Hiện trường điện gió ở Quảng Trị, ai vô tâm sẽ không thấy kinh hoàng

NN – Thứ Năm 14/10/2021 , 10:25

Một số bãi thải, mái taluy ở các công trình điện gió chưa lu lèn đầm chặt, trồng cây, gia cố chống xói lở, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất.

Quảng Trị có 31 dự án điện gió được phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng. Riêng tại huyện Hướng Hoá có 26 dự án đang cấp tập triển khai thi công để kịp hưởng giá ưu đãi (giá FIT) cho một phần hoặc toàn bộ nhà máy có ngày vận hành thương mại trước 1/11/2021.

Theo UBND huyện Hướng Hoá, hiện vẫn còn một số dự án điện gió đang trong quá trình đẩy nhanh tiến độ nên chưa tuân thủ đầy đủ yêu cầu khắc phục sạt lở đất và môi trường. Điều này tiềm ẩn nguy cơ lũ quét, sạt lở đất khi mùa mưa bão đang đến gần.

Một người dân xã Húc buồn rầu bên ruộng lúa bị đất đá từ dự án điện gió trôi lấp. Người này cho hay, ruộng lúa của gia đình nằm ngay dưới chân các tua-bin điện gió, không thể canh tác trong thời gian tới nên đã yêu cầu chủ đầu tư đền bù toàn bộ để tìm chỗ khác ổn định hơn.
Một người dân xã Húc buồn rầu bên ruộng lúa bị đất đá từ dự án điện gió trôi lấp. Người này cho hay, ruộng lúa của gia đình nằm ngay dưới chân các tua-bin điện gió, không thể canh tác trong thời gian tới nên đã yêu cầu chủ đầu tư đền bù toàn bộ để tìm chỗ khác ổn định hơn.

Tiếp tục đọc “Hiện trường điện gió ở Quảng Trị, ai vô tâm sẽ không thấy kinh hoàng”

“Giải pháp lắm chân” cho cái đói

CHỦNG HẠNH 14/10/2021 9:05 GMT+7

TTCTBánh mì kẹp sâu cho bữa sáng, sữa gián và sữa ruồi đen luôn sẵn có ở căngtin, và món cháo dế sẽ sưởi ấm những đêm mưa rét. Đây là những loại thực phẩm thân thiện với môi trường, hứa hẹn sẽ cách tân chế độ ăn uống “xấu xí” của loài người trong tương lai.

 Ảnh: Shutterstock

Tiếp tục đọc ““Giải pháp lắm chân” cho cái đói”

Loại cây ‘ăn’ một nắm muối, trả một phân vàng

NN – Thứ Hai 11/10/2021 , 09:13

Bà Ất vốc một nắm muối, rải đều quanh mỗi gốc cây. Đơn giản hàng năm chỉ đôi lần như thế nhưng trên 500 gốc ấy đến vụ sẽ cho bà hơn 500 phân vàng…

Cây trồng bất bại

1 phân vàng (1/10 chỉ) là mức thu trung bình còn những cây có buồng quả đẹp phải thu gấp đôi, gấp ba. Ở cái xã Hải Đường (huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định) này, sau mỗi mùa dân tình lại í ới rủ nhau đi mua vàng, đó là cách mà nhiều người già tích lũy kiểu “ăn chắc, mặc bền”. Bà vợ ông Nguyễn Văn Ất ở làng Hoành Đồn cũng không phải là ngoại lệ.

Bà bảo với tôi rằng chưa có loại cây gì mà đầu tư chỉ 1 đồng lại lãi 100 đồng như cây cau ở quê mình hiện nay: “Nhà tôi có hơn 500 gốc cau đang thời kỳ cho quả, mỗi năm phải cho chúng “ăn” muối 2 lần, vào tháng 2 và tháng 9 âm lịch, lúc trời đã hết mùa mưa. Ngoài muối tôi còn bón thêm chút phân lân. Tính ra hàng năm đầu tư chỉ 3 tạ muối, 3 tạ lân hết cỡ trên 2 triệu là thu hoạch thôi”.

