“Cổ tích” ở Triêm Tây – 3 Bài

  • “Cổ tích” ở Triêm Tây – Bài 1
  • “Cổ tích” ở Triêm Tây – Bài 2
  • “Cổ tích” ở Triêm Tây – Bài 3
***
“Cổ tích” ở Triêm Tây – Bài 1
Thứ Hai, 25/07/2016, 16:59:37


Làng Triêm Tây nằm bên sông Thu Bồn đang là điểm đến được khách du lịch yêu thích.

NDĐT– Một ngày, ngôi làng nhỏ tưởng bị bỏ quên phía bên kia sông Thu Bồn bỗng nhiên có tên trong “bản đồ” du lịch, trở thành một điểm đến hấp dẫn du khách… Làng Triêm Tây (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) đã bắt đầu viết câu chuyện cổ tích về sự hồi sinh của mình từ những điều tưởng là nhỏ bé đơn giản nhất…

Làng quê nghèo trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn

Mất 10 phút đi thuyền qua sông, ngôi làng như một ốc đảo xanh mời gọi..

Trong hành trình du lịch đến Quảng Nam – Đà Nẵng, với những điểm đến quen thuộc lâu nay như Hội An, Mỹ Sơn, Cù Lao Chàm, các mô hình du lịch cộng đồng tại huyện Đông Giang bên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại, năm nay du khách được giới thiệu thêm một điểm mới: làng du lịch cộng đồng Triêm Tây.

Dừng chân ở bến thuyền bên sông cạnh làng gốm Thanh Hà, cách Hội An chừng 2km về hướng đông bắc, trong cái nắng mùa hè chấp chới, khách nhìn sang phía bờ bên kia thấp thoáng một ốc đảo mát xanh mời gọi. Chiếc thuyền nhỏ chạy men theo từng đám hoa lục bình, vừa cập bến, đã thấy mấy cô mấy chị trong bộ đồ bà ba nón trắng tươi cười đón khách trên chiếc cầu âu làm bằng thân tre. Sau những tiếng chào như thân thuộc, các cô các chị lấy nón che cho khách, hỏi han ríu rít như đón người thân đi xa về.

Thoạt tiên, khi bước chân vào con đường làng mát rượi bóng tre, hai bên những bụi tre thân nhỏ vàng óng kết thành từng lũy, khách đã cảm nhận sự bình yên đến lạ lùng. Con đường đất sạch sẽ dẫn vào làng, đi quanh co qua những ngôi nhà mái ngói ba gian xinh xắn, hàng rào là những luống hoa đủ màu sắc được cắt tỉa gọn gàng hoặc những luống chè tàu xanh mướt. Những ngôi nhà ngói đỏ, ô cửa sổ màu xanh, ngõ vào là những chiếc cổng chào kết bằng cây xanh, cây dây leo trổ đầy hoa. Một bức tranh làng quê xinh đẹp, sống động.

Làng Triêm Tây nằm bên dòng sông Thu Bồn chỉ có hơn 150 hộ dân sinh sống, chỉ cách đô thị cổ Hội An chừng 10 phút đi thuyền từ bến làng gốm Thanh Hà, hoặc hơn 20 phút qua đò Cẩm Kim và làng mộc Kim Bồng. Một ngôi làng thuần Việt hiện còn giữ được, với nguyên dáng vẻ của làng quê như từ nghìn năm trước, ẩn giấu bên trong những tiện nghi hiện đại và sức sống của ngày nay đang mời gọi du khách.

Người phụ nữ trung niên- sau này tôi biết tên cô Than – với nước da tái sạm nhưng nụ cười sáng bừng lên dưới vành nón lá, dáng đi vội vã, dẫn chúng tôi về nhà. Vừa đi cô vừa ríu rít, cái hàng rào cây chè tàu này mất hai năm mới lên được đẹp thế này. Đoạn này nhà cô cũng vậy, phải nâng nền ngõ lên chứ ngày trước ngập lắm, hễ mưa là ngập… Nhà cô Than nằm gần cuối làng, ngay bên lạch bến Quế. Con ngõ rợp cây xanh, bước vào sân nhà cô cũng vừa lúc gió từ sông thổi vào, dấp vục nước con gái của cô Than vừa kéo từ giếng khơi lên, mát lạnh như kem vừa tan chảy, bất chợt mọi gay gắt nóng rát của cái nắng miền Trung tháng sáu đã thành ngọt lịm. Con gái út của cô Than đưa khách lên phòng, hướng dẫn khách các lối đi lại, rồi nhẹ nhàng xuống nhà chuẩn bị bữa trưa.

