Loại cây ‘ăn’ một nắm muối, trả một phân vàng

NN – Thứ Hai 11/10/2021 , 09:13

Bà Ất vốc một nắm muối, rải đều quanh mỗi gốc cây. Đơn giản hàng năm chỉ đôi lần như thế nhưng trên 500 gốc ấy đến vụ sẽ cho bà hơn 500 phân vàng…

Cây trồng bất bại

1 phân vàng (1/10 chỉ) là mức thu trung bình còn những cây có buồng quả đẹp phải thu gấp đôi, gấp ba. Ở cái xã Hải Đường (huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định) này, sau mỗi mùa dân tình lại í ới rủ nhau đi mua vàng, đó là cách mà nhiều người già tích lũy kiểu “ăn chắc, mặc bền”. Bà vợ ông Nguyễn Văn Ất ở làng Hoành Đồn cũng không phải là ngoại lệ.

Bà bảo với tôi rằng chưa có loại cây gì mà đầu tư chỉ 1 đồng lại lãi 100 đồng như cây cau ở quê mình hiện nay: “Nhà tôi có hơn 500 gốc cau đang thời kỳ cho quả, mỗi năm phải cho chúng “ăn” muối 2 lần, vào tháng 2 và tháng 9 âm lịch, lúc trời đã hết mùa mưa. Ngoài muối tôi còn bón thêm chút phân lân. Tính ra hàng năm đầu tư chỉ 3 tạ muối, 3 tạ lân hết cỡ trên 2 triệu là thu hoạch thôi”.

Vợ ông Ất đang cho cây ăn muối. Ảnh: Dương Đình Tường.
Vợ ông Ất đang cho cây ăn muối. Ảnh: Dương Đình Tường.

Còn ông Ất thì giải thích cho tôi rằng cau vốn thích hợp với thổ nhưỡng vùng lấn biển đất hãy còn chất mặn. Hàng trăm năm trước, khi Hải Đường là đất mới thì trồng cau rất sai quả nhưng theo thời gian nó được ngọt hóa nên phải bón thêm muối, còn các xã gần biển như Hải Châu, Hải Hòa… thì không cần.

“Cứ 4, 5 năm cau đắt mới có 1 năm cau rẻ nhưng dù rẻ mấy nó vẫn còn hơn nhiều trồng lúa. Trung bình mỗi gốc cau mỗi năm cho thu 7 – 8 kg quả, năm ngoái giá bán 40.000 – 50.000 đồng/kg tôi thu cỡ 200 triệu, năm nay giá bán 80.000 – 90.000 đồng/kg tôi ước thu cỡ 300 triệu. Ngoài bán cau quả tôi còn bán cỡ 10.000 cây cau giống mỗi vụ, với giá 20.000 đồng/cây cũng thu khoảng 200 triệu nữa…

Hai đứa con trai tôi sau bao năm đi làm thuê bên ngoài giờ cũng về nhà trồng cau cùng bố. Chúng vừa làm 2 cái nhà, hơn tỉ và tỉ rưỡi. Giờ với chúng tôi, dù có giãn cách xã hội cả năm nữa cũng không thành vấn đề bởi rau sẵn trong vườn, gà sẵn trong chuồng, cá sẵn dưới ao, còn gạo sẵn ở trên những ngọn cau cao 9 – 10m”…

Đường làng ở Hải Đường. Ảnh: Dương Đình Tường. 
Đường làng ở Hải Đường. Ảnh: Dương Đình Tường. 

Lạ cái là Hoành Đồn ai cũng có cau nhưng cả làng giờ chỉ còn vài ba người ăn trầu. Cau là giống trồng một lần “ăn” cả một đời, người sống đến 80, 90 tuổi mà cây vẫn cho thu hoạch. Vườn cau nhà ông Ất nhiều cây đã 60 – 70 năm tuổi do tay bố mẹ ông trồng, cây 40 – 50 tuổi do tay vợ chồng ông trồng, cây 10 – 20 tuổi do tay các con ông trồng.

