Việt Nam mạnh giàu: Giấc mơ từ bên ngoài Tổ quốc

03/09/2021 07:14 GMT+7

tuoitre.vn

TTO – Khi thế giới trở nên phẳng, những giấc mơ cũng không có “quốc tịch”. Ước mong về một Việt Nam mạnh giàu, khởi sinh bên ngoài lãnh thổ, nói với ta nhiều hơn về cái di sản hiện tồn trên đường phát triển đó.

Việt Nam mạnh giàu: Giấc mơ từ bên ngoài Tổ quốc - Ảnh 1.

Trưng bày sách “Thơ Việt Nam đương đại” tại phòng đọc Thư viện Quốc gia Pháp

Họ đang tìm mọi cơ hội để hướng về và phát triển đất nước. Cũng có thể là người chẳng có máu mủ ruột rà gì với quốc gia bé nhỏ này nhưng họ lại bị hai chữ “Việt Nam” quyến luyến và không ngừng cổ vũ cho sự phát triển của nó.

Khi thế giới trở nên phẳng, những giấc mơ cũng không có “quốc tịch”. Ước mong về một Việt Nam mạnh giàu, khởi sinh bên ngoài lãnh thổ, nói với ta nhiều hơn về cái di sản hiện tồn trên đường phát triển đó.

Tiếp tục đọc “Việt Nam mạnh giàu: Giấc mơ từ bên ngoài Tổ quốc”

Cuộc sống lên tầng, văn hóa “lên” đâu?

Hà Nội mới – 23-8-2019

KHOẢNG 20H NGÀY 9-5-2019, CƯ DÂN CHUNG CƯ AN BÌNH CITY (QUẬN BẮC TỪ LIÊM, HÀ NỘI) CUỐNG CUỒNG TÌM ĐƯỜNG CHẠY KHI CÓ TIN BÁO CHÁY.

KHÓI ĐEN XUẤT HIỆN TỪ MỘT CĂN HỘ Ở TẦNG 17 RỒI LAN ĐẾN TẦNG 23. CHỦ CĂN HỘ ĐI VẮNG, MỌI NGƯỜI TÌM CÁCH VÀO ĐỂ DẬP LỬA VÀ PHÁT HIỆN ĐIỀU KHÓ TIN: ĐÁM CHÁY XUẤT PHÁT TỪ HÀNH LANG, NƠI CHỦ NHÀ TẬP KẾT HÀNG TRĂM VIÊN THAN TỔ ONG, HỘP CÁC TÔNG ĐỂ ĐUN NẤU….

Tiếp tục đọc “Cuộc sống lên tầng, văn hóa “lên” đâu?”

Tầm nhìn trăm năm cho TP.HCM: Kịch bản phát triển kinh tế biển nào cho Cần Giờ?

Diễn đàn chuyên gia “Cần Giờ trong tầm nhìn kinh tế biển”:

 NĐT – 12:49 | Thứ tư, 26/05/2021 0

Sự thành bại của Cần Giờ trong tương lai sẽ tùy thuộc vào việc chọn được kịch bản phát triển bền vững phù hợp, và việc chuẩn bị tốt thế nào để ứng phó với các tác động môi trường và nguy cơ tiềm ẩn, để thế hệ mai sau được hưởng lợi ích dài lâu…

Trong 280 năm phát triển kể từ 1698, Sài Gòn không có biển. TP.HCM chỉ mới nối ra biển Đông từ khi huyện Duyên Hải (nay là huyện Cần Giờ) được sáp nhập vào năm 1978.

Nằm cách trung tâm TP.HCM khoảng 50 km, Cần Giờ là huyện duy nhất của thành phố giáp biển, với 23 km bờ biển chạy dài theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, và các cửa sông lớn từ các sông Lòng Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh. Cần Giờ có trên 70% là rừng ngập mặn và sông rạch, là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú phát triển các loại hình du lịch sinh thái biển, rừng, sông… 

Cần Giờ là huyện duy nhất của TP.HCM giáp biểncó nguồn thiên nhiên phong phú với trên 70% là rừng ngập mặn và sông rạch… Ảnh: Trung Dũng

Tiếp tục đọc “Tầm nhìn trăm năm cho TP.HCM: Kịch bản phát triển kinh tế biển nào cho Cần Giờ?”

UN report: Pandemic year marked by spike in world hunger

UNICEF.org

Africa posting biggest jump. World at critical juncture, must act now for 2030 turnaround

malnutrition

UNICEF/UN0232174/Njiokiktjien VII PhotoAfra, held by her mother Therese, is being checked for malnourishment at Al Sabbah Children’s hospital in Juba, South Sudan.

ROME/NEW YORK, 12 July 2021 – There was a dramatic worsening of world hunger in 2020, the United Nations said today – much of it likely related to the fallout of COVID-19. While the pandemic’s impact has yet to be fully mapped, a multi-agency report estimates that around a tenth of the global population – up to 811 million people – were undernourished last year. The number suggests it will take a tremendous effort for the world to honour its pledge to end hunger by 2030.  

This year’s edition of The State of Food Security and Nutrition in the World is the first global assessment of its kind in the pandemic era. The report is jointly published by the Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO), the International Fund for Agricultural Development (IFAD), the United Nations Children’s Fund (UNICEF), the UN World Food Programme (WFP) and the World Health Organization (WHO).

Tiếp tục đọc “UN report: Pandemic year marked by spike in world hunger”

Bao giờ mới thôi “sắp xếp lại giang sơn”!

Nguyễn Minh Hòa (*) Thứ Bảy,  27/2/2021, 09:13

(TBKTSG XUÂN) – Tôi sinh ra và lớn lên đến 17 tuổi là ở ngay chân núi đền Hùng, cứ vài ba ngày lũ trẻ trâu chúng tôi lại rủ nhau lên núi. Ngày ấy, gần 50 năm trước (nghe mà xa ngái), khu vực đền Hùng còn xanh cây tốt lá lắm cơ. 99 ngọn núi là rừng cây cao, mà cả khu vực trung du đều một màu xanh ngăn ngắt.


Núi Nghĩa Linh. Nguồn: adaglag.com

Núi Nghĩa Lĩnh nơi vua Hùng đời thứ nhất chọn làm nơi thờ cúng trời đất “kinh thiên” (kinh đô của 18 đời vua Hùng là ở Bạch Hạc chứ không phải ở đây) là một quả núi không cao nhưng rất thiêng, bao phủ bởi rừng cây rậm rạp nhiều tán, cao thì có chò chỉ, trung thì mít, tre, giang, cọ, nứa, thấp thì xim, mua. Ngày ấy nơi này còn có nhiều chim, thú hoang lắm. Ngọn núi này rất linh thiêng, các đền miếu tuy nhỏ nhưng thâm trầm, rêu phong, u tịch.