Nhà cô Than là một trong mấy nhà mới được chọn làm thí điểm cho dịch vụ home-stay. Hai phòng nhỏ xinh xắn dành cho khách, sạch sẽ có đầy đủ tiện nghi, cô cho biết vừa được sửa sang theo tiêu chuẩn lưu trú cho khách du lịch quốc tế do ILO và UNESCO tư vấn.

Những “sản phẩm” bất ngờ

Những ngõ nhỏ bình yên thường thấy ở Triêm Tây.

Nếu để kể ra Triêm Tây có gì độc đáo so với các làng quê Việt Nam thì hẳn là không dễ. Như hàng trăm ngôi làng trên đất nước, làng nhỏ ấy có những ngôi miếu thờ và nhà cổ hàng trăm năm, cây thị hàng trăm năm tuổi, nghề dệt chiếu chẽ truyền thống và nghề đắp vẽ nghệ thuật bằng xi măng, khu nhà vườn truyền thống… Nhưng vì sao mà Triêm Tây đón được du khách, và đặc biệt, là khách lưu trú ngày càng tăng? Và chuyến đi ngắn ngủi đến ngôi làng này, đối với chúng tôi thật sự là những trải nghiệm và đúc kết vô cùng quý giá. Một chuyến đi đáng nhớ trong đời đối với chúng tôi.

Khi rời làng để quay về thành phố Đà Nẵng kịp chuyến bay đêm ra Hà Nội, ngồi trên chiếc thuyền nhỏ nhìn ngôi làng như ốc đảo xanh trôi dần ra xa, cảm giác như thể phải chia tay điều gì thân thiết nhất, và tự nhủ, dù thế nào cũng phải quay trở lại. Cho đến lúc ấy, tôi vẫn chưa lý giải hết vì sao mà mọi thứ tưởng như rất đỗi bình thường, vốn ngỡ quen thuộc ở mọi làng quê Việt, lại chính là những thứ mời gọi tha thiết đến tâm hồn mình, tình cảm mình, làm cho mình vừa thích thú khám phá những điều mới mẻ, vừa tận hưởng niềm vui an lành đến thế. Từ cái màu nước sông xanh trong vắt trưa hè nhìn qua cửa sổ nhà cô Than ra bến Quế, đến tiếng con chim bồ câu gù trong nắng sớm. Bữa cơm trưa trên chiếc bè mảng mát rượi gió đồng, những tôm cá vừa chài lưới ngoài sông, rau quả tươi ngon vừa mới hái sau vườn. Bà cụ già lặng lẽ ngồi dệt chiếu trong vạt nắng chiều xiên nơi góc nhà, mải miết không hề phân tâm bởi tiếng ồn ã du khách chung quanh. Gương mặt non tơ ánh lên niềm vui không dứt và câu chuyện ríu rít của Út Chơn- con gái cô Than. Ánh lửa đuốc bập bùng và tiếng hát bài chòi rạo rực trong đêm tối.

Tour đi bộ quanh làng giữa những con đường chè tàu xanh mướt, chèo thuyền, thả diều, dệt chiếu, trồng rau, đắp tượng, tới thăm thú nhà cổ, giếng cổ, lên chùa, ra miếu không những hấp dẫn du khách nước ngoài mà người Việt cũng thích thú say mê. Tự nhủ không biết vì lẽ gì mà những người thiết kế và thực hiện Dự án phát triển làng du lịch cộng đồng Triêm Tây có thể nhìn ra, rằng đi bộ quanh làng cũng là một “sản phẩm du lịch”. Trải nghiệm cuộc sống và công việc của người làng quê như đi cuốc đất trồng rau, tự tay hái rau, chèo thuyền quăng lưới bắt cá, rồi thì nấu nướng xong lại chèo thuyền qua bên kia Cồn Hến thả diều, nướng khoai nướng sắn… thật sự là vui thích đối với du khách. Giản dị vậy mà ngỡ như cuộc sống chốn thần tiên.