Chúng đứng cạnh nhau, đều tăm tắp như những hàng kiêu binh đang bồng súng. Thân cau càng thẳng thì thân chủ vườn càng cong, ngọn cau càng gần trời thì đời chủ vườn càng gần đất, nhưng mối thâm tình giữa cây và người thì vẫn còn xanh ngát tựa thủa nào.

Cau trồng 2 năm, khi cao cỡ 1,5m là phải hạ thấp 1 lần bằng cách đào bầu, trồng lại, sâu hơn cũ 20 – 30cm để cho dóng ngắn, lớn chậm, có nhiều quả.

Ông Đỗ Thanh Minh - Xóm trưởng xóm 6 bên những cây cau giống. Ảnh: Dương Đình Tường.
Ông Đỗ Thanh Minh – Xóm trưởng xóm 6 bên những cây cau giống. Ảnh: Dương Đình Tường.

Ông Đỗ Thanh Minh – Xóm trưởng xóm 6 làng Hoành Đồn cho tôi hay xóm có 156 hộ thì đều có cau cả. Hộ ít là những cặp vợ chồng mới ra ở riêng có chừng 30 – 50 gốc, hộ trung bình 200 – 300 gốc còn hộ nhiều 700 – 800 gốc. Đó là chỉ tính những cây đang cho thu hoạch chứ chưa kể loại đang lớn.

“Nói đến Hoành Đồn là nói đến bãi chăn trâu, đồn trâu, giếng mắt trâu, sông Thiên Tạo và không thể không nhắc đến bốn mùa bát ngát cau xanh. Xưa dân làng hễ trồng một vườn cau là có một giàn trầu ở bên cạnh để gánh lên Hà Nội, gánh xuống Hải Phòng, gánh vào Thanh Hóa bán.

42 năm trước khi tôi mua thổ đất này, ông nội bảo nên trồng cau vì đó là giống cây chưa bao giờ thất bại. Bởi thế, trong vườn nhà tôi hiện có những gốc cau 45 năm tuổi, còn phổ biến là những gốc 40 năm tuổi. Giờ trong xóm nhà ai có vườn rộng thì không cớ gì mà lại không giàu. Năm ngoái giá cau rẻ hơn đã 5 – 7 hộ lãi cả trăm triệu, năm nay giá cau đắt thế thì phải cỡ 15 – 20 hộ có thu như vậy, còn lại thu 50 – 70 triệu là chuyện thường.

Như tôi có hơn 5 sào vườn với hơn 400 gốc cau cộng bán mỗi năm cả vạn cây giống nên năm 2020 lãi cỡ 300 triệu, năm nay ước được 450 triệu. Con gái tôi là Đỗ Thị Nhung có 2,5 mẫu vườn, tầng trên là cau, tầng dưới là ổi, mỗi ngày thu trung bình 2 triệu”…

Niềm vui với vườn cây, ao cá. Ảnh: Dương Đình Tường.
Niềm vui với vườn cây, ao cá. Ảnh: Dương Đình Tường.

Nhà ông Minh làm theo lối cổ lợp ngói ta với cột kèo bằng lim nâu bóng màu năm tháng, giữa trời nóng mà tôi bước vào mát tựa điều hòa. Hoành Đồn có 80% nhà làm theo hướng nam có ao, có vườn mà tầng cao nhất là cau, cao vừa là thanh long bám ngang thân cau, tầng thấp là các loại cây ăn quả.

Không chỉ trồng trong vườn, quanh tường rào mà cau còn được trồng cả hai bên đường với những dong, hoành thẳng tắp để giữa trời nắng gắt mà khách bộ hành như đi lạc giữa màu xanh trong. Chẳng thế mà nguyên Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Lê Huy Ngọ từng phải thốt lên: “Hoành Đồn chỉ được đầu tư 600 triệu để xây dựng nông thôn mới mà các nơi khác có đầu tư cả 6 tỉ cũng chưa được như thế này”. Chẳng thế mà các đoàn khách Mỹ, Nhật đi giữa đôi hàng cau giữa tiết nực mà bỏ hết cả mũ ra để ngắm cho đã mắt những tàng cây cao vút, hít hà cho đẫy phổi mùi thơm dịu ngọt của hương trời rồi nhờ người leo lên tận ngọn cây hái xuống một chùm hoa mà trầm trồ, thán phục.  

