Quốc lộ 9 – 4 kỳ

***

Ký ức đường số 9

27/04/2012 10:35 GMT+7

TT – Hiếm có một con đường nào trên đất nước này lại chứa đựng trong nó những cột mốc của lịch sử như quốc lộ số 9.

Một tuyến đường chỉ dài hơn 300 cây số, vắt ngang xứ Đông Dương chạy từ Đông Hà (thủ phủ tỉnh Quảng Trị) lên đến bờ đông sông Mekong (tỉnh Savannakhet, Lào) giáp biên giới Thái – Lào, nhưng lịch sử của cuộc kháng chiến vệ quốc hôm qua hay công cuộc mở cửa hội nhập hôm nay đều gắn bó mật thiết với nó.

Và nhiều sự kiện diễn ra trên tuyến đường này đang dự báo những tín hiệu khác…

Ký ức đường số 9 Phóng to
Chiếm căn cứ Đầu Mầu (3-1972) – Ảnh: Đoàn Công Tính

Năm 1954, người Pháp bằng mọi giá để có được tuyến đường số 9 về phía Nam VN. Và cuối cùng hiệp định Genève năm ấy đã chọn vĩ tuyến 17 làm giới tuyến chia cắt.

Đường 9 và hội nghị Genève…

Nhà báo Úc Wilfred Burchett, người đã có mặt tại hội nghị Genève 1954, sau này kể lại số phận của tuyến quốc lộ 9 trong cuốn sách Tam giác Trung Quốc-Campuchia-VN (China-Cambodia-Vietnam triangle-NXB Thông Tin 1986) rằng để định ra ranh giới tạm thời giữa hai miền Nam-Bắc là một cuộc tranh đấu vô cùng gay cấn.

“Vấn đề vĩ tuyến 17 hay 16 có một tầm quan trọng chiến lược trọng yếu. Giữa hai vĩ tuyến đó có quốc lộ số 9 nối Lào với bờ biển VN. Người Pháp muốn giữ quốc lộ 9 để duy trì sự kiểm soát đối với Lào. Ông Phạm Văn Đồng muốn có nó để có thể tiếp tục sự ủng hộ của Việt Minh với Pathet Lào” (trang 41).

Cũng trong chương sách về hội nghị Genève mà W. Burchett là một chứng nhân này, có nhiều điều lịch sử đã không thể bày tỏ hết, hay chỉ cho người ta biết một nửa sự thật. Nhà báo Úc này đã đề cập đến những cuộc “đi đêm” giữa các cường quốc tham dự hội nghị khiến ý chí thiết lập giới tuyến tạm thời của VN dân chủ cộng hòa đã phải từ vĩ tuyến 13 lùi dần ra tới vĩ tuyến 16 và cuối cùng dừng lại ở vĩ tuyến 17.

Mặc dù W.Burchett có mặt tại hội nghị Genève, ông hiểu được lý do vì sao người Pháp (và Mỹ) quyết tâm đưa quốc lộ 9 thuộc về miền Nam VN, nhưng có lẽ ông cũng không thể hình dung những gì mà con đường này sẽ phải gánh lấy sau đó.

Người Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã xây dựng đường 9 thành hệ thống phòng thủ chiến lược, một tuyến phòng ngự mạnh nhất dài gần 100 cây số chạy từ quân cảng Cửa Việt lên Đông Hà tới biên giới Lao Bảo và đến tận vùng Nam Lào. Ý đồ bằng mọi giá đẩy giới tuyến quân sự tạm thời ra tới vĩ tuyến 17 để quốc lộ 9 nằm gọn về phía Nam VN nhằm biến tuyến đường này thành “con đê” ngăn chặn làn sóng xâm nhập từ phía Bắc.

Cùng với hệ thống cứ điểm trọng yếu dày đặc ở dọc đường 9 như quân cảng Cửa Việt, căn cứ Đông Hà, Caron, Fuler, Rockpile, Tà Cơn, Khe Sanh, Làng Vây… xuyên sang tới đất Lào như Sepon, Mường Phìn…Giữa sông Bến Hải và đường 9, cũng chạy dọc từ biển lên tận biên giới Việt – Lào là hệ thống hàng rào điện tử McNamara.

Với tất cả hệ thống bố phòng đó, việc có một tuyến đường xuyên từ hậu phương miền Bắc vào tận Tây nguyên, Nam bộ, cắt ngang qua đường 9 là điều gần như không thể. Thế nhưng thực tế lại không như vậy!

Ký ức đường số 9 Phóng to

Quy tập hài cốt liệt sĩ về nghĩa trang liệt sĩ quốc gia đường 9 – Ảnh: L.Đ.Dục

Còn mãi với con đường

Năm năm sau hội nghị Genève, để tiến hành công cuộc giải phóng miền Nam, một con đường xuyên Trường Sơn hình thành từ Bắc vào Nam mà trở ngại lớn nhất trên tuyến này chính là các điểm vượt đường 9. Giờ đây từ Đông Hà lên Lao Bảo, từ km 41 đến km 47 của đường 9 có thể thấy dọc các cây cầu nhỏ bắc qua các khe suối luôn có thêm một tấm biển đề: “Di tích lịch sử – điểm vượt đường 9 của đường mòn Hồ Chí Minh”.