Nhớ lại cảm giác của mình khi đêm đến tay cầm bó đuốc dò dẫm từ con ngõ nhỏ nhà cô Than, men theo ánh sáng mà đi về phía trung tâm làng, nơi có hàng chục bó đuốc đang rực rỡ, để chờ nghe dân làng hát bài chòi mà tim mình bất giác rung lên. Có phải vì thấy lại những điều đã mất đi, đã thất lạc đâu đó, ở hàng trăm, hàng nghìn ngôi làng Việt? Ký ức xa xôi nay như được trở về… Tôi hiểu vì sao Triêm Tây ngày càng thu hút du khách.

Nhưng du lịch ở Triêm Tây không phải là đích đến, mà chỉ là động lực – một cơ may lấy lại những gì đã mất của làng quê thuần Việt, tạo lập một không gian sống bền vững cho dân làng.

Nếu ai đó biết được, Triêm Tây chỉ hơn hai năm trước gần như là một ngôi làng bị bỏ quên, buồn tẻ vì vắng tiếng chân người, thì có lẽ mới thấm hết niềm vui của người Triêm Tây hôm nay…

Cảnh quan ngôi làng được người dân chăm chút, chỉnh trang mang đến niềm vui thưởng ngoạn cho du khách.

Những góc vườn xinh đẹp.

Cô Lê Thị Than (áo xanh) đang hát một bài ca dân gian Quảng Nam trước sự thích thú của du khách.

Bánh trái cho khách nghỉ chân khi đi bộ trong làng.

Du khách trải nghiệm chèo thuyền trên sông.

Thưởng thức đặc sản cá sông nướng.

Hoạt động thả diều trên bãi phía bên kia cồn Hến được nhiều du khách lựa chọn khi đến Triêm Tây.

…………

Ghi chép của HỒNG MINH

***

“Cổ tích” ở Triêm Tây – Bài 1

Thứ Năm, 28/07/2016, 10:00:59


Vườn rau cộng đồng ở Triêm Tây.

NDĐT– Người Triêm Tây, nói đúng hơn là những người ở Triêm Tây, làm du lịch không như việc tô một bức tranh thật đẹp để khách đến ngắm nhìn. Tạo dựng một môi trường, mà trong đó mọi sự vận hành và phát triển thuận theo tự nhiên, và hơn ai hết, người dân địa phương được mang đến nhận thức rõ rằng, họ chính là chủ nhân, và đất đai, cây cối, cảnh quan là tài nguyên vô giá.

Triết lý làm vườn của cô gái đến từ Thủ đô

Vũ Mỹ Hạnh nói về triết lý làm vườn của cô.

Khi gặp Vũ Mỹ Hạnh giữa cái nắng trưa hè bắt đầu đứng bóng ở Vườn cộng đồng Triêm Tây, tôi đã bị lôi cuốn bởi cái sự trẻ trung rắn rỏi và linh hoạt của cô. Hạnh không hề trang điểm, tóc buộc dây chun vội sau đầu, quần vải đen và áo pull cotton, phô ra làn da nâu mịn màng hồng rực dưới nắng, đôi mắt đuôi cá quyến rũ, và đặc biệt là khóe môi luôn thường trực nụ cười. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy cô đẹp lạ lùng với làn da rám nắng lấm tấm mồ hôi…

Nhưng sẽ ngạc nhiên hơn nữa, khi tôi cùng Hạnh lội xuống mảnh vườn của cô và nghe cô gái nhỏ nhắn rám nắng ấy “thuyết minh” về triết lý làm vườn của mình. Bắt đầu từ suy nghĩ rằng, lý do cô ở Triêm Tây “không chỉ để làm du lịch”. Trước tiên và cơ bản nhất, cô muốn cùng những người bạn của mình giúp người dân ở đây tạo ra một môi trường sống thoải mái, an lành và hạnh phúc để thanh niên làng có việc quay về, để những người già họ có niềm vui những đứa trẻ ra đời sẽ được học hành tại đây, không phải nhọc nhằn ra đi nữa. Cô nhìn thấy sự lãng phí đất đai, tài nguyên và không gian sinh thái ở ngôi làng này. Cô muốn cùng người dân và làm cho chính người dân hiểu giá trị của nơi mình đang sống.

“Nếu người dân không cảm thấy hạnh phúc ở trên chính mảnh đất quê hương mình, và không nhận thức được phải làm thế nào để bảo vệ không gian sống ấy đủ hạnh phúc lâu dài, thì cũng khó làm cho du khách cảm nhận được niềm vui khi tới đây và càng khó để hấp dẫn họ trở lại. Em muốn làm từng việc một, trước hết là cho người dân ở Triêm Tây”- Hạnh nói.

