nhắc đến con cá basa, ông Húa gạt đi, bảo “Thôi, cá đó ra gì”. Sau đó đoàn về An Giang tham quan, dừng ăn trưa tại Châu Đốc. Để giới thiệu con cá basa Việt Nam đến người Mỹ, tất cả đồ ăn đều làm bằng cá basa.

“Tôi nhớ có một miếng chả cá basa rõ to. Mọi người đi đường rất mệt nhưng ai ăn xong cũng tấm tắc khen. Đêm đó, ông Húa nói với tôi ‘Anh Dũng ơi, đây không phải là cá, vàng đấy’. Sau bữa ăn, ông Húa thay đổi hoàn toàn quan điểm về con cá basa”, ông Dũng cho hay.

Về nước, năm 1999, ông Húa bắt đầu phát triển thương hiệu và tháng 3/2000, ông đưa Mekong Basa – thương hiệu con cá Việt Nam đã được đăng ký độc quyền tại Mỹ – ra Hội chợ Thủy sản Boston.

Mọi việc diễn ra rất nhanh. Đến Năm 2002 lượng cá basa vào Mỹ tăng lên, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị xuất khẩu 80 triệu USD của mặt hàng này.

Nhưng, từ trước đấy, giai đoạn 1999-2002, Mỹ đã có hàng loạt biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập “thần thoại” của con cá này. Trước hết là về tên. Cá da trơn tiếng Anh là catfish, Việt Nam cũng gọi là catfish, nhưng Mỹ nói không, tên đó chỉ dành riêng cho cá nheo của Mỹ. “Tiếp sau đó là nhiều quy định rắc rối khác. Cuối cùng, đến 27/6/2002, Mỹ tiến hành khởi kiện chống bán phá giá cá basa”, ông Dũng nhớ lại.

Được Mỹ kiện là nổi tiếng

Chuyện người Mỹ tìm đủ cách để đè bẹp cho con tra, basa nói lên một điều, là người Mỹ rất giỏi kinh doanh – ông Dũng nhận xét. Họ rất nhạy cảm, hết sức cảnh giác trên thương trường. Họ nhìn thấy mối nguy hại tiềm tàng ngay từ lúc khi sản phẩm của đối thủ còn rất yếu, khối lượng không bao nhiêu so với 300.000 tấn cá nheo của Mỹ khi đó. Thế là họ tìm mọi cách để “bóp chết” nó ngay từ khi mới khai sinh.

cá basa, xuất khẩu, thủy sản, sang Mỹ, bị kiện, phá giá, nhập khẩu, cá-basa, xuất-khẩu, thủy-sản, sang-Mỹ, bị-kiện, phá-giá, nhập-khẩu,

Không chỉ EU, cá tra giờ xuất khẩu sang 136 thị trường

Không ngờ, bù lại những tháng ngày vật vã với vụ kiện chống bán phá giá kéo dài cả chục năm rồi sang tiếp năm thứ 11, 12, chi phí lớn, căng thẳng đến phát ốm nhưng vẫn phải tiếp tục theo đuổi, cái chúng ta thu được là con cá tra, basa trở nên nổi tiếng toàn cầu. Châu Âu lập tức nhảy vào cuộc.

Chỉ vài tháng sau, khách hàng châu Âu ùn ùn kéo qua Việt Nam. Nhờ vậy, từ năm 2003 cho đến 2008, chỉ 5 năm, sản lượng cá xuất đi châu Âu đã chiếm gần một nửa tổng giá trị cá tra, basa xuất khẩu của Việt Nam, tức gần 50% trong số 1,4 tỷ USD năm 2008, nghĩa là thị phần tăng từ 0% lên 50% chỉ sau 5 năm.

“Sau này mình mới hiểu, Mỹ kiện cái nào thì cái đó phải là tốt. Đến trình độ của Mỹ phải kiện một sản phẩm nào đó chứng tỏ sản phẩm đó vừa tốt vừa rẻ, dại gì mà không tìm mua. Và đấy là một thứ “quảng cáo không công”, có hiệu quả vô cùng lớn”, ông Dũng đúc kết.

Vừa chân ướt chân ráo tham gia xuất khẩu, thủy sản Việt Nam không hề biết làm marketing. Nhưng, mặt trái của vụ kiện, đã làm cho con cá tra trở nên nổi tiếng.

Không chỉ EU, cá tra giờ xuất khẩu sang 136 thị trường. Cá tra đi vào niên giám của của FAO (Tổ chức Lương thực thế giới) như một mặt hàng mới có vị thế cao, bởi sản lượng 1,5 triệu tấn/năm là cực lớn cho một loài cá nuôi. Ngay tại thị trường Mỹ, cá tra đã thắng cá nheo Mỹ, có vị thế cao hơn trong mắt người tiêu dùng, dù giá bán cá tra hiện chỉ bằng nửa cá nheo.