Có rất nhiều điểm vượt như thế bởi vượt đường 9 là đi xuyên qua phòng tuyến được bố trí vô cùng cẩn mật. Nếu ngày đó giới tuyến quân sự tạm thời được chọn là vĩ tuyến 16 (đèo Hải Vân) có lẽ nhiều trang sử của đất nước đã khác đi, số phận con đường 9 sẽ khác đi. Nhưng lịch sử lại không có những chữ “nếu”.

Lợi thế có được tuyến đường số 9 về phía Nam VN đã khiến cuộc đấu tranh thống nhất đất nước cam go hơn, lâu dài hơn. Và cũng vì thế mà câu chuyện con đường số 9, từ đấy về sau và cho đến bây giờ luôn mang vác trong nó số phận được lịch sử lựa chọn.

Để hình dung những hi sinh của người lính trong cuộc chiến tranh vệ quốc, có lẽ không nơi nào hơn là đến để nhìn những nấm mồ ở nghĩa trang liệt sĩ.Giờ đây tại km 7 của tuyến quốc lộ số 9 có một nghĩa trang liệt sĩ quốc gia mang tên đường 9. Hầu hết mộ liệt sĩ ở đây đều được quy tập về từ chiến trường Lào, tập trung dọc theo quốc lộ 9.

Gần 30 năm trước, có một đơn vị được thành lập mang phiên hiệu đoàn 584 (vì thành lập vào tháng 5-1984) thuộc tỉnh đội Bình Trị Thiên, chuyên làm nhiệm vụ tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trên chiến trường Lào. Và gần 30 năm rồi, công cuộc quy tập ấy vẫn còn tiếp diễn.

Gần một vạn hài cốt người lính đã được đưa về an táng trong nghĩa trang này, nhưng dường như chưa biết bao giờ cuộc tìm kiếm sẽ dừng lại, dù cuộc chiến đã qua đi gần 40 năm và cuộc quy tập cũng kéo dài ngót 30 năm.

Tôi vốn thân thiết với những người lính của đoàn 584 từ thời vừa chia tách tỉnh Quảng Trị, đoàn trưởng của đoàn 584 bấy giờ là trung tá Trần Quang Trung, cho đến người đoàn trưởng tiếp theo là anh hùng lực lượng vũ trang, thượng tá Trần Hữu Lưu, người đã cùng đồng đội đi đi về về với những cánh rừng trên biên giới Việt- Lào, đi mòn con đường số 9 gần 30 năm nay để tìm kiếm hài cốt đồng đội.

Đã nhiều lần tôi ướm hỏi các anh khi nào thì cuộc tìm kiếm có thể tạm dừng, nhưng dường như không thể nào nói được. Con số những người lính còn nằm lại với đường 9 trong chiến tranh lên đến con số vạn. Đã có một nghĩa trang liệt sĩ cấp quốc gia là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn với hơn một vạn nấm mộ, đó là những người lính hi sinh theo tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, trong đó rất nhiều người hi sinh trên “phòng tuyến đường 9”.

Và giờ đây, ở nghĩa trang liệt sĩ quốc gia đường 9 cũng có gần một vạn nấm mồ được quy tập về, mưa nắng thời gian đã khiến những dấu vết di vật của liệt sĩ không còn nữa, hơn một nửa số mộ ở đây không được biết tên tuổi, đơn vị. Những tấm bia được ghi “Liệt sĩ chưa biết tên” chứ không đề là “Vô danh”. Hàng ngàn liệt sĩ chưa biết tên nằm quần tụ trên những quả đồi ven đường 9.

Năm nay vừa đúng tròn 40 năm khi con đường này được giải phóng hoàn toàn. Mùa hè 1972, các bản tin thông tấn trên toàn thế giới không ngày nào không nhắc đến những chiến sự trên tuyến đường này.

Cũng mùa hè năm 1972 ấy, khi phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính lao theo những cánh quân trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị, tại một căn cứ ở áp sát quốc lộ 9 khi ông chụp bức ảnh Chiếm căn cứ Đầu Mầu vào tháng 3-1972, hẳn ông không nghĩ rằng chỉ hơn nửa năm sau đó, bức ảnh ấy sẽ đi vào lịch sử nhiếp ảnh VN.

__________

Lật tập sách ảnh Khoảnh khắc của Đoàn Công Tính, nhìn bức ảnh in trang trọng tràn kín hai trang mở đầu cuốn sách vẫn thấy dường như mùi khói đạn, sự khốc liệt của chiến tranh hắt lên từ tấm hình… Hôm nay từ vị trí căn cứ Đầu Mầu ấy, chúng tôi nhìn thấy dấu tích của “ba thế hệ” đường 9.

Kỳ tới: Trăm năm đường 9

LÊ ĐỨC DỤC
***

Đường 9 – dâu bể trăm năm

28/04/2012 09:03 GMT+7

TT – Chúng tôi ngược đường số 9 trở lại Đầu Mầu, địa danh gắn liền với tấm hình nổi tiếng của phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính.