Với người dân đất Phong Châu thì Đền Hùng rất linh thiêng, nhưng thân thuộc, dường như cả cái vùng đất này chìm trong huyền sử. Rồi đến một ngày, Đền Hùng trở thành nơi quốc tổ và quốc lễ thì cây xanh lớn bé theo nhau đi dần. Đầu tiên là bê tông hóa bề mặt từ sân đền miếu, sau đó là đường đi, rồi tiếp nữa là xuống chân núi, lan đến các làng xóm xung quanh (nay vùng này thuộc thành phố Việt Trì). Tiếp tục đọc “Bao giờ mới thôi “sắp xếp lại giang sơn”!”

Thanh Đa, nhìn hoài vẫn lạ

Phụ nữ Cách trung tâm Sài Gòn chừng 2km nhưng Thanh Ða như một vùng đất lạ với nhiều nét hoang sơ, cư dân chân chất. Nếu xem tính cách của cư dân là bản sắc của đô thị thì nơi đây hội đủ các yếu tố để có thể tạo nên “đặc sản” của Sài Gòn, và vì thế, quy hoạch Thanh Ða không nên xổ tung hết mà hãy như dân làm ruộng, chỉ phát quang bụi rậm, dọn bờ thửa. thay áo cho đất không phải hốt hết bỏ đi mà phải giữ lại, thêm phân, thêm nước, lọc và thải những gì cần, để đất trở dạ tươi mới mà không đánh mất mình… Tiếp tục đọc “Thanh Đa, nhìn hoài vẫn lạ”

Aral Sea: The world 4th largest sea that dried up in 40 years

The Aral Sea was once the fourth-largest lake in the world. Fed primarily by snowmelt and precipitation flowing down from faraway mountains, it was a temperate oasis in an arid region. But in the 1960s, the Soviet Union diverted two major rivers to irrigate farmland, cutting off the inland sea from its source. The Aral Sea has been slowly disappearing ever since. These images show how the Aral Sea and its surrounding landscape has changed over the past few decades.

Xóa bất bình đẳng cực điểm: Mục tiêu phát triển bền vững, 2015–2030

Sợ nghèo | Đọt Chuối Non

Eliminating Extreme Inequality: A Sustainable Development Goal, 2015–2030

Michael W. Doyle and Joseph E. Stiglitz | March 2014

At the United Nations Millennium Summit in September 2000, UN member states took a dramatic step by putting people rather than states at the center of the UN’s agenda. In their Millennium Declaration,*1 the assembled world leaders agreed to a set of breathtakingly broad goals touching on peace through development, the environment, human rights, the protection of the vulnerable, the special needs of Africa, and reforms of UN institutions. Particularly influential was the codification of the Declaration’s development related objectives, which emerged in the summer of 2001 as the now familiar eight Millennium Development Goals (MDGs), to be realized by 2015:2

  1. Eradicate extreme poverty and hunger.3
    • Halve the proportion of people living on less than a dollar a day and those who suffer from hunger.
  2. Achieve universal primary education.
    • Ensure that all boys and girls complete primary school.
  3. Promote gender equality and empower women.
    • Eliminate gender disparities in primary and secondary education preferably by 2005, and at all levels by 2015.
  4. Reduce child mortality.
    • Reduce by two-thirds the mortality rate among children under five.
  5. Improve maternal health.
    • Reduce by three-quarters the ratio of women dying in childbirth.
  6. Combat HIV/AIDS, malaria, and other diseases.
    • Halt and begin to reverse the spread of HIV/AIDS and the incidence of malaria and other major diseases.
  7. Ensure environmental sustainability.
    • Integrate the principles of sustainable development into country policies and programs and reverse the loss of environmental resources.
    • By 2015, reduce by half the proportion of people without access to safe drinking water.
    • By 2020, achieve significant improvement in the lives of at least 100 million slum dwellers.
  8. Develop a global partnership for development.
    • Develop further an open trading and financial system that includes a commitment to good governance, development, and poverty reduction—nationally and internationally.
    • Address the special needs of the least developed countries, and the special needs of landlocked and small island developing states.
    • Deal comprehensively with the debt problems of developing countries.
    • Develop decent and productive work for youth.
    • In cooperation with pharmaceutical companies, provide access to affordable essential drugs in developing countries.
    • In cooperation with the private sector, make available the benefits of new technologies—especially information and communications technologies.

As UN Secretary-General Kofi Annan later described them, the MDGs were a remarkable effort in international coordination. They established common ground among competitive development agencies, inspired concerted action by international organizations and national governments, and offered an opportunity for citizens to insist that governments focus on the “we the peoples” they claimed to represent. In short, they transformed the agenda of world leaders.4

The MDG record has been mixed. Some goals, such as halving the proportion of people living in extreme poverty, have been met at the global level, but none have been fulfilled in all countries.

Fourteen years later, the MDG record has been mixed. Some goals, such as halving the proportion of people living in extreme poverty, have been met at the global level, but none have been fulfilled in all countries. Others, such as universal access to primary education, are unlikely to be achieved by 2015.5

However, while the accomplishment of these goals would have been an impressive achievement, even taken together they do not represent a complete or comprehensive vision of human development. They were constrained by what the member states could agree upon in 2000 and, in particular, they lacked a vision of equitable development.6 As the international community thinks about the set of goals that will follow the MDGs, it is time to address that shortcoming by adding the goal of “eliminating extreme inequality” to the original eight.

WHY INEQUALITY MATTERS

Every country has a distinct political economy that shapes the extent and effects of inequalities; each requires separate assessment. The marked differences in the extent and nature of inequality across countries demonstrate that inequality is not just determined by economic forces; it is shaped by politics and policies.

Full equality is not the goal. Some economic inequalities may be conducive to economic growth. Other inequalities may not be worth addressing because doing so infringes on cherished liberties. While the precise point at which inequalities turn harmful may differ from country to country, once inequality becomes extreme, harmful social, economic, and political effects become evident. Extreme inequalities tend to hamper economic growth and undermine both political equality and social stability. And because inequalities have cumulative economic, social, and political effects, each of these contributing factors requires separate and concerted attention. We turn first to the economic arguments for reducing extreme inequalities, and then to the political and social arguments.