Cô bắt đầu bằng việc cùng nhóm dự án làm vườn tại nhà, và cùng với người dân tạo dựng nên một khu vườn cộng đồng. Triết lý làm vườn của cô thực không có gì xa lạ, mà chính là trở về với cách làm truyền thống của người nông dân bao đời trước. Cô không dùng phân hóa học, không dùng thuốc trừ sâu. Hạnh cho rằng đó là cách làm vườn “phụ bạc” đất đai, vì chỉ sau một thời gian dùng các loại phân hóa học và các chất kích thích tăng trưởng, cho cây trái tốt tươi tăng năng suất, thì đất đai lại cằn cỗi hoặc nhiễm độc. Để đủ dinh dưỡng cho cây, cô tiến hành ủ phân bón bằng cách tận dụng từ rác thải của vườn, từ những cây lá mục, rơm rạ rong rêu. Quy cách làm đất tơi xốp, cô thực hiện rất bài bản khoa học từ khâu cuốc xới, tưới tiêu. Để tránh sâu bọ, cô không trồng cây thành từng luống theo từng loại cây như thường thấy, mà trong một mảnh vườn, cô trồng xen kẽ các loại cây. Thật ngạc nhiên khi trong đám rau dền, đậu đũa, bí ngô… tôi lại nhìn thấy những cây hoa dại nở rực rỡ. Hạnh giải thích, chính cây hoa dại này thu hút ong bướm và các loại côn trùng bắt diệt sâu bọ đến. Nhìn mảnh vườn của Hạnh rất vui mắt: các loại rau, cây dây leo xen kẽ nhau theo từng tầng, từ mặt nước, sát mặt đất cho đến tầng lửng, tầng cao, cứ vươn lên cùng nhau xanh tốt. Một khoảnh vườn sinh động đúng nghĩa với tiếng ong vo ve, bầy bướm sặc sỡ và cả những chú chim sâu lích chích. Cứ thế, cây và các loài côn trùng cộng sinh với nhau trong một mảnh vườn. Chất độc của loài này thải ra là dinh dưỡng của loài kia và ngược lại.

“Cây cũng giống như con người chị ạ. Nếu được ở cạnh người mình yêu thương, hợp nhau thì sẽ hạnh phúc, còn ngược lại, nếu đặt không đúng chỗ thì sẽ gây hại cho nhau hoặc không phát triển được”- Tôi bất ngờ vì “triết lý” của Hạnh. Hạnh đã cần mẫn từng bước “chứng minh” cho người dân nơi đây hiểu được rằng, trồng cây trước hết là để hồi sinh cho đất, bảo vệ đất, bởi đó là nguồn sống lâu đời của con người.

Nông nghiệp thuận tự nhiên, trong đó con người thực hành những quan sát về cách vận hành của tự nhiên để thuận theo chứ không tìm cách đi ngược để chăm chăm bảo vệ lợi ích của con người. Đó thực sự là một cách tư duy mới mẻ, đặt lại vấn đề có tính hệ thống về một nền nông nghiệp khai thác tận diệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và những hệ lụy mất mát là không thể đo đếm được đối với các thế hệ sau.

Du khách trải nghiệm trồng rau.

Từng đoàn du khách, đặc biệt là người nước ngoài, khi đến Triêm Tây, đều tìm đến Vườn Cộng đồng của Hạnh. Họ không chỉ hái những rau quả từ vườn để thưởng thức ngay tại bữa cơm do tự tay mình nấu, mà còn trải nghiệm việc cuốc đất trồng rau tưới cây và nghe cô nói về những con côn trùng, những cây hoa dại như một triết lý sâu sắc về đời sống…

Cơ hội cho người trẻ thực hiện ước mơ “start-up”

Hạnh không phải là người Triêm Tây. Sau này tôi mới biết được rằng, những thanh niên mà tôi gặp ở Triêm Tây đều từ nhiều nơi khác tới, hầu hết là ở các thành phố lớn trong nước và cả nước ngoài. Trong khi thế hệ trẻ địa phương không tìm thấy động lực sống lâu dài tại chính quê hương của họ, thì Hạnh lại thấy ở đây những cơ hội. Không chỉ để bản thân cô thực hành đam mê của mình mà còn đem lại những khả năng mới cho người dân và vùng đất này. Hạnh tin vào nông nghiệp quy mô nhỏ, quy mô hộ gia đình và quy mô cộng đồng. Đó là giải pháp cốt lõi trong việc bảo tồn những giá trị truyền thống, đồng thời tăng cường những năng lực mới giúp Triêm Tây thích ứng tốt hơn trước bối cảnh phát triển phức tạp, vốn đã và đang thay đổi và làm biến dạng rất nhiều làng quê Việt Nam theo cách thiếu bền vững.