Kỳ 1: Phòng tuyến “thắt lưng” của Đông Dương

Đường 9 - dâu bể trăm năm Phóng to
Sự khốc liệt của đường 9 có thể thấy rõ qua bãi vỏ đạn pháo của pháo binh thủy quân lục chiến Mỹ, được bắn đi từ Khe Sanh – Ảnh tư liệu

Căn cứ xưa không còn chút dấu tích nào, nhưng từ sườn của cao điểm Đầu Mầu ở km 22 quốc lộ 9 nhìn xuống sẽ thấy chứng nhân của trăm năm dâu bể. Theo góc nhìn từ cao xuống thấp sẽ thấy ba cây cầu lưu giữ biên niên của đường 9. Cây cầu Đầu Mầu bên con đường số 9 khởi thủy hồi đầu thế kỷ đã không còn, nhưng chứng nhân của nó vẫn còn trong ký ức của nhiều người dân sống cạnh đó.

Trong ký ức đời phu lục lộ…

Từ năm 1921, trong bài viết về Quảng Trị đăng ở tập san Đô Thành Hiếu Cổ (Bouletin des amis du vieux Hue- BAVH), công sứ Pháp tại An Nam bấy giờ là A.Laborde đã viết về đường 9:.. “Du khách say mê cảnh đẹp sẽ không cảm thấy bỏ phí thời gian khi đi xe hơi theo con đường Mekong cho đến tận Lao Bảo, sẽ được hoàn thành vào cuối năm 1922. Được quy hoạch trong lòng rừng cây thấp, lộ trình của con đường ngoằn ngoèo giữa các núi đá vôi hình thù lạ mắt, tréo qua các triền suối, chạy theo một con sông rất đẹp…” (bản in lại BAVH của NXB Thuận Hóa năm 2001, trang 208 – tập VIII).

Tuy nhiên đó là những cảm xúc hưởng thụ của một ông quan thực dân. Còn ký ức của những người phu làm đường thì không như thế. Công cuộc mộ phu để làm con đường 9 kéo dài ngay cả sau khi nó đã hoàn thành với công việc mở rộng và nâng cấp. Ông Lê Văn Đen, một người dân xóm Bàu thuộc vùng Tân Lâm, xã Cam Thành (Cam Lộ), nhà ở cạnh đường 9, từng là “cu ly” bị người Pháp bắt đi làm phu xây dựng đường 9, đọc cho chúng tôi nghe những câu vè viết về nỗi lao khổ hồi đầu thế kỷ 20 đi đội đá mở đường cho Tây:

Hai hàng nước mắt nhỏ tuônCả năm phủ huyện kéo lên nguồn trời ơi!Cực chi da diết hỡi trờiAi không có chiếu trải tơi mà nằm…

(Vè cu ly đường 9)

Đường 9 hoàn thành, công cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp cũng đã được cấp thời tiến hành với hàng loạt đồn điền mọc lên dọc đường 9 như đồn điền cà phê của một bà đầm người Pháp tên Camerom mà dân quen gọi là đồn điền “Bà Rôm” (nay thuộc xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa), các đồn điền mang tên các ông chủ Tây như Poilan, Lavan, Pecada, Alain, Auperi…

Theo đường số 9, việc khai thác tài nguyên khoáng sản của vùng Savannakhet giàu có nước Lào được vận chuyển theo tuyến đường này về tới Đông Hà rồi theo quốc lộ 1A vào cảng Đà Nẵng, xuống tàu về “nước mẹ Đại Pháp”. Lịch sử khai thác đường 9 còn có câu chuyện thú vị về viên công sứ tỉnh Savannakhet lúc bấy giờ là U.Malpuech cũng từ bỏ chức vụ của mình để theo nghiệp kinh doanh, khai thác trên đường 9. U.Malpuech đã lập Công ty Công kỹ nghệ ở Lào S.I.S (Soliété Industrich de Savannakhet), tham gia hội đồng kinh – tài Đông Dương, độc quyền mua gạo từ Thái Lan để xuất khẩu, lập xưởng nấu rượu Sica ở Đồng Hới (Việt Nam), khai thác rừng tại Phong Cheng và thiếc ở Boneng, mở nhà máy xay xát ở Savannakhet (Lào). Những chuyện này được chính viên công sứ viết trong lịch sử của xứ Savannakhet (Historique de la province de Savannakhet) mà ông là tác giả.

Đường 9 - dâu bể trăm năm Phóng to

Du khách nước ngoài thăm Bảo tàng chiến thắng Khe Sanh ở sân bay Tà Cơn – Ảnh: L.Đ.Dục

Con đường chiến sự

Nhưng đường 9 không là con đường của làm ăn khai thác tài nguyên dài lâu. Như đã dẫn trong câu chuyện về hội nghị Geneve, với mục đích biến đường 9 thành tuyến phòng thủ trực tiếp, một loạt cứ điểm, căn cứ quân sự được xây dựng với mật độ dày đặc bậc nhất trên chiến trường Đông Dương. Không chỉ có mật độ dày đặc, những căn cứ trên phòng tuyến đường 9 luôn được bố trí những đội quân tinh nhuệ và vũ khí tối tân nhất. Và cũng chính vì thế mà những chiến dịch trên đường 9 luôn là những trận đánh chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến tranh.