Economic Arguments 7

Economists of widely differing philosophical outlooks agree that inequalities of incomes and assets have harmful economic effects. Increasing inequalities, with top-heavy income distributions, lessen aggregate demand (the rich tend to spend a smaller fraction of their income than the poor), which can slow economic growth. The attempt of monetary authorities to offset these effects can contribute to credit bubbles, and these bubbles in turn lead to economic instability. That is why inequality is often associated with economic instability. In this perspective, it is not a surprise that inequality reached high levels before the Great Recession of 2008 and before the Great Depression of the 1930s.8 Recent International Monetary Fund research shows that high inequality is associated with shorter growth cycles.9

Much of the inequality observed around the world is associated with rent-seeking (for example, the exercise of monopoly power), and such inequality manifestly undermines economic efficiency. But perhaps the worse dimension of inequality is inequality of opportunity, which is both the cause and consequence of inequality of outcomes, and causes economic inefficiency and reduced development, as large numbers of individuals are not able to live up to their potential.10 Countries with high inequality tend to invest less in public goods, such as infrastructure, technology, and education, which contribute to long-term economic prosperity and growth.

Reducing inequality, on the other hand, has clear economic as well as social benefits. It strengthens people’s sense that society is fair; improves social cohesion and mobility, making it more likely that more citizens live up to their potential; and broadens support for growth initiatives. Policies that aim for growth but ignore inequality may ultimately be self-defeating, whereas policies that decrease inequality by, for example, boosting employment and education have beneficial effects on the human capital that modern economies increasingly need.11

Gaps between the rich and the poor are partly the result of economic forces, but equally, or even more, they are the result of public policy choices, such as taxation, the level of the minimum wage, and the amount invested in health care and education.

Political and Social Arguments

Gaps between the rich and the poor are partly the result of economic forces, but equally, or even more, they are the result of public policy choices, such as taxation, the level of the minimum wage, and the amount invested in health care and education. This is why countries whose economic circumstances are otherwise similar can have markedly different levels of inequality. These inequalities in turn affect policy-making because even democratically-elected officials respond more attentively to the views of affluent constituents than they do to the views of poor people.12 The more that wealth is allowed unrestricted roles in funding elections, the more likely it is that economic inequality will get translated into political inequality.

As noted, extreme inequalities undermine not only economic stability but also social and political stability. But there is no simple causal relation between economic inequality and social stability, as measured by crime or civil violence. Neither form of violence correlates with Gini indices or Palma ratios (the top 10 percent of the population’s share of Gross National Income [GNI] divided by the poorest 40 percent of the population’s share of GNI).13 There are, however, substantial links between violence and “horizontal inequalities” that combine economic stratification with race, ethnicity, religion, or region. When the poor are from one race, ethnicity, religion, or region, and the rich are from another, a lethal, destabilizing dynamic often emerges.

Drawing on 123 national surveys in 61 developing countries, one study carefully documents the effects of inequalities in assets among ethnicities. For a typical country with average values on all the variables accounting for violence, the probability of civil conflict in a given year is 2.3 percent. If the level of horizontal asset inequality among ethnic groups is increased to the ninety-fifth percentile (and the other variables remain at their average values), the probability of conflict increases to 6.1 percent—more than a twofold increase. A similar comparison focused on differences in income among religious groups shows an increase from 2.9 percent to 7.2 percent—again, more than twofold.14 Another study using similar methods finds regional disparities in wealth to be correlated with an especially high risk of conflict onset in sub-Saharan Africa.15

Using a different methodology that focuses on geographical disparities in income that are linked with ethnic differentiation, rather than surveys to measure inequalities, other authors confirm the dangers of large horizontal inequalities. Focusing on the post–cold war period (1991–2005), Lars-Erik Cederman, Nils Weidmann, and Kristian Gleditsch divide the total sum of economic production in a given ethnic settlement area by the group’s population size to get ethnic group–specific measures of per capita economic production. They find that both relatively poorer and relatively richer ethnic groups have higher likelihoods of experiencing civil war. Demonstrating that not just ethnographic factors are at work, they show that the richer (or the poorer) the ethnographic group is, the greater the likelihood of the extreme groups experiencing civil war with other ethnographic groups.16

THE MANY DIMENSIONS OF INEQUALITY

Just as discussions of poverty and poverty reduction expanded from a singleminded focus on income to many other dimensions of deprivation—including health and the environment—so too did they evolve in the case of inequality.17 Indeed, in most countries it appears that inequalities in wealth exceed those in income. Especially in countries without adequate public health systems, a Palma ratio reflecting health status would almost surely show even greater inequalities than a Palma ratio for income. A Palma ratio based on exposures to environmental hazards would likely demonstrate a similar trend.

One of the most pernicious forms of inequality relates to inequality of opportunity, reflected in a lack of socioeconomic mobility, condemning those born into the bottom of the economic pyramid to almost surely remain there. Alan Krueger, former Chairman of the U.S. Council of Economic Advisors, has pointed to this link between inequality and opportunity.18 Inequality of income tends to be associated with less economic mobility and fewer opportunities across generations. The fact that those born into the bottom of the economic pyramid are condemned to never reach their potential reinforces the correlation between inequality and slower long-term economic growth.19

That these dimensions of inequality are related suggests that focusing on one dimension at a time may underestimate the true magnitude of societal inequalities and provide an inadequate basis for policy. For example, health inequality is both a cause and consequence of income inequality. Inequalities in education are a primary determinant of inequalities in income and opportunity. In turn, as we have emphasized, when there are distinct social patterns of these multiple inequalities (for example, those associated with race or ethnicity), the consequences for society (including social instability) are increased.

MEASURING THE GOAL

We propose that the following goal—call it “Goal Nine”—be added to revisions and updates of the original eight: Eliminate extreme inequality at the national level in every country. For this goal, we propose the following targets:

  • By 2030, reduce extreme income inequalities in all countries such that the post-tax income of the top 10 percent is no more than the post-transfer income of the bottom 40 percent.
  • By 2020, establish a public commission in every country that will assess and report on the effects of national inequalities.