Nhưng, thắng lợi lớn nhất thu được là các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang sống cùng, tồn tại được với những vụ kiện chống bán phá giá rất gay gắt như cá tra, tôm,… Qua những vụ kiện, sự khắc nghiệt của thị trường mà các doanh nghiệp vẫn tồn tại và phát triển được chứng tỏ bản lĩnh, sự trưởng thành, tính chuyên nghiệp ngày càng cao hơn.

Ngọc Hà

***

20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ

Ông ‘basa’, chuyện chưa kể về vụ kiện 10 năm ở Mỹ

VNN – Từ “chợ làng” ra “chợ quốc tế”, từ quyết tâm đòi công lý đến chấp nhận luật chơi của thương trường, nhiều bài học đắt giá rút ra từ vụ kiện cá tra, basa Việt Nam của Mỹ. Sau cả chục năm theo đuổi vụ kiện, có nhiều chi tiết đến giờ mới được công bố.

LTS: Để chọn một điển hình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì chắc chắn quan hệ giao thương Việt – Mỹ là một câu chuyện thành công.

20 năm từ ngày Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, giao thương giữa hai nước từ gần như con số 0 thương mại hai chiều đã bùng nổ lên hơn 35 tỷ USD vào cuối 2014. Mỹ đã trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Điều này phản ánh nét tiêu biểu nhất trong quan hệ kinh tế hai nước là: Bùng nổ về quy mô và gia tăng tốc độ mạnh mẽ.

Từ bình thường hóa quan hệ, tới Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, rồi WTO và sắp tới có thể là TPP, mỗi bước tiến hội nhập chính là một nấc thang mới trong quan hệ kinh tế hai nước.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, VietNamNet xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài: “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ” để góp cái nhìn tổng thể về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ cũng như một góc nhìn về hội nhập kinh tế của Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng – nguyên Tổng Thư ký, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến Thủy sản Việt Nam (VASEP) – chia sẻ với PV VietNamNet về những tình huống gay cấn khi ông trực tiếp cùng doanh nghiệp tham gia giải quyết vụ kiện.

Từng muốn đóng 3 triệu đô để hòa hoãn

– Vụ kiện chống bán phá giá cá tra tại Mỹ năm 2002 – thách thức to lớn đầu tiên của ngành kinh tế đối ngoại nước ta – có khiến ông bị bất ngờ không?

Ông Nguyễn Hữu Dũng: Có chứ. Hồi đấy đã ai biết thế nào là chống bán phá giá đâu? Chữ anti-dumping lần đầu tiên mình mới được nghe năm 2002.

Trước đó, tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này: Đó là cái chợ làng, tôi có trái cây ngon, con gà ngon tôi mang ra chợ bán, mà giá rẻ hơn thì người ta tập trung mua – chuyện đó là tất nhiên. Trong đầu mình nghĩ rất ngây thơ là “mình không bán phá giá thì không ai khép được cho tôi tội đó cả”.

Nhưng thương trường thế giới lại khác. Ở thị trường Mỹ, chuyện điều tra, kết luận chống bán phá giá hay không là theo luật của Mỹ. Theo luật đó, đối với các nước kinh tế phi thị trường, Mỹ sẽ lấy các yếu tố giá thành của nước thứ ba để so sánh (trong vụ kiện này ban đầu là Banglalesh). Và lấy số liệu nào là toàn quyền của họ.

cá basa, bị kiện, cá tra, Mỹ, phá giá, thủy sản, xuất khẩu, nông nghiệp, cá-basa, bị-kiện, cá-tra, Mỹ, phá-giá, thủy-sản, xuất-khẩu, nông-nghiệp,
PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng được trao giải Thành tựu trọn đời do Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA) trao tặng năm 2014 (ảnh Vietfish)

Nửa đêm 27/1/2003 về sáng, khi nghe Bộ Thương mại Mỹ đưa ra phán quyết sơ bộ về biên chống bán phá giá cực kỳ cao (37,94-63,88%) với cá tra, basa tôi cảm thấy hoàn toàn bất ngờ. Đến mức, tuy hồi đó lượng cá basa không là bao nhưng tôi đã phải nghĩ ngay đến chuyện mở chiến dịch kêu gọi các bà nội trợ trong nước mỗi nhà một tháng ăn hộ 1 ký.

– Được biết ông đã từng trắng đêm nghiên cứu tài liệu, bay qua bay lại nước Mỹ, tham gia vận động hành lang,… để đối phó với vụ kiện. Có lúc nào ông thấy nản lòng?