Vợ ông Ất đang cho cây ăn muối. Ảnh: Dương Đình Tường.
Vợ ông Ất đang cho cây ăn muối. Ảnh: Dương Đình Tường.

Còn ông Ất thì giải thích cho tôi rằng cau vốn thích hợp với thổ nhưỡng vùng lấn biển đất hãy còn chất mặn. Hàng trăm năm trước, khi Hải Đường là đất mới thì trồng cau rất sai quả nhưng theo thời gian nó được ngọt hóa nên phải bón thêm muối, còn các xã gần biển như Hải Châu, Hải Hòa… thì không cần.

“Cứ 4, 5 năm cau đắt mới có 1 năm cau rẻ nhưng dù rẻ mấy nó vẫn còn hơn nhiều trồng lúa. Trung bình mỗi gốc cau mỗi năm cho thu 7 – 8 kg quả, năm ngoái giá bán 40.000 – 50.000 đồng/kg tôi thu cỡ 200 triệu, năm nay giá bán 80.000 – 90.000 đồng/kg tôi ước thu cỡ 300 triệu. Ngoài bán cau quả tôi còn bán cỡ 10.000 cây cau giống mỗi vụ, với giá 20.000 đồng/cây cũng thu khoảng 200 triệu nữa…

Hai đứa con trai tôi sau bao năm đi làm thuê bên ngoài giờ cũng về nhà trồng cau cùng bố. Chúng vừa làm 2 cái nhà, hơn tỉ và tỉ rưỡi. Giờ với chúng tôi, dù có giãn cách xã hội cả năm nữa cũng không thành vấn đề bởi rau sẵn trong vườn, gà sẵn trong chuồng, cá sẵn dưới ao, còn gạo sẵn ở trên những ngọn cau cao 9 – 10m”…

Đường làng ở Hải Đường. Ảnh: Dương Đình Tường. 
Đường làng ở Hải Đường. Ảnh: Dương Đình Tường. 

Lạ cái là Hoành Đồn ai cũng có cau nhưng cả làng giờ chỉ còn vài ba người ăn trầu. Cau là giống trồng một lần “ăn” cả một đời, người sống đến 80, 90 tuổi mà cây vẫn cho thu hoạch. Vườn cau nhà ông Ất nhiều cây đã 60 – 70 năm tuổi do tay bố mẹ ông trồng, cây 40 – 50 tuổi do tay vợ chồng ông trồng, cây 10 – 20 tuổi do tay các con ông trồng.

Chúng đứng cạnh nhau, đều tăm tắp như những hàng kiêu binh đang bồng súng. Thân cau càng thẳng thì thân chủ vườn càng cong, ngọn cau càng gần trời thì đời chủ vườn càng gần đất, nhưng mối thâm tình giữa cây và người thì vẫn còn xanh ngát tựa thủa nào.

Cau trồng 2 năm, khi cao cỡ 1,5m là phải hạ thấp 1 lần bằng cách đào bầu, trồng lại, sâu hơn cũ 20 – 30cm để cho dóng ngắn, lớn chậm, có nhiều quả.

Ông Đỗ Thanh Minh - Xóm trưởng xóm 6 bên những cây cau giống. Ảnh: Dương Đình Tường.
Ông Đỗ Thanh Minh – Xóm trưởng xóm 6 bên những cây cau giống. Ảnh: Dương Đình Tường.

Ông Đỗ Thanh Minh – Xóm trưởng xóm 6 làng Hoành Đồn cho tôi hay xóm có 156 hộ thì đều có cau cả. Hộ ít là những cặp vợ chồng mới ra ở riêng có chừng 30 – 50 gốc, hộ trung bình 200 – 300 gốc còn hộ nhiều 700 – 800 gốc. Đó là chỉ tính những cây đang cho thu hoạch chứ chưa kể loại đang lớn.

“Nói đến Hoành Đồn là nói đến bãi chăn trâu, đồn trâu, giếng mắt trâu, sông Thiên Tạo và không thể không nhắc đến bốn mùa bát ngát cau xanh. Xưa dân làng hễ trồng một vườn cau là có một giàn trầu ở bên cạnh để gánh lên Hà Nội, gánh xuống Hải Phòng, gánh vào Thanh Hóa bán.