Không thể nào nói hết về cuộc chiến trên chiến trường đường 9 trong một vài câu chuyện. Nhưng chỉ với hai chiến dịch Khe Sanh vào xuân – hè 1968 và chiến dịch đường 9 – Nam Lào năm 1971, có thể hình dung được tầm vóc chiến trường đường 9 với chiến tranh Việt Nam. Cuối năm 1962 người Mỹ bắt đầu xây dựng Khe Sanh thành một cứ điểm trọng yếu trên đường 9 nhằm khống chế sự tiếp vận từ Bắc vào Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh. Vài năm sau đó, khi hàng rào điện tử Mc Namara hình thành với phòng tuyến chạy dài từ Cửa Việt lên biên giới Việt – Lào thì Khe Sanh trở thành trung tâm của hệ thống hàng rào điện tử này với ba con “mắt thần” tạo thành thế chân kiềng là căn cứ Khe Sanh – Làng Vây – sân bay Tà Cơn.

Chúng tôi ghé thăm Bảo tàng chiến thắng Khe Sanh ở sân bay Tà Cơn. Khu sân bay năm xưa chỉ được dành ra một diện tích nhỏ để làm khu trưng bày hình ảnh, tư liệu, những chiếc máy bay trực thăng HU 1A, máy bay vận tải Chinook, xe tăng, pháo 155 li… Còn khoảng đất mênh mông của sân bay nay đã xanh mỡ màng sắc lá cà phê như một chỉ dấu của khát vọng hồi sinh. Những cuốn sổ lưu niệm được du khách viết kín những dòng cảm xúc. Một nữ du khách tên Nguyệt viết: “Khe Sanh đẹp vô cùng. Tôi đã cố mà vẫn không hình dung nổi cảnh bom đạn chết chóc nhiều năm về trước…”. Có thể khó hình dung được bom đạn khốc liệt nơi chiến trường này khi nhìn vào hiện tại, còn trong ký ức của rất nhiều người, Khe Sanh vẫn là một ám ảnh.

Mùa hè năm 1978, tròn 10 năm sau khi người Mỹ rời bỏ Khe Sanh, từ nước Úc, pianist Don Walker của ban nhạc rock nổi tiếng Cold Chisel đã viết bản rock mang tên Khe Sanh kể về nỗi đắng cay, chán chường mà lính Úc đã trải qua khi tham gia chiến trường ác liệt ở Khe Sanh năm 1968. Vừa ra đời, bản rock Khe Sanh đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng trên thế giới. Năm 2001, bộ tem kỷ niệm 10 bài hát hay nhất của Úc ra đời, con tem số 1 là bản rock Khe Sanh in hình một chiếc máy bay trực thăng đang bay với hai chữ Khe Sanh.

Con đường khởi đầu mang ý đồ khai thác tài nguyên Đông Dương đã bị chiến tranh biến thành con đường máu. Trong ngút ngàn đạn bom thương tích ấy, có một câu chuyện rất đáng nhớ khi nhắc đến chiến sự ở đường 9: mùa hè năm 1972, trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị, cũng tại một căn cứ đồn trú cạnh quốc lộ 9, lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh có nguyên cả một trung đoàn quân đội Sài Gòn với đầy đủ các cấp sĩ quan chỉ huy phản chiến về với cách mạng. Những sĩ quan chỉ huy của trung đoàn ấy được giữ nguyên cấp bậc, phiên chế thành sĩ quan quân đội nhân dân. Đấy là trung đoàn 56 của trung tá Phạm Văn Đính tại căn cứ Carroll, tức điểm cao 241 (Tân Lâm) nằm ở km21 của quốc lộ 9.

Ông Phạm Văn Đính sau này được thăng quân hàm thượng tá QĐNDVN và đã mất cách nay mấy năm vì tai biến tại Huế. Sự kiện cả một trung đoàn binh sĩ Sài Gòn theo về với cách mạng có lẽ là câu chuyện thật đáng ghi giữa khói lửa chiến tranh khốc liệt của đường 9 tròn 40 năm trước! Và ngọn gió hòa bình thổi qua đường 9 từ mùa hè 1972, nhưng câu chuyện của con đường suốt 40 năm qua còn những sứ mệnh đáng gọi là “kỳ lạ”…

___________

Kỳ tới: Những đoàn xe “quá cảnh”

LÊ ĐỨC DỤC – PHẠM XUÂN DŨNG
***

Những đoàn xe “quá cảnh”

29/04/2012 09:03 GMT+7

TT – Niềm vui của ngày thống nhất năm 1975 chưa kịp trọn thì biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc “có vấn đề”, các tuyến đường bộ từ Việt Nam thông ra thế giới chỉ còn có các con đường nối từ miền Trung sang Lào bởi đường bộ qua Trung Quốc hay Campuchia đã bị khóa cửa.