Thật ra ngay từ đầu năm 2002, VASEP có được sự giúp đỡ của một nhóm người ở bang Texas (Mỹ). Họ chưa biết gì về con cá basa. Họ đến Việt Nam làm việc khác cơ. Trong nhóm này có 1 tỷ phú người Mỹ. Đọc báo tiếng Anh nên biết đến vụ kiện, ông đã chủ động tìm gặp tôi ở văn phòng VASEP. Nghe tôi giải thích về quan điểm của Việt Nam, họ cũng tin là mình không bán phá giá.

Trong thảo luận với họ, VASEP từng đề xuất 3 phương án để giải quyết vụ kiện:

Phương án đầu tiên là hòa hoãn. Mình hiểu ra một điều, ở chợ quốc tế, chợ quốc gia (như Mỹ), Hiệp hội Cá nheo Hoa Kỳ (CFA) cũng phải dày công để người Mỹ biết đến tên con cá nheo và ăn con cá ấy. Họ cũng phải vất vả bao năm để gây dựng thị trường… thì ngẫu nhiên, Việt Nam mang sản phẩm tốt, đẹp, rẻ vào bán. Đây không phải là chợ làng. Muốn chiếm thị trường, muốn có thị phần, anh phải bỏ công sức.

Nếu hòa hoãn với CFA, thông qua trung gian, VASEP đề nghị sẽ đóng góp một số tiền, khoảng 3 triệu USD, để cùng CFA lập một quỹ chung phát triển thị trường cá da trơn. Cùng với đó là cam kết hạn chế sản lượng cá xuất khẩu sang Hoa Kỳ, giá bán sẽ không thấp hơn một mức nào đấy và cả hai bên cùng hợp tác phát triển.

Phương án hai: Thỏa thuận Đình chỉ – nếu CFA không đồng ý thì nhờ Chính phủ, cụ thể Bộ Công Thương (lúc đó là Bộ Thương Mại) thỏa thuận với Bộ Thương mại Hoa Kỳ.

Phương án ba, nếu thỏa thuận giữa các Bộ không thành thì buộc phải đi đến cùng vụ kiện.

Phương án một được VASEP ưu tiên hơn cả, nhưng ngặt nỗi trong CFA cũng có nhiều phe phái. Cũng không may là vụ kiện xảy ra sau sự kiện 11/9, Việt Nam ở vào thế rất kẹt. Cuối cùng, CFA không đồng ý phương án hòa hoãn. Thỏa thuận đình chỉ cũng không thành. VASEP buộc phải theo phương án 3.

Ba bài học đắt giá

– Sau vụ kiện cá tra, basa đến vụ kiện con tôm, rồi các rào cản kỹ thuật ngày càng phức tạp, rõ ràng thị trường Mỹ là nơi thử thách và rèn bản lĩnh hội nhập rất tốt cho DN Việt Nam. Qua đó, các DN thủy sản đã trưởng thành như thế nào?

Vụ kiện chống bán phá giá là thách thức rất lớn với Việt Nam. Hồi đó, mình vì bị đối xử không công bằng nên phát biểu theo hướng đòi công lý. Nhưng thương trường có luật chơi của nó, họ được phép kiện theo luật của Mỹ.

cá basa, bị kiện, cá tra, Mỹ, phá giá, thủy sản, xuất khẩu, nông nghiệp, cá-basa, bị-kiện, cá-tra, Mỹ, phá-giá, thủy-sản, xuất-khẩu, nông-nghiệp,
Nhiều bài học đắt giá rút ra từ vụ kiện cá tra, basa Việt Nam của Mỹ

Có ba bài học đắt giá từ vụ kiện này.

Thứ nhất, đó là thách thức để doanh nghiệp nhận ra rằng, thương trường phức tạp hơn rất nhiều công lý thông thường. Anh không làm nhưng vẫn có thể bị kết luận là có, nếu anh không đủ chứng cứ, tài liệu bảo vệ mình.

Thứ hai, cách làm việc, cách làm theo luật của Hoa Kỳ rất chặt chẽ, nên nếu động chạm đến lợi ích của nhóm người nào đó khi kinh doanh tại đây, anh có thể bị kiện bất cứ lúc nào. Vì vậy anh phải sẵn sàng.

Thứ ba, không thể hiểu luật Hoa Kỳ nếu thiếu luật sư. Trong vụ kiện cá tra, basa, doanh nghiệp Việt Nam đã phải làm việc rất sớm với các luật sư, mức giá thuê khá đắt từ 500-520 USD/giờ. Cái đó là tiền tấn, không cần biết anh thắng hay thua, chưa kể chi phí đi lại và rất nhiều chi phí khác.