42 năm trước khi tôi mua thổ đất này, ông nội bảo nên trồng cau vì đó là giống cây chưa bao giờ thất bại. Bởi thế, trong vườn nhà tôi hiện có những gốc cau 45 năm tuổi, còn phổ biến là những gốc 40 năm tuổi. Giờ trong xóm nhà ai có vườn rộng thì không cớ gì mà lại không giàu. Năm ngoái giá cau rẻ hơn đã 5 – 7 hộ lãi cả trăm triệu, năm nay giá cau đắt thế thì phải cỡ 15 – 20 hộ có thu như vậy, còn lại thu 50 – 70 triệu là chuyện thường.

Như tôi có hơn 5 sào vườn với hơn 400 gốc cau cộng bán mỗi năm cả vạn cây giống nên năm 2020 lãi cỡ 300 triệu, năm nay ước được 450 triệu. Con gái tôi là Đỗ Thị Nhung có 2,5 mẫu vườn, tầng trên là cau, tầng dưới là ổi, mỗi ngày thu trung bình 2 triệu”…

Niềm vui với vườn cây, ao cá. Ảnh: Dương Đình Tường.
Niềm vui với vườn cây, ao cá. Ảnh: Dương Đình Tường.

Nhà ông Minh làm theo lối cổ lợp ngói ta với cột kèo bằng lim nâu bóng màu năm tháng, giữa trời nóng mà tôi bước vào mát tựa điều hòa. Hoành Đồn có 80% nhà làm theo hướng nam có ao, có vườn mà tầng cao nhất là cau, cao vừa là thanh long bám ngang thân cau, tầng thấp là các loại cây ăn quả.

Không chỉ trồng trong vườn, quanh tường rào mà cau còn được trồng cả hai bên đường với những dong, hoành thẳng tắp để giữa trời nắng gắt mà khách bộ hành như đi lạc giữa màu xanh trong. Chẳng thế mà nguyên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Lê Huy Ngọ từng phải thốt lên: “Hoành Đồn chỉ được đầu tư 600 triệu để xây dựng nông thôn mới mà các nơi khác có đầu tư cả 6 tỉ cũng chưa được như thế này”. Chẳng thế mà các đoàn khách Mỹ, Nhật đi giữa đôi hàng cau giữa tiết nực mà bỏ hết cả mũ ra để ngắm cho đã mắt những tàng cây cao vút, hít hà cho đẫy phổi mùi thơm dịu ngọt của hương trời rồi nhờ người leo lên tận ngọn cây hái xuống một chùm hoa mà trầm trồ, thán phục.  

Một ngôi nhà ở Hải Đường được vây quanh bởi cau. Ảnh: Dương Đình Tường.
Một ngôi nhà ở Hải Đường được vây quanh bởi cau. Ảnh: Dương Đình Tường.

Lão nông hơn 90 tuổi Nguyễn Văn Bình bảo rằng đời mình chứng kiến hai đợt cau đắt: Đắt nhất là hơn 40 năm trước khi 1kg cau khô đổi được 1 chỉ vàng, ông Phạm Văn Liễn lúc đó đã mua mảnh vườn với 5 gian nhà ngói, cột lim chỉ bằng vài yến cau khô. Đắt nhì là 2 năm gần đây, khi 1kg cau khô bán đổi được xấp xỉ 1 phân vàng (1/10 chỉ).

Chỉ cần có 100 gốc cau là một cặp vợ chồng già chẳng phải lo nghĩ gì nữa bởi dù đắt hay rẻ vẫn rủng rỉnh tiền tiêu, bởi dù có bão cấp 11, 12 cái “cây ATM” lưng chừng trời ấy vẫn không hề hư hại. Cách đây mấy năm thu nhập cả tháng của đám thanh niên trong xóm đi làm bên ngoài là hơn 1 tỉ, còn người già ở lại 1 vụ lúa 4 tháng chỉ được 800 triệu, 1 vụ cau chỉ được hơn 2 tỉ. Giờ thì tình thế đã đổi ngược, mỗi năm thu nhập từ cau của xóm đã trên 10 tỉ.