Đó là lý do vì sao Hạnh đưa tổ chức và nhóm dự án của mình – Green Youth Collective – gồm tình nguyện viên, chuyên gia trong nước và quốc tế, về lập nghiệp tại Triêm Tây. Tôi tò mò khi nghe Hạnh nói, rất tự tin và quả quyết rằng cô sẽ định cư lâu dài tại Triêm Tây, cùng với một kế hoạch bài bản và chi tiết.

Hẳn là ngạc nhiên rồi, khi biết Hạnh vốn là cô gái Hà Nội chính gốc, tốt nghiệp loại giỏi của Đại học Ngoại thương và từng có việc làm tốt với mức thu nhập cao ở cả Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Cách Hạnh tổ chức các dự án làm vườn và phát triển một cộng đồng thực hành tại Triêm Tây đồng thời đem đến một cơ hội hiếm có cho các bạn trẻ, đến từ mọi nơi trên thế giới, trong đó chủ yếu là thanh niên địa phương có một nơi để học tập và rèn luyện bản thân. Có không ít các bạn trẻ khi bước ra khỏi cánh cổng trường đại học vẫn cảm thấy lạc lõng, bơ vơ không định hướng, trong khi đó khả năng làm việc thực tế bằng cả bàn tay, trái tim và khối óc thì rất hạn chế, thiếu tự tin và không biết bắt đầu từ đâu.

Khu vườn của Hạnh và Green Youth Collective không chỉ đơn thuần là một khu vườn trồng trọt hay chăn nuôi, mà hơn hết đó còn là mảnh đất để những hạt giống trẻ trung tìm đến và trải nghiệm quá trình nảy mầm, quá trình tìm kiếm những giá trị sống thực chất và nhân văn bên trong mỗi con người. Đó chính là một không gian giúp gợi lại những kết nối đã từ lâu trở nên thiếu vắng trong những bài học ở nhà trường hay môi trường xã hội, kết nối giữa con người với thiên nhiên và với những người khác.

Hạnh không chỉ dừng lại ở một giải pháp đơn lẻ, mà còn huy động thêm nhiều nguồn lực thông qua công việc của cô trước đây với các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế, dành sự quan tâm của cô tới những vấn đề rất thiết thực khác với người dân như y tế và giáo dục. Những buổi trò chuyện về chế độ dinh dưỡng cho con cái, khám và tư vấn cho phụ nữ và trẻ em tại nhà, cho tới hình thành một thư viện đọc sách và chơi vào sáng chủ nhật hàng tuần cho các em nhỏ trong làng.. Công việc hằng ngày của Hạnh và các bạn trẻ trong dự án bao quát hết các nhiệm vụ, họ tự đặt ra cho mình như vậy.

Trước khi định cư tại Triêm Tây, Hạnh được biết đến như một người làm vận động cho các phong trào về thanh niên, đặc biệt trong các vấn đề mới như Biến đổi khí hậu từ khi những khái niệm này còn rất mới mẻ tại Việt Nam, đồng thời là người đưa ra những sáng kiến để các bạn trẻ có cơ hội thử sức và rèn luyện nhiều hơn trong bối cảnh thực tế, thí dụ như chương trình giáo dục Thanh niên Tranh biện (Vietnam Youth to Debate) đầu tiên trong nước.

Hạnh nói rằng, Triêm Tây là dự án cuộc đời của cô, là nơi cô gạn lọc mọi kinh nghiệm đã có và phát triển những gì mình chưa biết. Hiện nay, bên cạnh vườn cộng đồng, cô và đồng nghiệp cũng đang bắt đầu mô hình trang trại riêng của mình. Chính cô đã tạo việc làm và động lực cho các bạn trẻ quay lại quê hương và tìm thấy niềm vui khởi nghiệp cho tương lai lâu dài và bền vững.

Điều ấy, hẳn là vô cùng ý nghĩa và quý giá với Triêm Tây – một ngôi làng mà câu chuyện về sự tồn vong, phát triển hết sức đặc biệt…

Một góc vườn nhỏ của Hạnh.

Chợ quê với những món rau mới hái từ vườn nhà.