Kỳ 1: Phòng tuyến “thắt lưng” của Đông Dương Kỳ 2: Đường 9 – dâu bể trăm năm

Những đoàn xe "quá cảnh" Phóng to
Sông Mekong giáp biên giới Thái – Lào – nơi khởi phát cho cơn lốc hàng lậu trên tuyến đường 9 thập niên 1970-1980 – Ảnh: L.Đ.Dục

Miền Trung có nhiều tuyến đường nối thông sang Lào như đường 7 (Nghệ An), đường 8 (Hà Tĩnh), đường 12 (Quảng Bình), tuy nhiên vào thời điểm những năm cuối thập niên 1970 chỉ có tuyến đường 9 là con đường tốt nhất để sang nước bạn Lào, còn các tuyến quốc lộ 7, 8, 12 do quá xuống cấp nên không thể sử dụng vận chuyển hàng hóa. Đường 9 nghiễm nhiên gánh vác sứ mệnh là tuyến đường bộ duy nhất sử dụng để thông thương với quốc tế. Và trong bối cảnh chính trị lúc bấy giờ, đường 9 trở thành huyết mạch giúp nước bạn Lào vận chuyển hàng hóa từ bên ngoài vào nội địa. Những năm thập niên 1970-1980, đường 9 “khét tiếng” với những đoàn xe “quá cảnh”, câu chuyện của đường 9 những năm đó gắn liền với hai từ “hàng lậu”.

Con đường… hàng lậu

Ai đã chứng kiến giai đoạn những năm sau 1975, giờ nhớ lại thật khó hình dung vì sao mình có thể vượt qua được những năm tháng tận cùng khó khăn đó. Lúc ấy mỗi ký gạo, mỗi mét vải, mỗi lạng đường đều rất khó khăn để có với định mức tem phiếu. Và cũng lúc ấy, trên những chuyến xe Zil vận tải chạy từ cảng Đà Nẵng chở hàng viện trợ của các nước khối XHCN sang đến nước bạn Lào, khi chở hàng về (phần lớn là thạch cao) luôn có những thứ hàng của hiếm như bột ngọt, đường hóa học, thuốc lá Samit, 555, vải vóc, áo “mút”, quần bò Levi’s… cho đến tân dược, mỹ phẩm…

Những mặt hàng ấy ngay cả ở TP.HCM hay Hà Nội vào thời điểm sau ngày thống nhất vẫn là của hiếm, đơn giản bởi xuất phát của nó là từ Thái Lan. Những món hàng “tư bản” ấy từ biên giới Thái Lan, vượt sông Mekong vào đất Lào rồi từ đất Lào về Việt Nam theo những chuyến xe quá cảnh.

Để mang được những món hàng ấy về tới Việt Nam là điều không dễ. Không chỉ vì sự kiểm soát gắt gao ở cửa khẩu mà ngay cả trên tuyến đường chạy từ Savannakhet về theo quốc lộ 9, vẫn luôn xảy ra những trận đọ súng của những nhóm phỉ Vàng Pao. Trên cabin những chiếc xe Zil vận tải ngày đó luôn có một khẩu AK-47 được đặt chéo trước kính lái, vừa là vũ khí phòng thân, vừa là “thông điệp” ngầm báo với phỉ là… “xe này có súng”.

Sau này, khi qua Savannakhet gặp bà con Việt kiều ở đây, hỏi về những nguồn hàng từ Thái Lan đã thâm nhập như thế nào, hầu như ai cũng bảo: sông Mekong mênh mông làm sao kiểm soát hết? Và cũng tương tự như thế, khi hàng về tới biên giới Việt – Lào, với một chặng dài sông Sê Pôn làm biên giới tự nhiên giữa hai nước, hàng lậu được qua sông bằng những đội quân như “xuất quỷ nhập thần”. Hàng lậu những năm tháng ấy trên quốc lộ 9 thật sự như một cơn lũ cuốn theo hàng vạn phận người quay cuồng trong dòng xoáy.

Những đoàn xe "quá cảnh" Phóng to
Hàng lậu tuy không còn là “cơn lốc” nhưng vẫn không lúc nào dứt trên quốc lộ 9. Trong ảnh: Công an Quảng Trị bắt giữ Nguyễn Đình Hoành trong vụ án vận chuyển ma túy lên đến 180 bánh heroin và chín chiếc sừng tê giác vào tháng 6-2003 trên quốc lộ 9 – Ảnh: L.Đ.Dục

Từ “khổ tận” đến “cam lai”…

Nếu những tài xế của tuyến vận tải quá cảnh đánh những mẻ hàng lớn kiểu “cơ giới” thì dọc theo đường 9 ngày ấy cũng có hàng ngàn nông dân đã liều mạng đổi đời với những chuyến hàng lậu, gùi cõng đi hàng tuần liền vượt suối sâu rừng thẳm.

Làng tôi là một xóm nhỏ ven đường 9. Những nông dân tráng đinh khỏe mạnh trong xóm bỗng chốc bỏ hết ruộng đồng, biến mất mỗi đợt chừng nửa tháng hay vài tuần. Rồi sau mỗi đợt đi vắng như thế, có người lại mua về một hai con trâu bò làm “đầu cơ nghiệp”. Chú B., một người hàng xóm của tôi được tiếng là gùi khỏe nhất, có thể đi bộ hàng tuần liền trong rừng, để gùi được hàng về phải vượt qua tận những bản làng bên đất Lào, những chuyến đi gần như đánh đổi sinh mạng bởi không chỉ vì núi cao rừng thẳm mà còn có cả cướp và phỉ giữa đại ngàn. Chỉ cần lên tới bản Lào, lận lưng một số chỉ vàng làm bản vị thanh toán. Mỗi cân bột ngọt, mỗi mét vải, mỗi hộp tân dược… đều được quy ra vàng.