Như vậy, thực tế buộc các doanh nghiệp phải trưởng thành. Mình đừng nghĩ đơn giản, ngây thơ là cứ giá rẻ có thể chiếm lĩnh thị trường. Thương trường giờ gắn với nhiều thứ, trong đó quan trọng nhất là phải nắm được luật chơi. Nắm được luật chơi, VASEP đã đề nghị Chính phủ Việt Nam kiện Mỹ ra WTO về quy định zeroing (quy về không) trong vụ kiện tôm và đã thắng.

– Khi Việt Nam gia nhập WTO và tới đây là rất nhiều hiệp định thương mại khác, rất nhiều vụ kiện cũng như hàng rào kỹ thuật được dựng lên. Theo ông, chúng ta cần làm gì để giảm thiểu thiệt hại?

Khi thị trường thuận lợi, được giá, dễ dãi, sức mua lớn,… không ai bảo ai tất cả đều dồn hàng vào. Ai cũng muốn làm nhiều, xuất nhiều. Như cá tra, chúng ta đã phát triển rất nhanh trong thời gian rất ngắn. Toàn bộ do dân và doanh nghiệp làm. Nhưng chính sự phát triển quá nhanh đó đã gây ra mối hại cho ngành cá tra. Về cơ bản chúng ta chỉ tăng sản lượng, năng suất, mà lẽ ra phải đặt chất lượng, khả năng cạnh tranh, phát triển bền vững, xây dựng thương hiệu, lên trên.

Trong kinh tế thị trường, anh sản xuất ra để bán, nếu sản xuất nhiều mà không bán được là chết hẳn. Anh càng giỏi bao nhiêu về sản xuất mà càng yếu bao nhiêu về thương mại thì càng gây hại cho anh bấy nhiêu. Điều ấy thể hiện rõ trên tất cả các mặt hàng nông sản.

Mặt khác là cách tư duy về đối tác, đối thủ. Trong cuộc đấu giữa VASEP và CFA, nếu tiếp tục đấu nữa họ sẽ thua, vấn đề là bao giờ họ thua và mình có muốn không? Họ cũng chỉ là người nuôi cá, trong điều kiện không thuận lợi bằng mình. Do vậy, ngoài hiểu đối tác nên tìm cách hợp tác với chính đối thủ của mình.

– Trong hội nhập, vai trò của các hiệp hội ngành nghề là đặc biệt quan trọng. Theo ông,cần phát huy vai trò của hiệp hội ra sao?

Đến nay, điểm yếu nhất của các hiệp hội ở Việt Nam là tính chuyên nghiệp chưa cao. Những người làm cho hiệp hội là loại người đặc biệt. Họ phải am hiểu kinh doanh, hiểu được những vấn đề của cộng đồng, làm cầu nối giữa các thành viên với nhau, giữa thành viên với Nhà nước và với cộng đồng quốc tế.

Nhưng lực lượng đó hiện nay chưa ở đâu đào tạo cả. Hơn nữa, cần hình thành những quy ước chung, tiếng nói chung của cộng đồng. Và, chính sách Nhà nước hiện mới là kiểm soát chứ chưa tạo điều kiện, hỗ trợ hiệp hội làm thay phần việc của Nhà nước.

– Xin cảm ơn ông.

Ngọc Hà (thực hiện)

***

20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ

Cuộc chơi với đại gia Mỹ: Đẳng cấp và khổ ải

VNN – Sau Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, cánh cửa giao thương đã rộng mở nhưng con đường đến Mỹ thực sự có rất nhiều chông gai. Những thăng trầm của ngành dệt may Việt Nam từ thuở phải đi xin visa xuất khẩu cho đến khi đạt thứ hạng quán quân xuất khẩu hiện nay là một câu chuyện điển hình nhất.

LTS: Để chọn một điển hình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì chắc chắn quan hệ giao thương Việt – Mỹ là một câu chuyện thành công.

20 năm từ ngày Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, giao thương giữa hai nước từ gần như con số 0 thương mại hai chiều đã bùng nổ lên hơn 35 tỷ USD vào cuối 2014. Mỹ đã trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Điều này phản ánh nét tiêu biểu nhất trong quan hệ kinh tế hai nước là: Bùng nổ về quy mô và gia tăng tốc độ mạnh mẽ.