Cơn “say” cau của cả làng, cả xã

Mới nhai dập dạp miếng kẹo cau mà miệng tôi đã nóng bừng còn đầu thì cứ lâng lâng như người say. Ấy vậy mà chưa bằng cái “say” của cả làng, cả xã Hải Đường với quả cau hiện tại. Lúc tôi đến thì lò sấy của anh Lê Xuân Hiệp đang đỏ lửa và mờ mịt hơi nước. Cau sau khi luộc chừng 1,5 tiếng sẽ được đem sấy trong lò hơi suốt 4 ngày.

Luộc cau. Ảnh: Dương Đình Tường.
Luộc cau. Ảnh: Dương Đình Tường.
Cau sấy. Ảnh: Dương Đình Tường.
Cau sấy. Ảnh: Dương Đình Tường.

Năm ngoái sản lượng cau của toàn xã Hải Đường khoảng 900 tấn quả tươi, tổng thu cỡ 60 tỉ, còn năm nay sản lượng cũng tương tự nhưng tổng thu sẽ cao hơn. Tuy thế, sản lượng này cũng chẳng thấm tháp là bao so với công suất của các lò sấy nên mùa này đang làm chủ yếu là cau nhập từ Thái Lan. Nhiều chủng loại, lắm chất lượng như vậy nên người bên công ty chế biến của Trung Quốc cứ đến mùa lại về cắm chốt ở xã để giám sát xem có bị trộn hàng, qua mặt hay không.

Cứ 5 tấn cau tươi sẽ cho ra 1 tấn cau khô. Hiệp kể: “Lò của tôi thuộc dạng nhỏ trong tổng số hơn 30 lò của xã. Tháng 5 âm tôi sấy ở miền Tây, tháng 7, tháng 8 sấy ở Tây Nguyên, ở Quảng Nam còn tháng 9 lại về quê. Cau đưa vào sấy đủ loại, đều bán sang Trung Quốc, thành phẩm 1kg khô rẻ nhất là cau Thái Lan, Myanmar giá 230.000 – 240.000 đồng, cau miền Tây giá 280.000 – 300.000 đồng, cau Quảng Nam, Hải Phòng giá 370.000 – 380.000 đồng, còn cau Hải Hậu giá 450.000 đồng do ngọt và mềm nhất.

Phải chọn mua được nhiều quả loại 1 tức dài 4,3cm chiếm tỷ lệ cỡ 70% trở lên, loại 2 dài 4cm chiếm cỡ 20%, còn loại 3 ngắn hơn 4cm tỷ lệ càng ít càng tốt. Năm ngoái giá cau tươi 40.000 – 50.000 đồng/kg, mỗi tấn sấy lãi 10 – 15 triệu nên lò nhỏ lãi được 400 – 500 triệu còn lò to lãi được đôi, ba tỉ, thậm chí còn hơn. Năm nay cau tươi đắt, lại dính dịch Covid-19 nên xe chở hàng tươi các nơi về ít, xe chở hàng khô lên biên giới cũng gặp khó khăn, mẻ lãi bù mẻ lỗ, các lò đang ở trong tình trạng hòa. Nghề buôn hàng này cũng bấp bênh lắm, có gia đình cách đây mấy năm đã phải bán nhà trả nợ”.

Một hàng rào làm bằng cau và cây xanh. Ảnh: Dương Đình Tường.
Một hàng rào làm bằng cau và cây xanh. Ảnh: Dương Đình Tường.

Hiệp từng sang những nhà máy to như khu công nghiệp ở tỉnh Hồ Nam của Trung Quốc xem chế biến kẹo cau từ thịt quả trộn với mạch nha, bạc hà ăn thay kẹo cao su để chống rét, chống cúm. Mỗi gói kẹo gồm 10 miếng từ 5 quả cau bổ đôi làm từ hàng trộn của các địa phương có giá khoảng 80.000 đồng, nhưng nếu chế từ cau chuẩn của Hải Hậu sẽ có giá 150.000 đồng.