(Còn nữa)

Ghi chép của HỒNG MINH

***

Cổ tích ở Triêm Tây- Bài 3

Thứ Ba, 02/08/2016, 10:35:21


Ngôi làng bên sông nhìn từ trên cao.

NDĐT– Câu chuyện Làng Triêm Tây (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) khiến tôi nghĩ đến hàng trăm ngôi làng của nông thôn Việt, hiện đang mai một và biến mất…

Cuộc thi của người nông dân

Khi được mời đến dự Lễ tổng kết và trao giải cuộc thi thiết kế hàng rào xanh ở làng Triêm Tây, tôi đã không nén nổi tò mò. Cái từ “thiết kế hàng rào xanh” khiến tôi nghĩ đến công việc của các kiến trúc sư, và cuộc thi phải ở một tầm cấp nào đó. Ai dè, đây lại là cuộc thi của những người nông dân, và sản phẩm là những cái bờ rào nhà mình, trong ngôi làng mình đang sống.

Đường làng với hàng rào chè tàu.

Cơ may cho Triêm Tây, khi Dự án phát triển du lịch cộng đồng được triển khai tại ngôi làng này, bắt đầu bằng việc chỉnh trang lại cảnh quan hạ tầng. Để làm đẹp cho đường làng ngõ xóm, cuộc thi thiết kế hàng rào xanh được phát động từ năm 2014. Có 60 hộ gia đình đăng ký tham gia. Việc mày mò nghiên cứu, trồng lại các bờ rào cây chè tàu, cây duối, râm bụt, các loại cây hoa… không đơn giản chỉ là việc lựa chọn trồng một cái hàng rào. Đó có thể coi là một “đột phá” về nhận thức của người nông dân trong việc lựa chọn cho mình một cảnh quan môi trường sống: nhận thức rõ như thế nào là vẻ đẹp của làng quê, bảo tồn nguyên vẹn giá trị sinh thái. Trở về lại như cái cách mà cha ông hàng bao thế hệ trước đã làm với ngôi nhà, mảnh vườn, bờ rào của mình, nhưng những người nông dân ở Triêm Tây được dẫn lộ bởi sự tư vấn sát sao về kỹ thuật và tài chính của các tổ chức, các chuyên gia trồng trọt, kiến trúc và kỹ thuật, mỹ thuật.

Phá mảnh tường bê tông trót dựng lên theo phong trào mấy năm trước, cụ bà Lê Thị Lắm sau một hồi “trăn trở” đã chọn cây hồng ngọc để làm hàng rào cho nhà mình. Khi lên nhận giải nhì cuộc thi với số tiền 2 triệu đồng của dự án trao tặng, bà thật sự ngỡ ngàng. “Hàng rào lên búp đẹp lắm con ạ. Chút nữa bà dẫn con về coi, đẹp lắm, lấp lánh như ngọc ấy, mà khi đau bụng có thể ra ngắt là nhai hết đau liền”- bà cười mắt lấp lánh niềm vui.

Cụ Dương Phán với phần thưởng của mình.

Còn cụ ông Dương Phán 73 tuổi, giành giải nhất với bờ rào hàng chè tàu, đoạn đường làng đi qua nhà ông được đặt tên “Đường Chè tàu”- thật sự là một vinh danh xúc động. Bởi lẽ hàng chè tàu này nhà ông có từ đời ông đời cụ, ông và con cháu đã giữ gìn chăm sóc từ bao đời nay. Khi có cuộc thi, ông trồng thêm và cắt tỉa cho đẹp hơn. Nhờ có cuộc thi này, con cháu ông mới biết quý giá những gì quen thuộc xưa cũ cha ông để lại.

Đơn giản đến kỳ lạ, Cuộc thi thiết kế Hàng rào xanh được xem là mô hình thí điểm tại Quảng Nam về giữ gìn cảnh quan đường làng nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

Giống như viên gạch đầu tiên – việc trồng rau hay thiết kế một cái hàng rào – đặt nền tảng cho cả quá trình nhận thức. Những người nông dân ở làng Triêm Tây đã bắt đầu viết câu chuyện cổ tích về sự hồi sinh của mình như vậy…

Cơ may của ngôi làng

Có thể gọi là cơ may, như một cú hích, Dự án phát triển làng du lịch cộng đồng Triêm Tây (giai đoạn 2015 -2020) với sự hỗ trợ của Tổ chức Giáo dục – Khoa học và Văn hóa (UNESCO) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) được UBND thị xã Điện Bàn phê duyệt năm 2014 đã tạo ra động lực mới mẻ cho người dân Triêm Tây.