There is a growing consensus that the best indicator for these targets is the Palma ratio, which effectively focuses on extremes of inequality—the ratio of incomes at the very top to those at the bottom.20 In many countries around the world it is changes in these extremes that are most noticeable and most invidious, while the share of income in the middle is relatively stable.21 All countries should focus on their “extreme” inequalities, that is, the inequalities that do most harm to equitable and sustainable economic growth and that undermine social and political stability. A Palma ratio of 1 is an ideal reached in only a few countries. For example, countries in Scandinavia, with Palma ratios at 1 or less,22 do not seem to suffer from the liabilities associated with extreme inequalities. Indeed, in some accounts they seem to benefit from a positive “equality multiplier” across the various aspects of their socioeconomic development, making them efficient and flexible as well as equitable and stable.23

But countries differ not just in how unequal they are now but also in their culture, tolerance of inequality of various kinds, and capacity for social change. Hence, the more important target is the second one: a national dialogue by 2020 on what should be done to address the inequalities of most relevance to the particular country. Such a dialogue would draw attention to the policies in each country that exacerbate inequality (for example, deficiencies in the education system, the legal system, or the tax and transfer system); those that simultaneously distort the economy and contribute to economic, political, and social instability; and those that might most easily be altered.24

Support for reducing extreme inequalities is widespread.25 In a letter to Dr. Homi Kharas, lead author and executive secretary of the secretariat supporting the High-Level Panel of Eminent Persons on the Post-2015 Development Agenda, ninety economists, academics, and development experts urged that reduction in inequality in the post-2015 development framework be made a priority, and suggested that inequality be measured using the Palma ratio.26 They argue—consistent with our analysis—that inequality threatens poverty eradication, sustainable development, democratic processes, and social cohesion.27

Awareness of the adverse effects of inequality has moved beyond academics and social activists. A July 2013 speech by U.S. President Barack Obama outlined the role of inequality in creating credit bubbles (like the one that precipitated the Great Recession) and the way it deprives people of opportunity, which in turn fosters an inefficient economy in which the talents of many cannot be mobilized for the good of all.28 And Pope Francis, in his address in the Varginha slum of Rio de Janeiro on World Youth Day 2013, emphasized the need for greater solidarity, greater social justice, and special attention to the circumstances of youth. And, again consistent with the studies cited earlier, he declared that peace cannot be maintained in unequal societies with marginalized communities.29

There are many dimensions to inequality—some with more invidious effects than others—and many ways to measure these inequalities. One thing is certain, however: sustainable development cannot be achieved while ignoring extreme disparities. It is imperative that the post-MDG agenda have as one of its central points a focus on inequality.

NOTES

* The authors have benefited from the research assistance of Alicia Evangelides, Eamon Kircher-Allen, and Laurence Wilse-Samson.


Xóa bất bình đẳng cực điểm: Mục tiêu phát triển bền vững, 2015–2030

Michael W. Doyle và Joseph E. Stiglitz | Tháng 3 năm 2014

[PTH: Giáo sư Stiglitz có Nobel Kinh tế và rất hỗ trợ Việt Nam]

Tháng 9 năm 2000, tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ Liên hợp quốc, các nước thành viên đã đi một bước đột ngột bằng cách đặt con người, chứ không phải các nước, vào trọng tâm của chương trình nghị sự. Trong Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc,*1, các lãnh đạo thế giới nhóm họp với nhau đã cùng nhất trí bộ mục tiêu chung rất hấp dẫn về hòa bình thông qua phát triển, môi trường, nhân quyền, bảo vệ người dễ bị tổn thương, nhu cầu đặc biệt của châu Phi và cải cách các thể chế Liên hợp quốc. Đặc biệt có ảnh hưởng là việc soạn bộ luật các mục tiêu liên quan đến phát triển của Tuyên bố,trỗi lên vào mùa hè năm 2001 mà ngày nay là 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) quen thuộc, nhằm đạt được vào năm 2015: 2

  1. Xoá đói nghèo cực điểm.3
    • Giảm 1/2 số người sống dưới 1 đô la 1 ngày và giảm 1/2 số người bị đói.
  2. Đạt giáo dục tiểu học phổ cập.
    • Đảm bảo mọi trẻ em trai và gái đều xong tiểu học.
  3. Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.
    • Xóa chênh lệch giới trong giáo dục tiểu học và trung học phổ thông, tốt nhất là vào năm 2005 và ở mọi cấp năm 2015.
  4. Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em.
    • Giảm 2/3 số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.
  5. Cải thiện sức khỏe người mẹ.
    • Giảm 3/4 số phụ nữ chết khi sinh con.
  6. Chiến đấu với HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác.
    • Ngăn chặn và bắt đầu đảo ngược sự lây lan của HIV/AIDS, tỷ lệ mắc sốt rét và các bệnh chính khác.
  7. Đảm bảo tính bền vững của môi trường.
    • Lồng ghép các nguyên tắc phát triển bền vững vào các chính sách và chương trình quốc gia, và đảo ngược việc mất tài nguyên môi trường.
    • Đến năm 2015, giảm 1/2 số người không được sử dụng nước sạch.
    • Đến năm 2020, đạt được cải thiện đáng kể trong đời sống của ít nhất 100 triệu dân khu ổ chuột.
  8. Xây dựng quan hệ đối tác toàn cầu để phát triển.
    • Phát triển thêm nữa hệ thống thương mại và tài chính mở có cam kết chính quyền tốt, phát triển và giảm nghèo – trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
    • Giải quyết các nhu cầu đặc biệt của các nước kém phát triển nhất và các nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển không giáp biển, và các đảo nhỏ.
    • Giải quyết toàn diện vấn đề nợ của các nước đang phát triển
    • Phát triển công việc tốt và hiệu năng cao cho người trẻ.
    • Hợp tác với công ty dược phẩm, cung cấp quyền tiếp cận các loại thuốc cần thiết vừa với túi tiền ở các nước đang phát triển.
    • Hợp tác với khu vực tư nhân, tạo phúc lợi công nghệ mới – đặc biệt công nghệ thông tin và truyền thông.

Như Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan sau đó đã miêu tả, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ này là nỗ lực xuất sắc của phối hợp quốc tế. Các Mục tiêu đã thiết lập nền móng chung cho các cơ quan phát triển cạnh tranh nhau, gợi hứng cho các hành động hòa hợp của các tổ chức quốc tế và các chính phủ quốc gia, đồng thời tạo cơ hội cho người dân đòi chính phủ tập trung vào “người dân chúng tôi” mà chính phủ tuyên bố đại diện. Tóm lại, các Mục tiêu đã thay đổi chương trình nghị sự của các lãnh đạo thế giới.4

Thành quả của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ có điều được điều không. Vài mục tiêu, chẳng hạn như giảm 1/2 số người sống trong tận cùng nghèo khó, tuy được đáp ứng ở cấp toàn cầu, nhưng không được thực hiện ở tất cả các nước.