Đi gùi hàng lậu mất cả vài tuần lễ, chỉ cõng theo số gạo để ăn dọc đường đã là nặng, bởi thế nên không mấy ai gùi được nhiều. Đi cả chục ngày đường, hàng về tới nơi trót lọt, có thể một vốn mấy lời, nhưng gặp công an, thuế vụ coi như mất trắng, nếu gặp cướp giữa rừng có khi mất mạng. Đã có người bị chém trọng thương, tha được mạng sống về nhà đã là may mắn. Hình như nông dân trai tráng nhiều tỉnh miền Trung dạo đó rùng rùng kéo về ngược theo đường 9 để lao theo cơn sốt hàng lậu. Sau này, vì lý do nghề nghiệp, đi lang thang đây đó, gặp nhiều người ở tận Quảng Nam hay Quảng Bình khi biết quê tôi ở cạnh đường 9, hầu như ai cũng nhắc về cái thời đi gùi hàng lậu của cuối thập niên 1970-1980.

Đội quân buôn lậu ấy càng đông đảo hơn bởi những người dân vùng đồng bằng đi kinh tế mới lên vùng Lao Bảo sau ngày giải phóng. Buổi đầu rừng thiêng nước độc, ruộng nương chưa có, đồi núi hoang vu, nên đi gùi hàng lậu là phương cách sinh tồn khả dĩ nhất.

Ký ức của tôi sau hơn 30 năm vẫn khó mà quên về “đoàn quân buôn lậu nghèo khó” mà gọi theo tiếng lóng là dân “cua rạm” (rạm là từ địa phương chỉ loài cua đồng bé nhỏ – ám chỉ dân nghèo đi buôn). Một lần trên đường đi học, tôi thấy mấy anh công an và thuế vụ “tó” ngay một bác nông dân vừa khoác chiếc balô chui từ một cái khe cạn bên đường 9 lên mặt đường. Chiếc balô lính cũ kỹ bị cắt dây, những gói bột ngọt có in hình cái muỗng của Thái Lan được ném ra. Người nông dân ấy đã quỳ sụp xuống, nước mắt giàn giụa, vái lia lịa xin đừng thu hàng, dù biết điều đó gần như không thể.

Những gói bột ngọt ấy có thể là cả cơ nghiệp mà bác đã đi vay mượn, và nếu mất số hàng này có thể sẽ phải trốn nợ, bỏ xứ mà đi. Dường như van lạy không ăn thua, bác nông dân xòe hai bàn tay ra rồi vỗ bôm bốp vào nhau: “Các chú coi bàn tay tui đi, coi sần chai trên bàn tay tui thì biết, tui không đi buôn, chỉ vay người ta để liều đi kiếm chút lời về nuôi con”. Bàn tay đen đúa thô ráp ấy không hiểu sao hơn 30 năm rồi cứ thỉnh thoảng hiện về từ ký ức thơ dại của tôi. Ngày ấy, một chỉ vàng đổi một cân bột ngọt, 30 năm sau gói bột ngọt ấy nay chỉ ngang giá một tô phở! Vậy mà bao nhiêu phận người đã đắm chìm trong cơn lốc ngày ấy ở hai bên cánh gà đường 9.

___________

“Khổ tận cam lai”, dù vẫn chưa hết khó khăn, nhưng những gì đang diễn ra dọc theo quốc lộ số 9 này đang là một thông điệp của niềm hi vọng…

Kỳ tới: Vận hội mới với hành lang xuyên Á

LÊ ĐỨC DỤC – PHẠM XUÂN DŨNG

***
Vận hội mới với hành lang xuyên Á
30/04/2012 09:30 GMT+7

TT – Ngày 1-12-2004, đoàn xe caravan gần 100 chiếc của hành trình Ấn Độ – ASEAN sau đúng mười ngày xuất phát từ TP Guwahati (miền đông Ấn Độ), xuyên qua Myanmar, Thái Lan, Lào và theo quốc lộ 9 vào Việt Nam qua cửa khẩu Lao Bảo.

Kỳ 1: Phòng tuyến “thắt lưng” của Đông Dương Kỳ 2: Đường 9 – dâu bể trăm năm Kỳ 3: Những đoàn xe “quá cảnh”

Vận hội mới với hành lang xuyên Á Phóng to
Cây cầu Hữu Nghị 2 ở điểm cuối đường 9 đã nối thông tuyến đường này với nội địa ASEAN, mở ra cơ hội mới cho hành lang kinh tế Đông – Tây – Ảnh: L.Đ.Dục

Lần đầu tiên, một hành trình chứng minh sự kết nối xuyên Á bằng đường bộ là hoàn toàn có thể. Tuy nhiên, từ mấy thế kỷ trước không hề có ôtô hay quốc lộ, những cư dân của khu vực này đã tìm ra con đường giao thương quốc tế cho mình trên những bành voi xuyên Trường Sơn, tiền thân của đường 9 hôm nay…