Một ngôi nhà ở Hải Đường được vây quanh bởi cau. Ảnh: Dương Đình Tường.
Một ngôi nhà ở Hải Đường được vây quanh bởi cau. Ảnh: Dương Đình Tường.

Lão nông hơn 90 tuổi Nguyễn Văn Bình bảo rằng đời mình chứng kiến hai đợt cau đắt: Đắt nhất là hơn 40 năm trước khi 1kg cau khô đổi được 1 chỉ vàng, ông Phạm Văn Liễn lúc đó đã mua mảnh vườn với 5 gian nhà ngói, cột lim chỉ bằng vài yến cau khô. Đắt nhì là 2 năm gần đây, khi 1kg cau khô bán đổi được xấp xỉ 1 phân vàng (1/10 chỉ).

Chỉ cần có 100 gốc cau là một cặp vợ chồng già chẳng phải lo nghĩ gì nữa bởi dù đắt hay rẻ vẫn rủng rỉnh tiền tiêu, bởi dù có bão cấp 11, 12 cái “cây ATM” lưng chừng trời ấy vẫn không hề hư hại. Cách đây mấy năm thu nhập cả tháng của đám thanh niên trong xóm đi làm bên ngoài là hơn 1 tỉ, còn người già ở lại 1 vụ lúa 4 tháng chỉ được 800 triệu, 1 vụ cau chỉ được hơn 2 tỉ. Giờ thì tình thế đã đổi ngược, mỗi năm thu nhập từ cau của xóm đã trên 10 tỉ.

Cơn “say” cau của cả làng, cả xã

Mới nhai dập dạp miếng kẹo cau mà miệng tôi đã nóng bừng còn đầu thì cứ lâng lâng như người say. Ấy vậy mà chưa bằng cái “say” của cả làng, cả xã Hải Đường với quả cau hiện tại. Lúc tôi đến thì lò sấy của anh Lê Xuân Hiệp đang đỏ lửa và mờ mịt hơi nước. Cau sau khi luộc chừng 1,5 tiếng sẽ được đem sấy trong lò hơi suốt 4 ngày.

Luộc cau. Ảnh: Dương Đình Tường.
Luộc cau. Ảnh: Dương Đình Tường.
Cau sấy. Ảnh: Dương Đình Tường.
Cau sấy. Ảnh: Dương Đình Tường.

Năm ngoái sản lượng cau của toàn xã Hải Đường khoảng 900 tấn quả tươi, tổng thu cỡ 60 tỉ, còn năm nay sản lượng cũng tương tự nhưng tổng thu sẽ cao hơn. Tuy thế, sản lượng này cũng chẳng thấm tháp là bao so với công suất của các lò sấy nên mùa này đang làm chủ yếu là cau nhập từ Thái Lan. Nhiều chủng loại, lắm chất lượng như vậy nên người bên công ty chế biến của Trung Quốc cứ đến mùa lại về cắm chốt ở xã để giám sát xem có bị trộn hàng, qua mặt hay không.

Cứ 5 tấn cau tươi sẽ cho ra 1 tấn cau khô. Hiệp kể: “Lò của tôi thuộc dạng nhỏ trong tổng số hơn 30 lò của xã. Tháng 5 âm tôi sấy ở miền Tây, tháng 7, tháng 8 sấy ở Tây Nguyên, ở Quảng Nam còn tháng 9 lại về quê. Cau đưa vào sấy đủ loại, đều bán sang Trung Quốc, thành phẩm 1kg khô rẻ nhất là cau Thái Lan, Myanmar giá 230.000 – 240.000 đồng, cau miền Tây giá 280.000 – 300.000 đồng, cau Quảng Nam, Hải Phòng giá 370.000 – 380.000 đồng, còn cau Hải Hậu giá 450.000 đồng do ngọt và mềm nhất.