Theo anh Trần Thanh Huyên – Chủ tịch UBND xã Hải Đường, cau chủ yếu trồng trên đất vườn nhưng không thống kê được chính xác diện tích vì toàn dạng xen canh. Nếu cho phép chuyển đổi thì “thả” ra một cái, ruộng lúa hôm nay nhưng ngày mai 100% sẽ thành luống cau hết lượt.

Lý giải 2 năm nay cau đắt, người thì bảo do Trung Quốc nhập về điều chế thuốc chống cúm, người thì bảo vừa rồi Trung Quốc mưa bão trôi hết các kho hàng dự trữ cau khô để làm kẹo nên cầu tăng đột ngột.

Dương Đình Tường

Đà Lạt – thành phố trong lồng kính

Nguyễn Thanh Tâm, Huỳnh Trang

08:29 – 26/09/2019 4 TN

Đà Lạt chiếm 60% diện tích nhà kính toàn tỉnh Lâm Đồng, dẫn đầu cả nước trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Chấp nhận hoán đổi môi trường sinh thái, Đà Lạt đang ‘trả giá’…

Làng hoa Thái Phiên bạc trắng nhà kính /// Ảnh: Huỳnh Trang

Làng hoa Thái Phiên bạc trắng nhà kínhẢNH: HUỲNH TRANG

Làng hoa Thái Phiên (P.12, Đà Lạt) dưới cơn mưa chiều trắng xóa. Trong bộ đồ mưa, hai vợ chồng bà Phượng vẫn miệt mài trên sào đất trồng atiso ngoài trời. “Có tiền làm nhà kính trồng bông cúc sướng hơn, thu nhập cao mà không phải lo mưa nắng”, bà Nguyễn Thị Phượng, 63 tuổi, nói.

Tiếp tục đọc “Đà Lạt – thành phố trong lồng kính”

Khát nước giữa bốn bề sông nước

Khát nước giữa bốn bề sông nước
Cây lúa bị thiệt hại

Một ngày cuối tháng 2, bà Phan Thị Lan (xã Tân Hiệp, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh) ra đứng giữa đồng trong tâm trạng bấn loạn. Gần 1ha lúa đông xuân của bà đã chết khô tự lúc nào. Nhà bà Lan có 1,7ha trồng lúa, nhưng đã bị mất trắng 1ha do không đủ nước tưới. Giờ chỉ biết tìm mọi cách để cứu 0,7ha lúa 45 ngày tuổi còn lại.

Tiếp tục đọc “Khát nước giữa bốn bề sông nước”

‘Giải phóng’ đất nông lâm trường: Đã đến lúc cần ‘cuộc cách mạng’ quyết liệt hơn (5 bài)

Không ít nơi, chính quyền địa phương thu hồi đất của lâm trường nhưng lại không giao cho người dân tại chỗ mà giao cho các công ty tư nhân. Các lâm trường có nhiều đất cũng giao lại cho những người giàu có. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

***

‘Giải phóng’ đất nông lâm trường: Đã đến lúc cần ‘cuộc cách mạng’ quyết liệt hơn

Lời giới thiệu

Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của nông/lâm nghiệp và là trụ đỡ quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Tiếp tục đọc “‘Giải phóng’ đất nông lâm trường: Đã đến lúc cần ‘cuộc cách mạng’ quyết liệt hơn (5 bài)”

[Bài 9] Tỉnh bị doanh nghiệp thuốc bảo vệ thực vật… ghét nhất

Bí quyết những huyện ít dùng thuốc trừ sâu

20/07/2021

NNỞ miền Bắc, Phú Thọ có lẽ là tỉnh bị các doanh nghiệp thuốc bảo vệ thực vật ghét nhất bởi lẽ làm IPM chặt quá khiến họ tiêu thụ hàng rất khó khăn.

“Liệu cơm, gắp mắm” trong làm IPM

Ghét đến mức trước đây có nhiều công ty thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đến đặt vấn đề với Chi cục BVTV Phú Thọ để tổ chức 50 – 70 cuộc hội thảo mỗi năm, có khi kéo dài cả tuần ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã nhưng mấy năm nay không có cuộc nào cấp tỉnh, còn huyện xã chỉ cỡ dưới 10 cuộc.