Từ chiếc bành voi đến siêu thị…

Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết về tuyến đường buôn bán này vào thế kỷ 18: “Người dân mang muối mắm, cá khô, đồ sắt, nồi đồng, thoi bạc, hoa xuyến, các đồ lặt vặt đến đất người Man đổi lấy các hàng hóa thóc gạo, gà trâu, gai sáp, mây gió, vải Man, màn Man thuê voi chở về Cam Lộ. Người Man cũng có lấy voi chở hàng hóa xuống chợ Cam Lộ để bán. Cũng có một phiên chợ lùa trâu đến 300 con đến bán, giá một con trâu không quá 10 quan, giá một con voi chỉ hai hốt bạc…” (Phủ Biên, quyển 4). Chợ Cam Lộ mà nhà bác học Lê Quý Đôn nhắc đến chính là một trung tâm thương mại lớn của mấy thế kỷ trước. Giờ đây chợ vẫn ở cạnh quốc lộ 9 và họp theo từng phiên vào các ngày 3, 8, 13, 18, 23, 28 âm lịch mỗi tháng.

La Tina trong luận văn tiến sĩ của mình về “Xứ Đàng Trong” cũng nhấn mạnh: “Con đường thương mại quan trọng nhất ở Đàng Trong vào buổi đầu chạy qua đèo Ai Lao, từ sông Mekong đến bờ biển gần Quảng Trị. Tập trung ở thị trấn Cam Lộ, con đường này xuôi xuống cảng Cửa Việt và kéo lên Lao Bảo. Đây là con đường thương mại nhộn nhịp nhất trong vùng Thuận Hóa (trang 175)”. Dấu tích của Cam Lộ – trung tâm thương mại xưa – đã không còn, tuy nhiên nếu đi dọc theo đường 9 bây giờ sẽ thấy nhiều đô thị mới mọc lên như một sự tiếp nối từ quá khứ.

Từ TP tỉnh lỵ Đông Hà, km 0 của đường 9 buổi khởi thủy nay đã mọc lên một cụm hệ thống chợ, siêu thị sôi động bậc nhất của miền Trung mà bất cứ đoàn khách vào Nam ra Bắc nào khi ngang qua đây không thể không dừng lại mua sắm.

Từ Đông Hà lên Lao Bảo, với khoảng cách chỉ hơn 80km nhưng đã có năm TP và thị trấn: Đông Hà – Cam Lộ – Krông Klang (huyện lỵ Đakrông), Khe Sanh (huyện lỵ Hướng Hóa) và đô thị cửa khẩu Lao Bảo. Đặc biệt sự “lột xác” của đô thị Lao Bảo là điều kỳ diệu nhất khi nói về những kỳ tích của đường 9. Nói là kỳ diệu bởi Lao Bảo từ thế kỷ trước vốn nổi tiếng là vùng đất “dữ ma độc nước”, chỉ dành để xây… nhà tù giam giữ “quốc sự phạm”. Trên vùng đất ấy, ngày hòa bình lập lại những người dân miền xuôi lên đây lập nghiệp đã chịu đựng đủ bề cơ cực, sốt rét, bom đạn sót lại sau chiến tranh cướp đi không ít sinh mạng. Dường như sau ngần ấy thử thách lòng người, vùng đất dữ xưa kia cũng bù đắp lại cho những ai bền lòng bám trụ cùng với nó.

Vận hội mới với hành lang xuyên Á Phóng to

Dự án nâng cấp đường 9 trong tương lai, kết nối vào tuyến Xuyên Á A3 – Ảnh: L.Đ.Dục chụp lại từ dự án

Kết nối Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương

Hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC) được khởi động từ rất sớm, nhưng phải đến tháng 12-2006 mới thật sự kết nối toàn tuyến với sự kiện khánh thành cầu Hữu Nghị 2, nối điểm cuối quốc lộ số 9 trên đất Lào với TP Mukdahan, cửa ngõ vùng đông bắc Thái Lan, để từ đây ngược lên cửa khẩu Mesot của biên giới Thái Lan – Myanmar rồi xuyên về TP cảng Mawlamyine bên bờ Ấn Độ Dương.

Ngày 20-12-2006, chúng tôi may mắn được dự lễ khánh thành cây cầu Hữu Nghị 2 bắc qua sông Mekong trên biên giới Thái – Lào. Có lẽ chưa khi nào sự kiện thông tuyến một cây cầu của nước ngoài lại khiến nhiều người Việt trong nước, nhất là khu vực miền Trung Việt Nam, háo hức như việc khánh thành cây cầu Hữu Nghị số 2 này. Sự có mặt của nguyên thủ nhiều quốc gia trong khu vực tại lễ khánh thành đã nói lên phần nào tầm quan trọng đặc biệt của sự kiện.

Một cây cầu với kinh phí xây dựng chỉ 70 triệu đôla chưa phải là một “công trình vĩ đại” đối với khu vực, nhưng với bốn quốc gia trên tuyến EWEC nó thật sự “khai thông huyệt đạo” bế tắc từ rất lâu.