Phải chọn mua được nhiều quả loại 1 tức dài 4,3cm chiếm tỷ lệ cỡ 70% trở lên, loại 2 dài 4cm chiếm cỡ 20%, còn loại 3 ngắn hơn 4cm tỷ lệ càng ít càng tốt. Năm ngoái giá cau tươi 40.000 – 50.000 đồng/kg, mỗi tấn sấy lãi 10 – 15 triệu nên lò nhỏ lãi được 400 – 500 triệu còn lò to lãi được đôi, ba tỉ, thậm chí còn hơn. Năm nay cau tươi đắt, lại dính dịch Covid-19 nên xe chở hàng tươi các nơi về ít, xe chở hàng khô lên biên giới cũng gặp khó khăn, mẻ lãi bù mẻ lỗ, các lò đang ở trong tình trạng hòa. Nghề buôn hàng này cũng bấp bênh lắm, có gia đình cách đây mấy năm đã phải bán nhà trả nợ”.

Một hàng rào làm bằng cau và cây xanh. Ảnh: Dương Đình Tường.
Một hàng rào làm bằng cau và cây xanh. Ảnh: Dương Đình Tường.

Hiệp từng sang những nhà máy to như khu công nghiệp ở tỉnh Hồ Nam của Trung Quốc xem chế biến kẹo cau từ thịt quả trộn với mạch nha, bạc hà ăn thay kẹo cao su để chống rét, chống cúm. Mỗi gói kẹo gồm 10 miếng từ 5 quả cau bổ đôi làm từ hàng trộn của các địa phương có giá khoảng 80.000 đồng, nhưng nếu chế từ cau chuẩn của Hải Hậu sẽ có giá 150.000 đồng.

Theo anh Trần Thanh Huyên – Chủ tịch UBND xã Hải Đường, cau chủ yếu trồng trên đất vườn nhưng không thống kê được chính xác diện tích vì toàn dạng xen canh. Nếu cho phép chuyển đổi thì “thả” ra một cái, ruộng lúa hôm nay nhưng ngày mai 100% sẽ thành luống cau hết lượt.

Lý giải 2 năm nay cau đắt, người thì bảo do Trung Quốc nhập về điều chế thuốc chống cúm, người thì bảo vừa rồi Trung Quốc mưa bão trôi hết các kho hàng dự trữ cau khô để làm kẹo nên cầu tăng đột ngột.

Dương Đình Tường

If your coffee’s going downhill, blame climate change

by Reuters

Monday, 16 August 2021 10:00 GMT

Brazil is turning to stronger and more bitter robusta coffee beans, which are hardier in the heat than the delicate arabica, in a sign of how climate change is affecting global markets

* Robusta coffee more heat tolerant than arabica

* It can be grown at lower altitudes than rival variety

* Top roasters ramping up use of Brazilian robusta

* Yields in Brazil now match top robusta grower Vietnam

By Maytaal Angel, Marcelo Teixeira and Roberto Samora

LONDON/NEW YORK/SAO PAULO, Aug 16 (Reuters) – Coffee leader Brazil is turning to stronger and more bitter robusta beans, which are hardier in the heat than the delicate arabica, in a sign of how climate change is affecting global markets – and shaping our favourite flavours.

Brazil is the world’s biggest producer of arabica, yet its production has stayed largely flat over the last five years. Meanwhile its output of cheaper robusta – generally grown at lower altitudes and viewed as of inferior quality – has leapt and is attracting more and more international buyers, new data shows.

The expansion is challenging Vietnam’s longstanding robusta dominance, while squeezing smaller players, increasingly leaving output concentrated in fewer regions and more vulnerable to price spikes if extreme weather occurs.