Mười bốn năm sau, thành quả của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ có điều được điều không. Vài mục tiêu, chẳng hạn như giảm 1/2 số người sống trong tận cùng nghèo khó, tuy được đáp ứng ở cấp toàn cầu, nhưng không được thực hiện ở tất cả các nước. Những mục tiêu khác, chẳng hạn như tiếp cận giáo dục tiểu học phổ cập, khó có thể đạt được vào năm 2015.5

Tuy nhiên, trong khi việc hoàn thành mục tiêu đáng lẽ phải là thành tích huy hoàng, thì trên tổng thể các mục tiêu cũng chẳng thể hiện được tầm nhìn toàn diện hoặc đầy đủ về phát triển con người. Các mục tiêu đã bị giới hạn bởi những gì các nước thành viên có thể đồng ý vào năm 2000, và đặc biệt, chúng thiếu tầm nhìn về phát triển công bằng.6 Vì cộng đồng quốc tế đang nghĩ về bộ mục tiêu theo sau các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, đã đến lúc phải giải quyết thiếu sót đó bằng cách thêm mục tiêu “xóa bất bình đẳng cực điểm” vào 8 mục tiêu ban đầu.

TẠI SAO BẤT BÌNH ĐẲNG LÀ VẤN ĐỀ LỚN

Mỗi nước đều có nền kinh tế chính trị riêng định hình quy mô và tác động của bất bình đẳng; thế nên mỗi nước đều phải được đánh giá riêng. Khác biệt đặc trưng về mức độ và bản chất của bất bình đẳng giữa các nước chứng tỏ bất bình đẳng không chỉ được xác định bởi các lực kinh tế; mà còn được định hình bởi chính trị và chính sách.

Hoàn toàn bình đẳng không phải là mục tiêu. Vài bất bình đẳng kinh tế có thể có lợi cho phát triển kinh tế. Những bất bình đẳng khác có thể chẳng bõ công giải quyết vì làm như vậy là vi phạm những tự được yêu chuộng. Dù thời điểm chính xác mà bất bình đẳng trở nên có hại có thể khác nhau giữa các nước, nhưng một khi bất bình đẳng trở nên cực độ, ảnh hưởng có hại về xã hội, kinh tế và chính trị sẽ trở nên rõ ràng. Bất bình đẳng cực điểm có khuynh hướng cản trở phát triển kinh tế và hủy hoại cả bình đẳng chính trị và ổn định xã hội. Và vì bất bình đẳng có ảnh hưởng chất chồng cả về kinh tế, xã hội và chính trị, mỗi yếu tố góp phần tạo nên bất bình đẳng này đòi hỏi được cả chú ý riêng và chú ý phối hợp. Trước hết, chúng tôi quay sang lập luận kinh tế để làm giảm bất bình đẳng cực điểm, và sau đó là lập luận chính trị và xã hội.

Lập luận kinh tế 7

Những nhà kinh tế có quan điểm triết học khác nhau nhiều đều đồng ý rằng bất bình đẳng thu nhập và tài sản đều có ảnh hưởng kinh tế nguy hại. Bất bình đẳng gia tăng, với phân bổ thu nhập quá nhiều ở đỉnh, làm giảm tổng cầu (người giàu có xu hướng tiêu chỉ một tỉ số nhỏ của lợi tức của họ, nhỏ hơn so với tỉ số tiêu lợi tức của người nghèo), có thể làm chậm tăng trưởng kinh tế. Nỗ lực của cơ quan tiền tệ nhằm bù đắp ảnh hưởng này có thể góp phần tạo ra bong bóng tín dụng, và những bong bóng này lại dẫn đến bất ổn kinh tế. Đó là lý do vì sao bất bình đẳng thường gắn liền với bất ổn kinh tế. Theo quan điểm này, chẳng có gì ngạc nhiên khi bất bình đẳng đạt mức cao vào trước Đại suy thoái năm 2008 và trước Đại suy thoái những năm 1930.8 Nghiên cứu gần đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho thấy bất bình đẳng cao có liên quan đến những chu kỳ tăng trưởng ngắn hơn.9

Phần lớn bất bình đẳng được quan sát trên thế giới đều liên quan đến trục lợi (ví dụ, sử dụng độc quyền), và hiển nhiên bất bình đẳng đó làm hao mòn hiệu quả kinh tế. Nhưng có lẽ loại bất bình đẳng tồi tệ hơn cả là bất bình đẳng cơ hội, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của bất bình đẳng kết quả, gây ra bất lực kinh tế và làm giảm phát triển, khi lượng lớn người không thể sống đúng với tiềm năng của họ.10 Nước có bất bình đẳng cao có xu hướng ít đầu tư vào tài sản công hơn, như cơ sở hạ tầng, công nghệ và giáo dục, những tài sản đóng góp vào tăng trưởng và thịnh vượng kinh tế dài hạn.

Mặt khác, rõ ràng giảm bất bình đẳng có lợi cho kinh tế cũng như xã hội. Giảm bất bình đẳng củng cố ý thức của mọi người rằng xã hội là công bằng; cải thiện tính liên kết và tính di động xã hội, làm cho nhiều người có thể sống đúng với tiềm năng của họ hơn; và mở rộng hỗ trợ cho những sáng kiến ​​tăng trưởng. Những chính sách nhằm mục đích phát triển nhưng phớt lờ bất bình đẳng rốt cuộc có thể tự chuốc lấy thất bại, trong khi những chính sách giảm bất bình đẳng, chẳng hạn như gia tăng việc làm và giáo dục có tác động lợi ích tới vốn con người mà kinh tế hiện đại càng ngày càng cần. 11

Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo một phần là kết quả của các lực lượng kinh tế, nhưng tương đương, hay thậm chí nhiều hơn, là kết quả của lựa chọn chính sách công, chẳng hạn như thuế, lương tối thiểu, và lượng đầu tư vào chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

Lập luận Chính trị và Xã hội

Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo một phần là kết quả của các lực lượng kinh tế, nhưng tương đương, hay thậm chí nhiều hơn, là kết quả của lựa chọn chính sách công, chẳng hạn như thuế, lương tối thiểu, và lượng đầu tư vào chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Đây là lý do vì sao các nước có hoàn cảnh kinh tế giống nhau có thể có mức độ bất bình đẳng khác nhau rõ rệt. Đến lượt mình, những bất bình đẳng này lại ảnh hưởng đến việc làm chính sách, vì ngay cả quan chức được bầu dân chủ cũng phản ứng chăm chú hơn với những quan điểm của cử tri giàu, hơn là quan điểm của cử tri nghèo.12 Người giàu càng được đóng vai trò tài trợ bầu cử không hạn chế, càng có nhiều khả năng bất bình đẳng kinh tế chuyển thành bất bình đẳng chính trị.