Chị Lê Xuyến, cán bộ Dự án phát triển du lịch cộng đồng Triêm Tây- người có nhiều năm gắn bó với du lịch, di sản và văn hóa của vùng đất Quảng Nam, cho biết: “Khi bắt đầu khảo sát dự án, chúng tôi không thể hình dung được sẽ khôi phục lại cảnh quan sinh thái môi trường của làng như thế nào. Làng ven sông sạt lở, xói mòn, người dân lo lắng mảnh vườn của mình bị xóa sổ. Các lối đi vào làng gần như đều bị lún sụt, lầy lội, cỏ dại mọc um tùm, các khu vực sinh hoạt công cộng hầu như bỏ hoang phế. Các di tích, di sản hiện có thì xuống cấp. Làng khi đó chưa có điện, chưa có hệ thống nước sạch. Nghề nghiệp của người dân ở đây hầu như không có, bởi chỉ có nghề dệt chiếu chẽ thì không có đầu ra, nghề trồng dâu nuôi tằm thì đất đai bị xói mòn, sạt lở và để hoang hóa nên nghề cũng mai một. Vì thế, thanh niên trong làng lớn lên là bỏ đi hết. Một ngôi làng trước nguy cơ bị bỏ quên, tệ hơn nữa, đứng trước viễn cảnh bị xóa sổ. Đi một vòng quanh làng khi đó, chúng tôi chỉ gặp những người già, không thấy bóng dáng thanh niên con trẻ đâu hết. Vì nằm cách với các nơi khác một con sông, nên cuộc sống trong làng gần như bị tách biệt. Được vui tươi như ngày hôm nay, đối với người Triêm Tây, là như một giấc mơ vậy đó”.

Những món ăn dân dã.

Từ tháng 6-2015, HTX Nông nghiệp Triêm Tây được thành lập với 25 người đầu tiên, bà con đã cùng nhau làm Vườn Cộng đồng, xây lại Nhà văn hóa cũ, lên nội dung hoạt động cho tổ ẩm thực, học cách chế biến các món ăn, cùng nhau tập lại các điệu hát dân gian phục vụ du khách. Đến nay, hơn 30 hộ dân trong thôn đã tự nguyện tham gia HTX Nông nghiệp làng Triêm Tây với bảy tổ dịch vụ, rất chuyên nghiệp: tổ ẩm thực, tổ làm vườn, tổ chèo thuyền, tổ làm nghề truyền thống, tổ phục vụ dịch vụ lưu trú, tổ hướng dẫn khách tham quan, tổ văn nghệ phục vụ ca hát, biểu diễn âm nhạc dân gian như dân ca Quảng Nam, hát bài chòi… Họ cũng tự lập ra một Quỹ phát triển cộng đồng do các thành viên HTX khởi xướng, nhằm chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cả cộng đồng gồm những thành viên không trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch.

“Chúng tôi khập khễnh bước chân trên con đường làm du lịch nên rất thận trọng trong cách nghĩ cách làm. Có thể không trau chuốt được trong cách ứng xử như những người làm chuyên nghiệp, nhưng người làng tôi chân chất, mộc mạc. Trước đây, làng vắng vẻ hoang phế nên buồn lắm. Bây giờ thì nhộn nhịp vui tươi nên chúng tôi quý mỗi người khách đến như người thân trong gia đình.Nhờ những câu chuyện đời thường mà ngày nào cũng có khách đến Triêm Tây. Đặc biệt vào những dịp cuối tuần và ngày lễ khách đến đây như ngày hội làm dân làng cũng vui lây”- chủ tịch HTX Nông nghiệp Du lịch cộng đồng Triêm Tây nói.

Du khách nước ngoài trải nghiệm dệt chiếu ở Triêm Tây.

Đến tháng 6-2016, Triêm Tây xây dựng thêm các dịch vụ mới để du khách thêm trải nghiệm, khám phá và tận hưởng cuộc sống ở làng quê.

Làng Triêm Tây đón những người khách du lịch đầu tiên trong tour thử nghiệm bắt đầu từ 1-10-2015, đến tháng 3-2016 đã ước tính có tới hơn ba nghìn lượt du khách. Với một ngôi làng hầu như không có nguồn thu nào, nay trong sáu tháng thử nghiệm đưa khách về, đã có doanh thu đến hơn 300 triệu đồng. Con số đó có thể không lớn đối với một dự án sau mấy năm trời khởi động, nhưng thật vô cùng ý nghĩa đối với người Triêm Tây.