Từ bình thường hóa quan hệ, tới Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, rồi WTO và sắp tới có thể là TPP, mỗi bước tiến hội nhập chính là một nấc thang mới trong quan hệ kinh tế hai nước.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, VietNamNet xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài: “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ” để góp cái nhìn tổng thể về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ cũng như một góc nhìn về hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Bài học đầu tiên: Hết hạn ngạch lại giám sát

“Ngay sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, năm 1995, tôi và 30 lãnh đạo DN Việt Nam được tham gia khóa đào tạo tại Mỹ trong 2 tháng do Hội Cựu Chiến binh Mỹ (AAVF) tổ chức. Chúng tôi được vào thực tập tại Công ty May OXFORT INDUSTRY tại ATLANTA”, nguyên Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam, ông Lê Quốc Ân, mở đầu câu chuyện.

Ông kể: “Đó là lần đầu tiên chúng tôi học được cách tổ chức sản xuất và kinh doanh của một công ty Mỹ trong ngành may mặc, cũng lần đầu tiên, được tiếp cận văn hóa kinh doanh Mỹ”.

Nhưng từ học đến hành còn là khoảng cách xa. 6 năm sau, khi Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA) được ký kết, ông Ân mới có cơ hội áp dụng những kiến thức đó.

Ông chia sẻ tiếp: “Cuối năm 2001, chúng tôi mới bắt đầu thực sự tiếp cận thị trường Mỹ. Tôi đưa một đoàn 20 DN sang tổ chức triển lãm, đồng thời khai trương văn phòng VINATEX tại New York”.

dệt may, Mỹ, BTA, TPP, xuất khẩu, xuất siêu, thương mại, Nguyễn Mại, hạn ngạch, nhập khẩu, kỷ lục, tăng trưởng, dệt-may, Mỹ, BTA, TPP, xuất-khẩu, xuất-siêu, thương-mại, Nguyễn-Mại, hạn-ngạch, nhập-khẩu, kỷ-lục, tăng-trưởng,

Ông Lê Quốc Ân, nguyên Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam.

“Trong dịp đó, chúng tôi mới lần đầu tiên được tiếp xúc với ban lãnh đạo các đối tác lớn của Mỹ như AAFA (Hiệp hội các nhà sản xuất may mặc và giày da Mỹ ), US ITA (Hiệp hội các nhà Nhập khẩu dệt may Mỹ ), các tập đoàn như Mass Industry, JC Penny Limited,… để mời chào họ. Kết quả là, năm sau, 2002, họ đã bắt tay hợp tác với các DN dệt may Việt Nam”, ông Ân kể.

Cũng từ đây, xuất khẩu của dệt may vào Mỹ ngày càng tăng mạnh. Nếu như năm 2001, trước BTA có hiệu lực, xuất khẩu dệt may vào Mỹ chỉ có 47 triệu USD thì năm 2002, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này lên tới 957 triệu USD, gấp hơn 20 lần.

Hai năm sau, 2004, dệt may vào Mỹ đạt con số 2,4 tỷ USD, gấp 2,5 lần. Đến năm 2006, con số tiếp tục nhích lên 3,2 tỷ USD rồi 4 tỷ USD…

Và đến nay, 2014, dệt may Việt Nam vào Mỹ đã vọt lên con số gần 10 tỷ USD, chiếm 10% thị phần ở Mỹ, là nhà xuất khẩu lớn thứ 2 vào Mỹ, chỉ đứng sau Trung Quốc.

Tuy nhiên, ngoài thuận lợi về thuế nhập khẩu vào Mỹ giảm mạnh sau BTA, con đường đến Mỹ của dệt may Việt Nam không hề bằng phẳng.

Tháng 4/2003, hai nước ký Hiệp định hàng dệt may, Mỹ đặt ra các hạn mức định lượng đối với tăng trưởng xuất khẩu hàng năm khoảng 7%, bắt đầu từ tháng 5/2003. Chế độ hạn ngạch bị áp dụng cho dệt may Việt Nam kéo dài tháng 1/2007, khi Việt Nam vào WTO, mới được xoá bỏ. Chính điều này đã làm giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng của dệt may vào Mỹ ở 3 năm sau đó.

Thế nhưng, sau khi xoá cơ chế cấp hạn ngạch, Mỹ lại áp dụng ngay cơ chế giám sát hàng dệt may Việt Nam năm 2007-2008, đặt hàng Việt lơ lửng trên đầu nguy cơ bị kiện chống bán phá giá bất cứ lúc nào.

Mãi đến năm 2009, dưới sức ép từ chính các DN Mỹ, rào cản kỹ thuật trên mới được dỡ bỏ.

Từ một ngành còn phải xin visa cho từng đơn hàng xuất khẩu, dệt may đã trở thành ngành xuất khẩu số 1 ở Việt Nam hiện nay, góp phần đưa Mỹ từ thị trường xuất khẩu nhỏ nhất trở thành lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu dệt may hiện lớn gấp 3 lần ngành da giày, gấp 5,7 lần kim ngạch thuỷ sản vào Mỹ.