Như đã nói, bất bình đẳng cực điểm không chỉ hủy hoại ổn định kinh tế mà còn hủy hoại cả ổn định xã hội và chính trị. Nhưng chẳng có liên hệ nhân quả đơn giản nào giữa bất bình đẳng kinh tế và ổn định xã hội, khi đo bằng tội phạm hay bạo lực dân sự. Chẳng có hình thức bạo lực nào liên quan với chỉ số Gini [là hệ số Gini (hệ số Loren), là hệ số chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập cho mọi cá nhân trong một nền kinh tế – theo Wikipedia] hay tỷ lệ Palma (10% dân số giàu nhất trong Tổng Thu nhập Quốc dân [GNI] chia cho 40% người nghèo nhất của GNI).13 Tuy nhiên, có những liên kết chắc nịch giữa bạo lực và “bất bình đẳng theo chiều ngang” – là bất bình đẳng phối hợp phân tầng kinh tế với chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực. Khi người nghèo đến từ một chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực, còn người giàu đến từ một chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hay khu vực khác, động lực gây mất ổn định chết người thường nổi lên.

Dựa trên 123 cuộc khảo sát khắp nước ở 61 nước đang phát triển, một nghiên cứu đã cẩn thận ghi lại những tác động của bất bình đẳng tài sản giữa các dân tộc. Với một nước điển hình có giá trị trung bình trên mọi tham số liên quan đến bạo lực, thì xác suất xung đột dân sự [nội chiến] trong một năm là 2,3%. Nếu mức độ bất bình đẳng tài sản theo chiều ngang giữa các nhóm dân tộc tăng lên đến phân vị thứ 95 (và các tham số khác vẫn ở giá trị trung bình), thì xác suất xung đột sẽ tăng lên 6,1% – tăng hơn gấp hai lần. So sánh tương tự tập trung vào khác biệt thu nhập giữa các nhóm tôn giáo cho thấy mức tăng từ 2,9% lên 7,2% – lần nữa, gấp hơn hai lần.14 Một nghiên cứu khác dùng phương pháp tương tự cho thấy chênh lệch giàu nghèo theo khu vực có liên quan cùng chiều với rủi ro xung đột trỗi lên ở hạ Sahara, Châu Phi (vùng châu Phi nằm phía nam sa mạc Sahara).15

Để đo bất bình đẳng, thay vì khảo sát, khi dùng phương pháp khác, tập trung vào chênh lệch thu nhập theo khu vực địa lý, có liên kết với sự phân biệt chủng tộc, thay vì khảo cứu đo lường bất bìnhđẳng, các tác giả khác khẳng định những nguy hiểm của bất bình đẳng rộng lớn theo chiều ngang. Tập trung vào giai đoạn sau chiến tranh lạnh (1991–2005), Lars-Erik Cederman, Nils Weidmann và Kristian Gleditsch chia tổng sản lượng kinh tế trong một vùng dân định cư cụ thể cho lượng dân số của nhóm để có số đo sản lượng kinh tế bình quân đầu người. Họ thấy cả nhóm dân tương đối nghèo hơn và nhóm tương đối giàu hơn đều có khả năng xảy ra nội chiến cao hơn. Chứng minh rằng không chỉ các yếu tố chủng tộc mới có tác dụng, chúng cho thấy nhóm dân càng giàu hơn (hay càng nghèo hơn) thì khả năng các nhóm cực điểm này có nội chiến với các nhóm dân khác càng lớn.16

NHIỀU LOẠI BẤT BÌNH ĐẲNG

Giống như các thảo luận về nghèo và giảm nghèo đẫ mở rộng từ việc chỉ tập trung vào thu nhập sang nhiều khía cạnh khác của thiếu thốn – gồm sức khỏe và môi trường – thì các thảo luận này cũng tiến hoá trong trường hợp bất bình đẳng.17 Thật vậy, hình như ở đa số các nước, bất bình đẳng tài sản vượt quá bất bình đẳng thu nhập. Đặc biệt ở những nước không có hệ thống y tế công cộng đầy đủ, tỷ lệ Palma phản ánh tình trạng sức khỏe gần như chắc chắn cho thấy những bất bình đẳng lớn hơn tỷ lệ Palma thu nhập. Tỷ lệ Palma dựa trên độ phơi nhiễm với các nguy hiểm môi trường có thể sẽ cho thấy xu hướng tương tự.

Một trong những hình thức bất bình đẳng nguy hại nhất lại liên quan đến bất bình đẳng cơ hội, thể hiện ở chỗ thiếu di động kinh tế xã hội, khiến người sinh ở đáy kim tự tháp kinh tế gần như chắc chắn đứng ở lại đó. Alan Krueger, cựu Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế Hoa Kỳ, đã chỉ ra mắt xích giữa bất bình đẳng và cơ hội này.18 Bất bình đẳng thu nhập có khuynh hướng gắn liền với ít di động kinh tế hơn và ít cơ hội hơn qua các thế hệ. Thực tế, người sinh ở đáy kim tự tháp kinh tế bị kết án là không bao giờ đạt được tiềm năng của họ đã củng cố mối liên quan giữa bất bình đẳng và phát triển kinh tế dài hạn chậm hơn.19

Việc những khía cạnh bất bình đẳng này có liên quan với nhau cho thấy việc tập trung vào một khía cạnh tại một thời điểm có thể đánh giá thấp mức độ thật của bất bình đẳng xã hội và chuẩn bị cái nền không phù hợp cho chính sách. Ví dụ, bất bình đẳng sức khỏe vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của bất bình đẳng thu nhập. Bất bình đẳng trong giáo dục là yếu tố quyết định chính của bất bình đẳng thu nhập và cơ hội. Ngược lại, như chúng tôi đã nhấn mạnh, khi có những hình thái xã hội riêng của những bất bình đẳng này (ví dụ, bất bình đẳng liên quan đến chủng tộc hay sắc tộc), hậu quả với xã hội (gồm cả bất ổn xã hội) sẽ tăng lên.

ĐO MỤC TIÊU

Chúng tôi đề xuất mục tiêu sau – gọi là “Mục tiêu số 9” – thêm vào bản sửa đổi và cập nhật của 8 mục tiêu ban đầu: Xóa bất bình đẳng cực điểm ở cấp quốc gia ở mọi nước. Với mục tiêu này, chúng tôi đề xuất những chỉ tiêu đi theo:

  • Đến năm 2030, giảm bất bình đẳng thu nhập cực điểm ở mọi nước sao cho thu nhập sau thuế của 10% hàng đầu không nhiều hơn thu nhập sau khi chuyển tiền của 40% dưới cùng.
  • Đến năm 2020, thành lập ủy ban công ở mọi nước để đánh giá và báo cáo tác động bất bình đẳng quốc gia.