Để hình dung ra những tác động từ cây cầu với tuyến quốc lộ 9 xin dẫn chứng vài con số: mười ngày sau lễ khánh thành cầu (20-12), lượng khách Thái Lan về Việt Nam qua cửa khẩu Lao Bảo trong ngày 1-1-2007 là 1.500 khách. Con số này chưa phải thật lớn nhưng nếu biết rằng trong ba năm, từ 1999-2001, số du khách Thái qua cửa khẩu này chỉ đạt 1.300 người (giai đoạn du lịch Việt Nam bắt đầu khai thác du khách Thái qua các tuyến đường bộ trên biên giới Việt – Lào). Cũng từ khi đưa cầu Hữu Nghị vào sử dụng, hoạt động xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh qua ngả đường 9 vào cửa khẩu Lao Bảo tăng đáng kể. Nếu năm 2005 lượng khách xuất nhập cảnh qua cửa khẩu này là 143.000 lượt người, thì vào năm 2007 số lượt người đã tăng gấp đôi với 274.000 lượt. Tour du lịch “Một ngày ăn cơm ba nước” với lộ trình ăn sáng ở Huế hoặc Đông Hà, trưa ăn cơm ở Lào và ăn tối bên bờ sông Mekong của TP Mukdahan (Thái Lan) với giá cả rất “hữu nghị” đã được nhiều du khách đón nhận nồng nhiệt.

Những khởi động trên tuyến hành lang này chưa cho những con số tăng trưởng thật lớn, nhưng ở một vùng đất còn nhiều gian khó như miền Trung, hiện thực của những đô thị như Lao Bảo, sự phát triển của những tour du lịch kết nối du khách từ Thái, Lào vào Việt Nam đến với những di sản thế giới ở miền Trung như Huế, Hội An, Mỹ Sơn, Phong Nha… đang là những nỗ lực đáng mừng. Không chỉ mở ra cơ hội để phát triển du lịch, hành lang EWEC còn là “đường về nhà” của hàng vạn Việt kiều đang sinh sống và làm ăn ở vùng đông bắc Thái Lan. Rất nhiều bà con người Việt chúng tôi được gặp trong buổi lễ khánh thành cây cầu đã không giấu được niềm vui, khi rồi đây đường về quê sẽ không còn quá gian khó bởi những biên giới xa xôi và đò sông cách trở. Gia đình anh Dũng và chị Bé ở TP Khonkaen – thủ phủ vùng đông bắc Thái Lan, những người đã giúp chúng tôi rất nhiều trong chuyến đi tìm hiểu về cộng đồng Việt kiều ở đây, đã nói không dám mơ rằng rồi đây chỉ buổi sáng chất đồ đạc lên xe là tối đến có thể về ngồi uống cà phê bên sông Hương, quê hương của anh chị.

Và những tín hiệu mới đây từ đất nước Myanmar đang đổi mới cho thấy triển vọng của tuyến đường dài 1.450km chạy từ cảng Đà Nẵng lên cảng Mawlamyine sẽ còn hứa hẹn nhiều điều thú vị khác.

Tháng 10-1998, tại thủ đô Manila của Philippines hội nghị lần thứ 8 các bộ trưởng tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) đã có sáng kiến về hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC) với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC).

Cũng vào cuối năm 1998, Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập kèm theo là những ưu đãi đặc biệt cho các nhà đầu tư. Nhờ quy chế ưu đãi đặc biệt này, trong đó có việc sử dụng nguồn thu từ cửa khẩu để đầu tư xây dựng hạ tầng, Lao Bảo nhanh chóng được quy hoạch để phát triển với vóc dáng một đô thị cửa ngõ trên hành lang kinh tế Đông – Tây.

LÊ ĐỨC DỤC

Advertisements

2 thoughts on “Quốc lộ 9 – 4 kỳ

  1. “Ký ức của tôi sau hơn 30 năm vẫn khó mà quên về “đoàn quân buôn lậu nghèo khó” mà gọi theo tiếng lóng là dân “cua rạm” (rạm là từ địa phương chỉ loài cua đồng bé nhỏ – ám chỉ dân nghèo đi buôn). Một lần trên đường đi học, tôi thấy mấy anh công an và thuế vụ “tó” ngay một bác nông dân vừa khoác chiếc balô chui từ một cái khe cạn bên đường 9 lên mặt đường. Chiếc balô lính cũ kỹ bị cắt dây, những gói bột ngọt có in hình cái muỗng của Thái Lan được ném ra. Người nông dân ấy đã quỳ sụp xuống, nước mắt giàn giụa, vái lia lịa xin đừng thu hàng, dù biết điều đó gần như không thể.

    Những gói bột ngọt ấy có thể là cả cơ nghiệp mà bác đã đi vay mượn, và nếu mất số hàng này có thể sẽ phải trốn nợ, bỏ xứ mà đi. Dường như van lạy không ăn thua, bác nông dân xòe hai bàn tay ra rồi vỗ bôm bốp vào nhau: “Các chú coi bàn tay tui đi, coi sần chai trên bàn tay tui thì biết, tui không đi buôn, chỉ vay người ta để liều đi kiếm chút lời về nuôi con”. Bàn tay đen đúa thô ráp ấy không hiểu sao hơn 30 năm rồi cứ thỉnh thoảng hiện về từ ký ức thơ dại của tôi. Ngày ấy, một chỉ vàng đổi một cân bột ngọt, 30 năm sau gói bột ngọt ấy nay chỉ ngang giá một tô phở! Vậy mà bao nhiêu phận người đã đắm chìm trong cơn lốc ngày ấy ở hai bên cánh gà đường 9.”

    Tội nghiệp.

    Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s