It also promises to gradually alter the flavour of the world’s coffee over the coming years as more of the harsher and more caffeine-charged robusta variety, widely used to make instant coffee, makes its way into the pricier ground blends currently dominated by arabica.

Whatever your taste, Enrique Alves, a scientist specialising in coffee seed cultivation at Brazilian state agritech research centre Embrapa, said that it might ultimately be thanks to robusta that “our daily coffee will never be missing” as the globe warms.

Tiếp tục đọc “If your coffee’s going downhill, blame climate change”

Cà Mau mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 20.000 ha

DT Nuôi tôm sinh thái kết hợp với bảo vệ rừng được tỉnh Cà Mau phấn đấu mở rộng diện tích lên đến 20 ngàn ha trong năm 2020.

Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh. 
Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh. 

Rừng và tôm

ĐBSCL, tháng 5 nắng nóng oi bức, chúng tôi lặn lội về vùng nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ở huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) được chứng kiến cuộc chuyển đổi tư duy ở đây. Đến nơi đây, cái nắng nóng đã dịu hẳn đi khi chúng tôi ẩn mình vào trong những cánh rừng đang nuôi tôm sinh thái và được nghe những câu chuyện thành công trong cuộc chuyển đổi này.

Tiếp tục đọc “Cà Mau mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 20.000 ha”

Drinking coffee in the US? Worry about forests in Vietnam, study warns

eco-business.com

The US’s thirst for coffee drives forest loss in central Vietnam, while Germany’s craving for cocoa is doing the same in West Africa, a landmark study that tracks the drivers of deforestation across borders found.

coffee beans Vietnam
<p>A Vietnamese farmer tosses roasted coffee beans in order to remove the bits of burnt skin surrounding each one. Image: jeevsCC BY-NC-ND 3.0</p>

Mongabay.comApril 5, 2021

  • Consumption patterns, especially in wealthier countries, are eating away at forests in some of the world’s most biodiverse regions. In the US, the thirst for coffee drives forest loss in central Vietnam, a landmark study that tracks the drivers of deforestation across borders found.

Germany’s demand for cocoa is linked to forest loss in Côte d’Ivoire and Ghana, while Japan’s demand for agricultural products like cotton fuels deforestation in coastal Tanzania.

Tiếp tục đọc “Drinking coffee in the US? Worry about forests in Vietnam, study warns”

Cà Mau mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 20.000 ha

NN – Nuôi tôm sinh thái kết hợp với bảo vệ rừng được tỉnh Cà Mau phấn đấu mở rộng diện tích lên đến 20 ngàn ha trong năm 2020.

Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh. 
Nuôi tôm sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho các hộ dân tại Cà Mau. Ảnh Trọng Linh.

Rừng và tôm

ĐBSCL, tháng 5 nắng nóng oi bức, chúng tôi lặn lội về vùng nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ở huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) được chứng kiến cuộc chuyển đổi tư duy ở đây. Đến nơi đây, cái nắng nóng đã dịu hẳn đi khi chúng tôi ẩn mình vào trong những cánh rừng đang nuôi tôm sinh thái và được nghe những câu chuyện thành công trong cuộc chuyển đổi này.

Ông Võ Văn Dũng, một trong những người nuôi tôm sinh thái dày dặn kinh nghiệm, được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện nuôi tôm sinh thái ở ấp Ô Rô, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển cho biết: Nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ít tốn chi phí do nuôi không sử dụng thức ăn. Mật độ thả tôm giống thấp không quá 3 con/m2 mặt nước. Tiếp tục đọc “Cà Mau mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 20.000 ha”

Ngành rong biển Việt Nam: Triển vọng kinh tế gắn với phát triển bền vững

Với bờ biển dài 3.260 km và diện tích mặt nước khoảng 1 triệu km2, Việt Nam có tiềm năng để phát triển ngành rong biển, đặc biệt là khu vực miền Trung có bờ biển đá và dải biến thiên nhiệt độ hẹp. Tại Việt Nam đã xác định được 800 loài rong biển thuộc 4 ngành, trong đó, ngành rong đỏ chiếm hơn 400 loại, ngành rong lục chiếm 180 loại, ngành rong nâu hơn 140 loại và ngành rong lam gần 100 loại.