Càng ngày càng có đồng thuận rằng chỉ số tốt nhất cho các mục tiêu này là tỷ lệ Palma, tỷ lệ này tập trung hiệu quả vào bất bình đẳng cực điểm — tỷ lệ thu nhập ở mức cao nhất so với mức thấp nhất.20 Ở nhiều nước trên thế giới, những thay đổi tại các thái cực này là điều dễ nhận thấy nhất và tai ác nhất, trong khi tỷ trọng thu nhập ở nhóm trung bình tương đối ổn định.21 Mọi nước nên tập trung vào những bất bình đẳng “cực điểm” của họ, tức là bất bình đẳng có hại nhất với phát triển kinh tế công bằng và bền vững, và bất bình đẳng hủy hoại ổn định xã hội và chính trị. Tỷ lệ Palma 1 là mức lý tưởng chỉ đạt được ở rất ít nước. Ví dụ, các nước Bắc Âu, với tỷ lệ Palma từ 1 trở xuống,22 dường như không phải chịu các gánh nặng liên quan đến bất bình đẳng cực điểm. Thật vậy, trong vài trường hợp, các nước Bắc Âu dường như được hưởng lợi từ “hệ số bình đẳng” dương trên các khía cạnh khác nhau của phát triển kinh tế xã hội, làm cho chúng hoạt động hiệu quả và linh hoạt, cũng như công bằng và ổn định.23

Nhưng các nước khác nhau không chỉ khác ở bất bình đẳng ra sao mà còn khác ở văn hóa bất bình đẳng, khả năng chịu đựng bất bình đẳng ở nhiều dạng khác nhau, và khả năng thay đổi xã hội. Do đó, mục tiêu quan trọng hơn lại là mục tiêu thứ hai: đến năm 2020, đối thoại quốc gia về chuyện cần làm để giải quyết bất bình đẳng liên quan nhất đến quốc gia cụ thể. Đối thoại như vậy sẽ thu hút sự chú ý đến chính sách ở từng nước có làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng (ví dụ, những khiếm khuyết trong hệ thống giáo dục, hệ thống luật, hay hệ thống thuế và chuyển nhượng); những yếu tố vừa bóp méo nên kinh tế, vừa góp phần gây bất ổn kinh tế, chính trị và xã hội; và những yếu tố có thể dễ dàng được thay đổi nhất.24

Hỗ trợ giảm bất bình đẳng cực điểm đang được phổ biến.25 Trong lá thư gửi Tiến sĩ Homi Kharas, tác giả chính và tổng thư ký điều hành của ban thư ký hỗ trợ hộ Ban Hội thẩm Cấp cao của Những Người Chính Yếu trong Chương trình Nghị sự Phát triển Sau-2015, chín mươi nhà kinh tế, học giả và chuyên gia phát triển, đã kêu gọi ưu tiên giảm bất bình đẳng cực điểm trong khuôn khổ phát triển sau năm 2015 và đề xuất đo bất bình đẳng bằng tỷ lệ Palma.26 Họ lập luận – phù hợp với phân tích của chúng tôi – rằng bất bình đẳng đang đe dọa xóa nghèo, phát triển bền vững, quá trình dân chủ, và gắn kết xã hội.27

Nhận thức về tác động có hại của bất bình đẳng đã vượt ra ngoài giới học thuật và các nhà hoạt động xã hội. Bài phát biểu vào tháng 7 năm 2013 của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát thảo vai trò của bất bình đẳng trong việc tạo ra bong bóng tín dụng (giống như bong bóng tạo kết tủa cuộc Đại Suy thoái) và cách bất bình đẳng tước đi cơ hội của mọi người, từ đó nuôi nền kinh tế kém hiệu quả, trong đó tài năng của nhiều người không thể được huy động cho lợi ích của mọi người.28 Và Giáo hoàng Phanxicô (giáo hoàng hiện tại của Giáo hội Công giáo Rôma), trong diễn văn tại khu ổ chuột Varginha ở thành phố Rio de Janeiro, Brasil, Ngày Giới trẻ Thế giới 2013 (ngày hội của giới trẻ Công giáo toàn thế giới), đã nhấn mạnh nhu cầu đoàn kết hơn, công bằng xã hội hơn, và quan tâm đặc biệt đến hoàn cảnh giới trẻ. Và, lần nữa, nhất quán với các nghiên cứu được trích dẫn trước đó, Giáo hoàng tuyên bố hòa bình chẳng thể được duy trì trong những xã hội bất bình đẳng với những cộng đồng ở bên rìa xã hội.29

Có nhiều khía cạnh dẫn đến bất bình đẳng — vài khía cạnh có nhiều tác động tai ác hơn vài khía cạnh khác — và có nhiều cách đo lường những bất bình đẳng này. Tuy nhiên, một điều chắc chắn: chẳng thể đạt được phát triển bền vững khi phớt lờ những chênh lệch cực điểm. Điều bắt buộc là chương trình nghị sự hậu Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ phải tập trung vào bất bình đẳng như một trong những điểm trọng tâm của chương trình.

GHI CHÚ

  • Các tác giả đã được hưởng lợi từ hỗ trợ nghiên cứu của Alicia Evangelides, Eamon Kircher-Allen và Laurence Wilse-Samson.

(Phạm Thu Hương dịch)

How to transform systems: The World Resources Institute Q&A with Andrew Steer

Mongabay.com

  • Between the pandemic, rising food insecurity and poverty, and catastrophic disasters like wildfires, storms and droughts, 2020 was a year of challenges that prompted widespread calls for systemic change in how we interact with one another, with other species, and with the environment. Bringing about such changes will require transforming how we produce food and energy, how we move from one place to another, and how we define economic growth.
  • But it’s a lot easier to talk about transforming systems than to actually do it. Because real change is hard, we’re more likely to slip back into old habits and return to business as usual than embrace paradigm shifts.
  • Recognizing this limitation, World Resources Institute (WRI), a Washington, D.C.-based organization that operates in 60 countries, works across sectors by creating tools that increase transparency, create a common understanding, and provide data and analysis that enable action.
  • WRI’s development of these platforms and tools has grown by leaps and bounds since the early 2010s when Andrew Steer joined the organization as president and CEO from the World Bank. Steer spoke with Mongabay during a December 2020 interview.