Tuy nhiên, dự án chỉ như một “cú hích”, một sự mở đường và tạo động lực cho người dân Triêm Tây. Giờ đây, khi các cán bộ của dự án, những chuyên gia của UNESCO, ILO, các cán bộ du lịch từ huyện, tỉnh đã “rút đi”, thì chính người dân ở đây đã tự mình làm chủ.

Buổi tối tay cầm bó đuốc dò dẫm đi theo cô Than ra Nhà văn hóa cộng đồng Triêm Tây để nghe bọn trẻ hát bài chòi, cô mới kể chúng tôi nghe câu chuyện của Út Chơn. Út từng bỏ làng ra đi, với khát vọng đổi đời ở một vùng đô thị sầm uất nào đó. Cô Than kể rằng, Út đã gặp và yêu một cậu trai, cùng định lập nghiệp ở nơi xa. Nhưng rồi vì bị bệnh nặng mà Út phải trở về làng. Mấy năm về làng Út buồn lắm, sinh đứa con nhỏ rồi mẹ con ngồi tựa cửa ôm nhau không biết làm gì để sống. Thế rồi khi dự án đến, như một cơ may không chỉ với làng mà với cả cuộc đời của Út. Út tham gia đi hát bài chòi, đi chèo thuyền cho khách sang bên kia cồn Hến thả diều, đi nấu cơm với các món đặc biệt đãi khách. Thế rồi Út vui lên từng ngày, bệnh thuyên giảm như chưa từng có. Lúc nào cũng thấy Út hăng hái công việc và đứa con thì lớn lên khỏe mạnh từng ngày.

Tôi đã nhìn thấy nụ cười trên gương mặt non tơ của Út. Mỗi câu Út nói về làng quê của mình là mỗi lúc ánh lên niềm tự hào không che giấu. Giờ Út còn trồng rau sạch trong vườn, tham gia vào chuỗi dự án nông sản sạch. Mỗi sản phẩm Út trồng như một niềm vui nho nhỏ ươm mầm rồi đơm hoa kết trái. Lâu lâu lại thấy Út nhắn trên face book: Chị ơi hôm nay làng đông khách lắm. Khách đi bơi dưới sông, thả diều trên bãi, nướng khoai sắn ngoài cồn, khách cùng Út đi hái dưa, nhổ khoai. Út vừa mới thử món cá rô đồng kho kiểu mới và sữa chua thạch nha đam nè chị… Chị nhớ về Triêm Tây nghe chị.

Nhớ về Triêm Tây nghe. Câu dặn dò của Út Chơn làm tôi nhớ đến những ngôi làng trên khắp đất nước mình đã đi qua. Trong mỗi người chúng ta ai cũng ra đi từ một ngôi làng nhỏ. Ai cũng mong có dịp trở về, để được thấy làng bình yên, vui tươi và no ấm. Nghĩ đến những ngôi làng truyền thống đang dần biến mất, bằng cách này hay cách khác, thấy cảm kích những con người ở Triêm Tây trong công cuộc hồi sinh của mình.

Những chiếc bảng chỉ đường độc đáo ở Triêm Tây.

Nhà cổ nhìn từ trên cao.

Đạp xe trên nước bằng chiếc xe tự chế ngộ nghĩnh.

Hoặc chỉ đơn giản là hòa mình vào dòng sông.

Và cuối cùng là thưởng thức hương vị đồng quê hấp dẫn

Ghi chép của HỒNG MINH

 

One thought on ““Cổ tích” ở Triêm Tây – 3 Bài

  1. “…Làng Triêm Tây nằm bên dòng sông Thu Bồn chỉ có hơn 150 hộ dân sinh sống, chỉ cách đô thị cổ Hội An chừng 10 phút đi thuyền từ bến làng gốm Thanh Hà, hoặc hơn 20 phút qua đò Cẩm Kim và làng mộc Kim Bồng…”

    Hình như em đã đến thăm làng Triêm Tây cách đây 3 năm rồi thì phải. Em cũng không chắc. Thôi khi nào có dịp sẽ đi thăm làng. 🙂

    Chúc làng Triêm Tây phát triển du lịch ngày càng bền vững. 🙂

    Like

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s