Rong nho là một trong những loài có giá trị kinh tế cao đang được trồng phổ biến ở Việt Nam

Tiếp tục đọc “Ngành rong biển Việt Nam: Triển vọng kinh tế gắn với phát triển bền vững”

Precision agriculture for smallholder farmers in Vietnam: How the Internet of Things helps smallholder paddy farmers use water more efficiently

blogs.worldbank.org

“Paddy is our life, but many people don’t want us to grow paddy anymore,” laments Pham Van Tuan, a rice farmer in Can Tho province of Vietnam. “Big people from Ho Chi Minh City say that our paddy is causing climate change and water scarcity in the world.”

Paddy cultivation emits over 10 percent of global agricultural greenhouse gas (GHG) emissions and consumes 21 percent of the total water volume used for global crop production.  Water is increasingly scarce in Vietnam’s Mekong Delta, which has been hit by record droughts in recent years. Solutions that help farmers like Pham Van Tuan to grow rice while drastically reducing GHG emission and water usage would be a game-changer for the Mekong Delta. Alternate Wetting and Drying (AWD) is one such practice where rice fields are alternately flooded and dried, and water levels kept low during the flooded stage. This irrigation practice reduces water use up to 28 percent and methane emissions up to 48 percent. With such immense benefits, one would expect that this practice is applied far and wide. But that is not so. Why? Tiếp tục đọc “Precision agriculture for smallholder farmers in Vietnam: How the Internet of Things helps smallholder paddy farmers use water more efficiently”

Coconut farmers in Southeast Asia struggle as palm oil muscles in on them

Thương mại sinh học: Tương lai tươi sáng cho ngành Dược liệu Việt Nam

tapchimoitruong – Việt Nam được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng. Theo thống kê, Việt Nam có tới hơn 12.000 loài thực vật với trên 4.000 loại có khả năng trị bệnh, trong đó có những loài dược liệu quý, hiếm, có khả năng ngăn ngừa, ức chế những căn bệnh như ung thư, đái tháo đường… Sở hữu nguồn dược liệu phong phú, quý hiếm và có dược tính cao, Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ điều kiện để trở thành một trong những nước đi đầu trong ngành xuất khẩu dược liệu.

Cánh đồng cây dược liệu thìa canh tại xã Hải Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Tuy nhiên có một nghịch lý là nước ta hiện đang phải nhập khẩu tới 90% nguyên liệu dược, chủ yếu từ Trung Quốc (Số liệu: Viện Dược liệu Việt Nam). Tiếp tục đọc “Thương mại sinh học: Tương lai tươi sáng cho ngành Dược liệu Việt Nam”

Villagers benefit from reviving natural farming practices

vietnamnews – Update: August, 25/2019 – 08:56

by Bùi Hoài Nam

Tourists visit an organic garden in Thanh Đông Village in Hội An. The farm has become a favourite site for educational trips and tourists as well as a source of safe food for local residents. VNS Photo Chu Mạnh Trinh

A group of farmers in Thanh Đông Village, nestled in the busy suburban tourist destination of Hội An’s Cẩm Thanh Commune, have transformed their land into a healthy organic garden and a favourite rendezvous for nature lovers by moving away from their prolonged use of pesticides and fertiliser.

It was one of the first villages in the suburbs of Hội An that completely stopped using chemical-based nutrients and protective substances, setting the stage for the development of a unique organic agricultural destination. Tiếp tục đọc “Villagers benefit from reviving natural farming practices”

Wake up and smell the cinnamon

vietnamnews – Update: September, 08/2019 – 08:13

A worker selects cinnamon to put into a package. Photos courtesy of Gia Chính

By Thanh An

Cinnamon might smell like Christmas to many in the West, but to some Vietnamese farmers, it smells like prosperity.