Between the pandemic, rising food insecurity and poverty, and catastrophic disasters like wildfires, storms and droughts, 2020 was a year of challenges that prompted widespread calls for systemic change in how we interact with one another, with other species, and with the environment. Bringing about such changes will require transforming how we produce food and energy, how we move from one place to another, and how we define economic growth. But it’s a lot easier to talk about transforming systems than to actually do it. Because real change is hard, we’re more likely to slip back into old habits and return to business as usual than embrace paradigm shifts. Tiếp tục đọc “How to transform systems: The World Resources Institute Q&A with Andrew Steer”

Clean Energy Can Help Southeast Asia Recover After COVID-19

WRI.org

Prior to the devastating impacts of COVID-19, Southeast Asia was becoming an economic powerhouse. Manufacturing, industry and services expanded across the region in recent decades. Energy demand also grew an average of 6% per year, one of the fastest growth rates in the world. But despite the global decline in renewable energy prices, Southeast Asian countries have largely embraced fossil fuels to meet their growing energy needs.
Tiếp tục đọc “Clean Energy Can Help Southeast Asia Recover After COVID-19”

VIỆT NAM CẦN LÀM GÌ ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC KHÁT VỌNG TĂNG TRƯỞNG LÂU DÀI?

English: What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?

COVID-19 đã làm gián đoạn hành trình của đất nước là trở thành một nền kinh tế tăng trưởng cao, tuy nhiên những điều chỉnh cơ cấu phù hợp có thể đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo.

Với một lượng ca nhiễm và tử vong do Covid 19 tương đối ít được ghi nhận đến nay, Việt Nam hiện đang có cơ hội và bắt buộc phải xem xét về khát vọng kinh tế dài hạn hơn, thậm chí giống như một quốc gia chịu trách nhiệm chống lại vi-rút. Thành công lâu dài sẽ đòi hỏi các nhà lãnh đạo Việt Nam phải tập trung vào vấn đề và cơ hội đã có từ lâu trước khi có đại dịch

Tiếp tục đọc “VIỆT NAM CẦN LÀM GÌ ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC KHÁT VỌNG TĂNG TRƯỞNG LÂU DÀI?”

Chương trình Toàn cầu nhằm ngăn chặn tình trạng ưa thích con trai và hạ thấp giá trị con gái: Cải thiện tỷ số giới tính khi sinh tại một số quốc gia ở châu Á và khu vực Cáp-ca-dơ

Việt Nam: Tóm tắt tình hình quốc gia

Số trang: 20

Ngày xuất bản: 2019

Tác giả: UNFPA

UNFPA – Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới thuộc Mục tiêu 3 của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, và đã phê chuẩn Kế hoạch Hành động Quốc gia tháng 5 năm 2017 như một khung hướng dẫn thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững cho Việt Nam tới năm 2030. Khung pháp lý nhằm bảo đảm bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ đã được tăng cường hơn. Tuy nhiên, những biểu hiện của bất bình đẳng giới như bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, tình trạng tảo hôn và lựa chọn giới tính thai nhi vẫn còn tồn tại. Tiếp tục đọc “Chương trình Toàn cầu nhằm ngăn chặn tình trạng ưa thích con trai và hạ thấp giá trị con gái: Cải thiện tỷ số giới tính khi sinh tại một số quốc gia ở châu Á và khu vực Cáp-ca-dơ”

What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?

 

COVID-19 has interrupted the country’s journey to become a high-performing economy, but the right structural adjustments could help get it back on track.
This is the second of two articles in which McKinsey looks at COVID-19’s immediate impact on Vietnam’s economy and identifies the long-term challenges the country can address to realize its potential.With relatively few recorded COVID-19 cases and fatalities to date, Vietnam now has an opportunity—and an imperative—to consider its longer-term economic aspirations, even as the country responds to a resurgence of the virus. Enduring success will require Vietnam’s leaders to focus on issues and opportunities that long preceded the pandemic.
Tiếp tục đọc “What will it take to achieve Vietnam’s long-term growth aspirations?”

Covid Lays Bare the Flaws in Asia’s Booming Megacities

asiafoundation.org

August 19, 2020

Throughout modern history, pandemics—like wars, earthquakes, catastrophic fires, and other sweeping calamities—have fundamentally shaped and transformed cities. In the early 20th century, the Spanish Flu bore witness to the dangers of concentrating people in dense urban housing. In its aftermath, city governments in Europe and the Americas embraced new urban planning strategies to make cities healthier and more livable. Their efforts focused on creating more parkland and giving cities green “lungs.” More recently, the 1994 outbreak of pneumonic plague in Surat, India, led to the establishment of a citywide system to monitor public health, while the 2003 SARS outbreak prompted Singapore to improve its medical infrastructure. Tiếp tục đọc “Covid Lays Bare the Flaws in Asia’s Booming Megacities”

Phục hồi sau Covid-19: Thiết kế cho một Thế Giới an toàn và kiên cường hơn

English: Designing the COVID-19 Recovery for a Safer and More Resilient World

Bài báo bình luận thực hiện bởi Viện Tài Nguyên Thế Giới – World Resources Institute (WRI), là một đối tác quản lý của Ủy ban toàn cầu về thích ứng – Global Commission on Adaptation.

Khi chúng ta phản ứng với thách thức chưa từng có do đại dịch hiện nay, Bộ Tài Chính của các quốc gia có thể đưa ra những ưu tiên cấp bách về kinh tế và xã hội trong khi giải quyết một rủi ro lớn khác trên toàn cầu – biến đổi khí hậu.

Nền kinh tế toàn cầu sẽ không giống như trước sau cú sốc đại dịch Covid-19. Giữa lúc ca bệnh tật và tử vong lan rộng, cung và cầu hàng hóa giảm mạnh, thất nghiệp tăng vọt. Trong vài ngày hoặc vài tuần, các ngành công nghiệp như du lịch và lữ hành bị gián đoạn ở quy mô khó có thể nghĩ tới. Ngành bán lẻ bị biến đổi bởi dãn cách xã hội, và các công ty trên thế giới tăng cường đáng kể việc điều chỉnh làm việc từ xa. Sự mong manh và những lỗ hổng trong hệ thống y tế, hệ thống cảnh báo sớm, hệ thống thông tin và mạng lưới an toàn xã hội đã bị phơi bày.
Tiếp tục đọc “Phục hồi sau Covid-19: Thiết kế cho một Thế Giới an toàn và kiên cường hơn”