Vươn lên chơi với đại gia đẳng cấp

Tương tự như những khó khăn của ngành dệt may Việt Nam, ngành thuỷ sản, da giày Việt Nam cũng trải qua rất nhiều thăng trầm để có thể thành công trên đất Mỹ. Đặc biệt, các ngành hàng này liên tục đối mặt với các vụ kiện thương mại của Mỹ.

Tới đây, khi TPP (Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương) nếu được ký kết, hàng hoá Việt Nam chắc chắn còn phải gặp nhiều thử thách không kém gì những gian truân ở chặng đường 15 qua sau BTA.

dệt may, Mỹ, BTA, TPP, xuất khẩu, xuất siêu, thương mại, Nguyễn Mại, hạn ngạch, nhập khẩu, kỷ lục, tăng trưởng, dệt-may, Mỹ, BTA, TPP, xuất-khẩu, xuất-siêu, thương-mại, Nguyễn-Mại, hạn-ngạch, nhập-khẩu, kỷ-lục, tăng-trưởng,
Ngành dệt may Việt Nam đã trải qua rất nhiều thăng trầm để có thể thành công trên đất Mỹ.

Trong đàm phán, Mỹ chủ động đưa ra quy chế xuất xứ từ sợi, nghĩa là, một mặt hàng muốn xuất khẩu sang Mỹ với mức thuế ưu đãi, bắt buộc phải “nội địa hoá” rất lớn, sử dụng nguyên vật liệu từ các nước thành viên TPP. Dệt may, da giày của Việt Nam với 65-70% nguyên vật liệu từ Trung Quốc – nước ngoài TPP – chắc chắc sẽ bất lợi.

Tuy nhiên, ông Lê Quốc Ân nhìn nhận, TPP chắc chắn sẽ là một đòn bẩy giúp phát triển ngành dệt may Việt Nam một cách vững chắc hơn. Chính quy chế xuất xừ từ sợi sẽ tạo nên động lực đầu tư sản xuất vải sợi tại Việt Nam.

“Dĩ nhiên trong thời gian ban đầu áp dụng TPP, chỉ có khoảng 20% các đơn hàng xuất khẩu sang Mỹ là đáp ứng được quy chế này. Nhưng tỉ lệ này sẽ dần nâng lên trong những năm về sau”, ông Ân cho biết.

Ông tin rằng, sau 5 năm, tỉ lệ này sẽ khoảng 40%, sau 10 năm sẽ khoảng 70%. Nhờ TPP, khả năng hàng dệt may Việt Nam tăng tỷ trọng chiếm lĩnh thị trường Mỹ từ 10% hiện nay lên 20-30% trong 10 năm tới”.

Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KHĐT chia sẻ, chơi với Mỹ, ta được rất nhiều. Mỹ là thị trường vô cùng khó tính, với các tiêu chuẩn khắt khe, nên khi hàng Việt đã vào Mỹ thì cũng có nghĩa, có thể đến được các nước khác một cách thuận lợi hơn.

Với GS Nguyễn Mại, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban hợp tác Nhà nước về đầu tư, nhờ cú hích BTA, năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam tại thị trường Mỹ được cải thiện rõ rệt. Nhưng sự hiểu biết của doanh nghiệp Việt về thị trường Mỹ vẫn còn hạn chế, nhất là ứng phó với các vụ kiện thương mại.

Ông đưa ra khuyến nghị chung, để mở rộng quan hệ thương mại với Mỹ, chúng ta phải làm tốt công tác quảng bá hình ảnh tại Mỹ, như quảng bá về chất lượng, kiểu dáng, giá cả hàng hoá qua các kênh truyền thông. Bản thân các doanh nghiệp Việt cũng phải chủ động có cách tiếp thị phù hợp với từng mặt hàng, tạo quan hệ làm ăn lâu dài với đối tác Mỹ trên cơ sở lòng tin và cùng chia sẻ lợi ích.

Phạm Huyền

***

20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ

Cơ chế xin – cho và niềm tin của tỷ phú Mỹ

VNN – Nhiều tỷ phú Mỹ đã khẳng định một niềm tin lớn vào cơ hội đầu tư kinh doanh ở Việt Nam. Nhưng nuôi dưỡng niềm tin ấy như thế nào để người Mỹ đến và ở lại Việt Nam còn là câu hỏi lớn.

LTS: Để chọn một điển hình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì chắc chắn quan hệ giao thương Việt – Mỹ là một câu chuyện thành công.