Theo thống kê mới nhất từ Sở NN-PTNT Phú Thọ, toàn tỉnh hiện có 118.187 ha đất canh tác nhưng lượng thuốc BVTV sử dụng chỉ hơn 71,5 tấn, tương đương với mức bình quân 0,6 kg/ha/năm, trong đó có 0,21 kg là thuốc sinh học.

Ông Phan Văn Đạo, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Phú Thọ kiểm tra sâu bệnh trên bưởi. Ảnh: Dương Đình Tường.
Ông Phan Văn Đạo, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Phú Thọ kiểm tra sâu bệnh trên bưởi. Ảnh: Dương Đình Tường.

Tiếp tục đọc “[Bài 9] Tỉnh bị doanh nghiệp thuốc bảo vệ thực vật… ghét nhất”

Dồn dập vốn đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản

công thương – 20:32 | 07/05/2021

Liên tục từ đầu năm tới nay nhiều doanh nghiệp đã rót vốn đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến sâu cho nông sản trên khắp cả nước, nhằm tạo ra những sản phẩm chất lượng, giá trị gia tăng cao để gia tăng xuất khẩu cũng như tận dụng lợi thế của các Hiệp định thương mại thế hệ mới (FTA).

Dồn dập vốn đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản
Các sản phẩm nông sản chế biến sâu sẽ đem lại giá trị gia tăng hơn cho cả doanh nghiệp lẫn người nông dân

Gia tăng đầu tư chế biến sâu nâng giá trị nông sản

Trong những ngày đầu tháng 5/2021 tại hai tỉnh Long An, Đồng Tháp đã có các dự án chế biến nông sản được khởi công đầu tư. Theo đó, sáng ngày 7/5, Công ty CP Louis Holdings đã khởi công nhà máy chế biến rau củ quả đông lạnh xuất khẩu Toccoo tại TP. Tân An, tỉnh Long An. Nhà máy này có tổng vốn đầu tư 250 tỷ đồng, công suất 4 tấn/giờ, mỗi năm dự kiến cung cấp cho chuỗi cung ứng thực phẩm từ 15.000 đến 20.000 tấn sản phẩm.

Tiếp tục đọc “Dồn dập vốn đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản”

”Nói không” với ”giải cứu”, nông sản tìm lối đi riêng

ANH THƠ 19:35 thứ tư ngày 16/06/2021

(HNNN) – Lần đầu tiên tỉnh Bắc Giang có một đề nghị đặc biệt với các cơ quan báo chí: Không dùng từ “giải cứu” trong các tin, bài viết về nông sản của địa phương, đặc biệt là với vải thiều. Bởi chỉ cần có từ “giải cứu” là giá nông sản giảm. Cũng trong thời gian này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với các hội, đoàn thể ra mắt mô hình kết nối tiêu thụ nông sản kiểu mới.

Lãnh đạo Bộ NN&PTNT kiểm tra điểm tiêu thụ nông sản an toàn phòng dịch Covid-19 của Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp tại số 489 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.

Vải ngon sao phải giải cứu?

Chia sẻ về đề nghị chưa từng có này với các cơ quan truyền thông, ông Dương Văn Thái, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bắc Giang cho biết, địa phương có khoảng 28.000ha vải, sản lượng năm nay ước đạt 180.000 tấn. Hầu hết diện tích vải thiều của tỉnh Bắc Giang được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, với trên 80% sản lượng đáp ứng được yêu cầu theo các tiêu chuẩn này.

Tiếp tục đọc “”Nói không” với ”giải cứu”, nông sản tìm lối đi riêng”

Khát vọng ‘ốc đảo’ Phan Thanh

NN Phan Thanh, Tân Lập là hai xã phía Nam của huyện Lục Yên, một vùng đất sầm uất bên dòng sông Chảy, khi thủy điện Thác Bà hoàn thành nơi đây trở thành ‘ốc đảo’…

Con đường Tân Lập - Phan Thanh được người dân góp tiền mở rộng các khúc cua. Ảnh: Thái Sinh.
Con đường Tân Lập – Phan Thanh được người dân góp tiền mở rộng các khúc cua. Ảnh: Thái Sinh.