The spice has been long seen by farmers of Phong Dụ Thượng Commune in the northern province of Yên Bái as a path to escaping poverty.

In recent years, demand for cinnamon has become greater than ever and has helped many households in the province’s Văn Yên District get a better life.

Bearing that in mind, the province has developed an organic cinnamon platform, focusing on building an agricultural sustainable chain from this valuable spice. Tiếp tục đọc “Wake up and smell the cinnamon”

Raising agricultural productivity in Vietnam isn’t rocket science

Author: Malcolm McPherson, Harvard Kennedy School
After profound advances in manufacturing and services, most observers now believe that Vietnam is well-positioned to meet its principal Vision 2035 goal of achieving upper middle-income status. But sustained agricultural gains are by no means assured. Key agricultural officials recognise this. In 2013, the governmentintroduced an ‘agricultural restructuring’ program and revised the Law on Land. Major international agencies, including the Asian Development Bank and World Bank, have urged broad-based reform. Action so far has been limited primarily because crop, livestock and aquaculture production continue to rise. Vietnam’s policy makers — well known for their conservatism — see radical reform as premature. This is a serious mistake.A farmer throws seeds to plant on a rice paddy field in Ngoc Nu village, south of Hanoi, January 2015 (Photo: Reuters/Kham).At the end of the Vietnam War, agriculture in Vietnam employed around 75 per cent of the total workforce and produced roughly 10 million tons of rice, the country’s staple. The majority of Vietnam’s population of 50 million was significantly undernourished. Agricultural recovery was slow, blocked by the government’s collectivisation policies. Formal reform efforts through Directive 100 in 1981 partially freed up agricultural markets. They accelerated with doi moi (renovation) in 1986 and the Law on Land in 1988. The latter granted land use rights to households and stimulated a dramatic response from farmers. Tiếp tục đọc “Raising agricultural productivity in Vietnam isn’t rocket science”

Villages get rich but suffer environmental consequences

Coal and waste discharged without treatment in Mẫn Xá Village, Văn Môn Commune in Bắc Ninh Province. — Photo tienphong.vn

VNN July, 19/2019 – 09:00

HÀ NỘI — Villages across the country have benefited from the country’s economic development, however, many do not have measures in place to deal with environmental protection.

The village of Trát Cầu in Hà Nội, which produces blankets, bed sheets and pillows, is a typical example.

Nguyễn Quang Thà, chairman of the Trát Cầu Traditional Villages Association, told Tiền Phong (Vanguard) newspaper that over the past 20 years, more and more foreign enterprises have invested in the village.

Now about 30 enterprises from Japan and South Korea are working there.

“The Trát Cầu Village is like a big workshop which runs all day, every day,” said Thà. Tiếp tục đọc “Villages get rich but suffer environmental consequences”

Dân kiệt sức, lãnh đạo phát sốt, ngân sách cạn tiền

VNN – By Bảo Phương   July 13, 2019    16:45 GMT+7

Trong vòng 160 ngày, số lượng lợn tiêu huỷ vì mắc dịch tả lợn châu Phi đã lên tới trên 3,3 triệu con. Đồng bằng sông Hồng là nơi bị thiệt hại nặng nề, nhiều địa phương mất tới 30-40% tổng đàn, ngân sách dự phòng đã cạn kiệt.

Ngân sách nhiều địa phương đã cạn kiệt vì dịch tả lợn châu Phi gây thiệt hại lớn chưa từng có

Thiệt hại lớn chưa từng có, ngân sách cạn kiệt

Số liệu thống kê mới nhất của Bộ NN-PTNT cho thấy, tính đến nay, bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xả ra tại 5.422 xã, 513 huyện của 62 tỉnh, thành phố; tổng số lợn bị bệnh buộc phải tiêu hủy là 3,3 triệu con. Hiện, cả nước chỉ còn duy nhất tỉnh Ninh Thuận chưa có bệnh DTLCP. Tiếp tục đọc “Dân kiệt sức, lãnh đạo phát sốt, ngân sách cạn tiền”