20 năm từ ngày Việt Nam – Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ, giao thương giữa hai nước từ gần như con số 0 thương mại hai chiều đã bùng nổ lên hơn 35 tỷ USD vào cuối 2014. Mỹ đã trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Điều này phản ánh nét tiêu biểu nhất trong quan hệ kinh tế hai nước là: Bùng nổ về quy mô và gia tăng tốc độ mạnh mẽ.

Từ bình thường hóa quan hệ, tới Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, rồi WTO và sắp tới có thể là TPP, mỗi bước tiến hội nhập chính là một nấc thang mới trong quan hệ kinh tế hai nước.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, VietNamNet xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài: “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ” để góp cái nhìn tổng thể về quan hệ kinh tế Việt – Mỹ cũng như một góc nhìn về hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Niềm tin của các tỷ phú Mỹ

Vừa trở về từ nước Mỹ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Đinh Tiến Dũng, nói với VietNamNet: “Tôi không ngờ, sự kiện lại thu hút đông các doanh nghiệp Mỹ như thế. Họ rất quan tâm đến Việt Nam”.

Đúng vào dịp nước Mỹ tổ chức kỷ niệm ngày Quốc khánh và trước thềm Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm Mỹ, Bộ trưởng Dũng đã dẫn đoàn hơn 30 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam sang Mỹ để “chào hàng” đầu tư.

Ông Dũng kể: “Bấy lâu nay, các nhà đầu tư Mỹ vẫn chưa hiểu về Việt Nam nhiều. Họ còn lơ mơ về ta lắm. Chính những kênh đối thoại trực tiếp này đã làm hai bên hiểu nhau hơn”.

Chia sẻ ở sự kiện, ông Phillip A Falcone, Chủ tịch Quỹ Harbinger, nhớ lại: “Năm 2007, chúng tôi quyết định đầu tư vào Việt Nam. Nhiều bạn bè đã hỏi tôi vì sao ông lại quyết định đầu tư vào một đất nước xa xôi, đang phát triển với môi trường chính trị, kinh tế và văn hoá kinh doanh khác biệt, sẽ có nhiều khó khăn”.

“Tuy nhiên, tôi đã nhìn thấy một cơ hội đặc biệt chính từ những khác biệt ấy ở Việt Nam”, ông Falcone kể.

nhà đầu tư, Mỹ, BTA, TPP, vốn Mỹ, bộ trưởng Dũng, tài chính, vốn ngoại, nới room, Việt Mỹ, Bình thường hoá, nhà-đầu-tư, Mỹ, BTA, TPP, vốn-Mỹ, bộ-trưởng-Dũng, tài-chính, vốn-ngoại, nới-room, Việt-Mỹ, bình-thường-hoá
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jacob Joseph tiếp Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng nhân sự kiện xúc tiến đầu tư tổ chức ở New York, Mỹ từ 1-6/7/2015.

Phillip A Falcone là tỷ phú giàu thứ 188 trên thế giới theo xếp hạng của Forbes. Quỹ của ông sở hữu tài sản 1,2 tỷ USD, là cổ đông lớn nhất của Asian Coast Developmen (ACDL), chủ đầu tư dự án 4,2 tỷ USD khu phức hợp nghỉ dưỡng Hồ Tràm ở Bà Rịa – Vũng Tàu, nơi có casino lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Ông khẳng định: “Thực sự, Việt Nam có rất nhiều thứ thu hút các nhà đầu tư. Nhờ sự ổn định về chính trị, nền kinh tế đã tăng trưởng vững vàng ở mức 5-7% trong vài thập kỷ qua. Nhiều ngành công nghiệp vẫn còn non trẻ và cần được đầu tư vốn. Đây lại là thị trường hơn 90 triệu dân, con người làm việc chăm chỉ và luôn nỗ lực vượt qua khó khăn”.

Có mặt ở Việt Nam lâu gấp đôi thời gian hiện diện dự án của Phillip A Falcone, Phó chủ tịch Tập đoàn bảo hiểm nhân thọ Manulife, ông Peter F. Wikinson, quả quyết, ông đã đúng khi quyết định chọn Việt Nam.

“Chúng tôi đã có trải nghiệm đầu tư ở nhiều quốc gia và nhận thấy ở Việt Nam có một tương lai tươi sáng. Ngay từ 16 năm trước, chúng tôi đã nhìn thấy nhiều lợi thế trong môi trường kinh doanh tại đây. Chính phủ đã luôn chủ động song hành, gỡ khó cho các doanh nghiệp”, ông nói.

Đến nay, Manulife là 1 trong 3 tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất ở Việt Nam. Nhưng ít ai biết rằng, khi tập đoàn này đầu tư vào Việt Nam năm 1999, trước khi BTA ký kết, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ vẫn còn quá mới mẻ ở Việt Nam. Thậm chí, việc mở cửa cấp phép cho Manulife thời kỳ đó còn gây ra nhiều tranh cãi khi có luồng tư duy bảo thủ lập luận rằng, không thể bán tính mạng người Việt cho người Mỹ?!