Trong ký ức của nhiều người trước khi nhà máy thủy điện Thác Bà chưa được xây dựng, dòng sông Chảy trở thành tuyến giao thông huyết mạch nối các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai. Hai anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật đã chọn vùng đất ven sông Chảy lập đại bản doanh chống lại quan lại địa phương hà hiếp dân chúng, sau đó mở rộng sang tận Tuyên Quang, Lào Cai đào thành đắp lũy giúp vua Lê Anh Tông và Lê Trang Tông chống lại nhà Mạc, được phong là Gia quốc công, hay còn gọi là Chúa Bầu. Phần lớn những thành quách đã trở thành phế tích hay chìm dưới lòng hồ Thác Bà.

Tiếp tục đọc “Khát vọng ‘ốc đảo’ Phan Thanh”

25 năm phát triển nhà kính của Đà Lạt: Qua hân hoan là mất mát

TTCT“Cùng với quá trình biến đổi khí hậu, nhiệt độ trung bình ở đây đã tăng, biên độ nhiệt cũng giãn ra. Bạn nghĩ xem, nếu nhà kính lan rộng nữa, cùng những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, Đà Lạt sẽ còn mất gì? Mất mát về khí hậu và cảnh quan đồng nghĩa với suy thoái ngành du lịch và phát sinh nhiều vấn đề xã hội” – Tiến sĩ LeeHyun Suk – Viện Tài nguyên sinh học quốc gia Hàn Quốc (NIBR) nói với TTCT về câu chuyện nhà kính của Đà Lạt.

Đà Lạt một thuở nông nghiệp thuận tự nhiên  (Ảnh: Mai Vinh)

Tiếp tục đọc “25 năm phát triển nhà kính của Đà Lạt: Qua hân hoan là mất mát”

Nông nghiệp Hà Nội – những cánh đồng bị bỏ quên

VNE – Thứ năm, 2/8/2018, 02:06

Người làm nông tại Hà Nội không cảm thấy mình là một phần trong nền kinh tế “thủ đô hiện đại”.

Chị Huệ ngại đi họp phụ huynh cho con gái từ hai năm nay. Chị sợ bị cô giáo nhắc chuyện khất tiền học. 

Huệ là kỹ sư thủy lợi của Hà Nội – nghề của những “Sơn Tinh bắt nước chảy quanh”, như lời hát của Đỗ Nhuận. Nhưng cuộc đời vị Sơn Tinh này giờ là một chuỗi các cuộc khất lần tiền bạc.

Tại trung tâm thành phố, giữa các buổi họp có mời báo chí, các lãnh đạo Hà Nội vẫn khẳng định “đầu tư cho thủy lợi” và “hiện đại hóa nông nghiệp”. Nhưng cách đó 15 cây số, tại trạm bơm Phương Bảng, Hoài Đức, diễn ra một khung cảnh quen thuộc: một nhóm công nhân thủy lợi tranh thủ giờ nghỉ trưa bàn chuyện chi tiêu tháng tới. Đó là những lúc họ vừa được tạm ứng lương một tháng – chừng một triệu tám trăm nghìn đồng.

Kỹ sư Nguyễn Thị Huệ chảy nước mắt khi nhắc đến đồng lương người làm thủy lợi.

Tiếp tục đọc “Nông nghiệp Hà Nội – những cánh đồng bị bỏ quên”

GS Võ Tòng Xuân: Bill Gates mà ở Việt Nam cũng khó giàu vì bản quyền tác giả còn lỏng lẻo

Gạo ST25 bị doanh nghiệp Mỹ đăng ký thương hiệu

 Anh Thơ (thực hiện) Thứ tư, ngày 05/05/2021 19:00 PM (GMT+7)

Xung quanh việc gạo ST25 có nguy cơ bị đăng ký bản quyền thương hiệu ở Mỹ, Úc, GS.TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ cho rằng, ngành chức năng cần vào cuộc hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ bản quyền. Vị giáo sư cho rằng, nếu không nhìn nhận nghiêm túc vấn đề bản quyền thì Bill Gates sang Việt Nam cũng khó giàu.