Để niềm tin trở thành hiện thực

Sau những chia sẻ đầy cảm xúc, các nhà đầu tư Mỹ đều hứa hẹn sẽ đến tìm hiểu thị trường Việt Nam, hoặc sẽ mở rộng đầu tư ở Việt Nam. Rõ ràng, đó là một tín hiệu không gì tốt đẹp hơn, đặc biệt đúng vào thời điểm quan hệ Việt – Mỹ đang kỷ niệm một chặng đường 20 năm.

nhà đầu tư, Mỹ, BTA, TPP, vốn Mỹ, bộ trưởng Dũng, tài chính, vốn ngoại, nới room, Việt Mỹ, Bình thường hoá, nhà-đầu-tư, Mỹ, BTA, TPP, vốn-Mỹ, bộ-trưởng-Dũng, tài-chính, vốn-ngoại, nới-room, Việt-Mỹ, bình-thường-hoá

Dự án casino Hồ Tràm

Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KHĐT, ông Phan Hữu Thắng, đánh giá: “Người Mỹ nổi tiếng làm ăn nghiêm túc, tối kỵ chuyện lót tay. Trong quan hệ với Nhà nước, họ luôn minh bạch, sòng phẳng. Khi đi làm việc, doanh nghiệp Mỹ thường có luật sư đi cùng và họ sẽ chỉ thúc giục công việc bằng văn bản”.

Với tất cả những ưu điểm đó, ông Thắng chia sẻ: “Hợp tác với Mỹ, ta sẽ học được nhiều, từ cung cách kinh doanh tôn trọng pháp luật đến nề nếp quản lý minh bạch. Là các tập đoàn có tiềm lực tài chính, công nghệ, trình độ quản trị, sự hiện diện của nhà đầu tư Mỹ ở Việt Nam còn là một biểu trưng niềm tin cho nhiều nhà đầu tư từ các quốc gia khác”.

Theo ông, “chính bởi thế, chúng ta cần phải có nghiên cứu sâu hơn về đối tác Mỹ và cải tiến mô hình xúc tiến đầu tư, như việc nên trực tiếp tiếp cận, có cơ chế đặc thù theo từng dự án, không nhất thiết phải trải qua quá nhiều tầng nấc phê duyệt”.

Nhớ lại thời kỳ 15 năm trước, ông phân tích: “Khi ký kết BTA năm 2000, các nhà lãnh đạo của ta đều có chủ trương thu hút đầu tư Mỹ nhưng không cụ thể hoá. Ở cấp địa phương, ý kiến giữa UNND tỉnh và Hội đồng nhân dân về việc cấp phép một dự án nhiều khi còn trái ngược nhau. Danh mục dự án kêu gọi đầu tư thì cụ thể, công khai, nhưng khi vào cuộc, nhà đầu tư phải chạy khắp nơi, một cửa nhiều khoá”.

“Nếu ta không cải cách và còn dựa vào xin-cho thì sẽ khó thu hút vốn Mỹ. Trên thực tế, Việt Nam đã từng bị vuột nhiều cơ hội với các nhà đầu tư đến từ cường quốc này”, ông lo ngại.

Phải nói rằng, Việt Nam đang có nhiều thứ hấp dẫn người Mỹ. Đó là cơ hội từ hiệp định TPP sẽ được ký kết, từ cổ phần hoá DNNN với dự kiến bán 3,7 tỷ USD vốn Nhà nước ra ngoài và đặc biệt là chính sách nới room lên 100% tỷ lệ sở hữu các công ty đại chúng cho nhà đầu tư ngoại vừa ban hành.

Song, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cũng nhìn nhận, để biến niềm tin của nhà đầu tư Mỹ thành hiện thực, chúng ta phải tiếp tục đổi mới, kiên định theo kinh tế thị trường hiện đại, cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng mở cửa, thông thoáng hơn.

Phạm Huyền

Advertisements

One thought on “20 năm giao thương Việt – Mỹ: Bùng nổ quy mô, gia tăng tốc độ – 8 kỳ

  1. “Không ngờ, bù lại những tháng ngày vật vã với vụ kiện chống bán phá giá kéo dài cả chục năm rồi sang tiếp năm thứ 11, 12, chi phí lớn, căng thẳng đến phát ốm nhưng vẫn phải tiếp tục theo đuổi, cái chúng ta thu được là con cá tra, basa trở nên nổi tiếng toàn cầu. Châu Âu lập tức nhảy vào cuộc.”

    Thật là thú vị.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s