GS Võ Tòng Xuân: Bill Gate mà ở Việt Nam cũng khó giàu vì bản quyền tác giả còn lỏng lẻo - Ảnh 1.
Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, với vấn đề đăng ký bản quyền thương hiệu hiện nay, doanh nghiệp đang tự bơi là chính. GS Võ Tòng Xuân cho rằng, cần sớm tiến hảnh thủ tục bảo hộ thương hiệu gạo ST25. Ảnh: Huỳnh Xây.

<

Sao không công nhận ST25 là giống lúa quốc gia?

Thời gian gần đây, thông tin 4 doanh nghiệp của Mỹ đang tiến hành các thủ tục đăng ký bản quyền thương hiệu cho gạo ST25 tại thị trường Mỹ, sau đó một doanh nghiệp của Úc cũng chuẩn bị đăng ký thương hiệu loại gạo này khiến không ít người lo lắng. Quan điểm của giáo sư về việc này như thế nào?

Tiếp tục đọc “GS Võ Tòng Xuân: Bill Gates mà ở Việt Nam cũng khó giàu vì bản quyền tác giả còn lỏng lẻo”

Rốn nước Đà Lạt Đankia – Suối Vàng đang chết

24/04/2021 09:23 GMT+7

TTOHồ Đankia – Suối Vàng là nguồn cấp nước cho toàn TP Đà Lạt và vùng lân cận. Nay phần lớn lòng hồ cạn khô, nứt nẻ. Hồ tuyệt đẹp giữa rừng đang chết và nước đang cạn kiệt từng ngày. Cách nào cứu nguồn nước cho Đà Lạt?

Rốn nước Đà Lạt Đankia - Suối Vàng đang chết - Ảnh 1.

Lượng nước rất nhỏ dồn lại ở khu vực trũng giữa lòng hồ, hai nhà máy nước sử dụng nước tại đây để lọc cấp cho TP Đà Lạt và huyện Lạc Dương – Ảnh: ĐỨC THỌ

Nếu để hồ Đankia – Suối Vàng tiếp tục khô cạn và ô nhiễm, 10 năm nữa Đà Lạt không có nước uống – đó là cảnh báo được nêu ra trong một kỳ họp HĐND tỉnh Lâm Đồng năm 2017. Nay người Đà Lạt đang lo âu, có vẻ như điều tồi tệ nhất đang đến sớm hơn dự kiến.

Tiếp tục đọc “Rốn nước Đà Lạt Đankia – Suối Vàng đang chết”

Ngành hoa xài “giống lậu”

MAI VINH 22/4/2021 7:00 GMT+7

TTCT“Xài chùa”, “chơi hàng lậu”… là câu chuyện đầy động chạm khi nhắc đến thực trạng sử dụng giống hoa không có bản quyền rất phổ biến đối với ngành hoa VN. Với Đà Lạt (Lâm Đồng), thủ phủ hoa của cả nước, thực trạng này cũng rất phổ biến.

 Bên trong trang trại hoa của Đà Lạt Hasfam (Ảnh: Mai Vinh)

 Xài giống lậu, vừa làm vừa lo

Chuyện về một doanh nghiệp ở Đà Lạt đang xuất khẩu hoa với số lượng lớn vào một thị trường khó tính, lợi nhuận lớn bỗng tuyên bố phá sản là ví dụ điển hình về hậu quả của việc dùng giống hoa lậu.

Chủ doanh nghiệp này vốn là người phụ trách sản xuất cho một công ty nước ngoài đầu tư sản xuất hoa tại VN. Sau một thời gian làm thuê, ông nắm được  công nghệ, đầu mối xuất khẩu hoa đi Nhật Bản, và tách ra lập công ty riêng. Đối tác của công ty ông chính là đối tác cũ của công ty ông từng là nhân viên. 

Tiếp tục đọc “Ngành hoa xài “giống lậu””