Vay vốn từ Trung Quốc lợi, hại gì? – 2 bài

  • Vay vốn từ Trung Quốc lợi, hại gì?
  • Cảnh báo rủi ro vay vốn giá rẻ Trung Quốc

Một công trình sử dụng nguồn vốn vay Trung Quốc
Một công trình sử dụng nguồn vốn vay Trung Quốc

***

Vay vốn từ Trung Quốc lợi, hại gì?

DT – Trong bối cảnh ngân sách khó khăn, mới đây, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, có thể chấp nhận vay đồng Nhân dân tệ làm đường cao tốc Bắc Nam để tránh rủi ro về tỷ giá”. Tuy nhiên, nguồn vốn vay từ Trung Quốc có thực sự mang lại lợi ích?

Dưới đây, Dân Trí xin giới thiệu các độc giả bài viết của hai chuyên gia kinh tế: TS. Phạm Sỹ Thành – Giám đốc Chương trình Nghiên cứu kinh tế Trung Quốc – VEPR (VCES); TS. Trần Toàn Thắng – Phó ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh – CIEM. Các chuyên gia sẽ mang lại cái nhìn tổng quan và đầy đủ về thiệt – hơn của nguồn vốn vay này.

Trung Quốc đã trở thành nước cung cấp tài chính phát triển lớn nhất thế giới. Chỉ vài năm qua, tất cả các định chế tài chính đầu tư phát triển của Trung Quốc đã cung cấp tới 116,4 tỷ USD ra phạm vi toàn cầu.

Tại châu Phi, vốn đầu tư của Trung Quốc chiếm 80% tổng mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng (CSHT) của châu lục này. Điều đáng nói là cùng sự xuất hiện của Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB – vốn điều lệ 100 tỷ USD); Quỹ Con đường tơ lụa (SF, vốn ban đầu 40 tỷ USD), và Quỹ Con đường tơ lụa xanh (vốn ban đầu 4,8 tỷ USD), quy mô các khoản đầu tư này hứa hẹn sẽ có bước nhảy vọt.

Các lập luận về tính hiệu quả của AIIB thường xoay quanh một số điểm chính (i) khả năng tiếp cận dễ dàng hơn so với các định chế hiện có, tức là điều kiện vay vốn đơn giản hơn; (ii) vay vốn của AIIB không nhất thiết đi liền với việc phải chấp nhận các doanh nghiệp của Trung Quốc; (iii) chất lượng của công trình sẽ gia tăng cùng với sự tham gia của các quốc gia phương Tây.

Đối với các quốc gia đang phát triển được đưa vào danh sách nước có thu nhập trung bình, các khoản viện trợ phát triển sẽ giảm sút, và đây là cơ hội để cho luồng vốn “rẻ” với điều kiện vay dễ dãi của Trung Quốc chiếm thị phần bị bỏ lại. Tuy nhiên, cần tiếp cận khoản vay này toàn diện từ cả góc độ hiệu quả kinh tế, mức độ ổn định chính trị, vấn đề môi trường và sinh kế lâu dài của người dân.

 TS. Phạm Sỹ Thành - Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc - VEPR (VCES)

TS. Phạm Sỹ Thành – Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc – VEPR (VCES)

Điều kiện cho vay

Sự hấp dẫn đầu tiên của vốn Trung Quốc là quy mô và các điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn nhiều so với các khoản vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) hay Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Trong năm năm gần đây, tổng số vốn của cả WB và ADB mới chỉ khoảng 90 tỷ USD đáp ứng 2,5% nhu cầu đầu tư CSHT hàng năm của châu Á.

Điều lệ của AIIB quy định chức năng chính của định chế này là tập trung và ưu tiên “thúc đẩy các hoạt động đầu tư CSHT và liên kết kinh tế vùng”. Nhưng khác với WB hay ADB, các khoản vay của AIIB “nhất định sẽ không đi kèm với các điều kiện về chính trị” (No Political Interference).

Điều này thoạt tiên có thể giống với nguyên tắc “không can thiệp” của Trung Quốc nhưng nó loại bỏ hai yếu tố quan trọng mà WB, ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) thường đưa vào trong các khoản vay để tăng cường chất lượng quản trị của dự án. Đó là: (i) tính minh bạch về chính trị và (ii) vấn đề quyền con người.

Những chỉ trích của Trung Quốc đối với các “điều kiện đi kèm” mà các định chế trên duy trì đó là nó làm khả năng tiếp cận vốn của các nước đang phát triển có thể chế chính trị khác biệt với phương Tây, tăng chi phí vay vốn, tăng thời gian thẩm định vay vốn và tăng khả năng bị can thiệp vào tình hình nội bộ.

Tuy nhiên, những lập luận này khó lòng đứng vững khi các nhà kinh tế Trung Quốc đã bỏ qua sự thực là tại các nước đang phát triển – nơi tình trạng tham nhũng tràn lan – thì việc thiếu các rào cản về mức độ minh bạch sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn ở nhiều góc độ: vốn vay bị sử dụng sai mục đích, vốn vay bị sử dụng lãng phí, vốn được vay ngay cả khi hiệu quả của dự án thấp.

Các công ty và cá nhân Nhật Bản cũng có những hoạt động tham nhũng, hối lộ liên quan đến các khoản ODA do quốc gia này cung cấp nhưng sau đó đều bị khởi tố bởi chính phủ Nhật Bản. Các quốc gia nhận ODA của Nhật Bản cũng phải mạnh tay hơn trong việc giảm thiểu tham nhũng liên quan đến các khoản vốn vay.

Trong khi đó, “tính hai mặt” trong cuộc chiến chống tham nhũng mà ông Tập Cận Bình phát động thể hiện ở việc chưa có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy các cá nhân hoặc tổ chức của Trung Quốc hối lộ hay tham nhũng ở nước ngoài sẽ bị đưa ra xét xử.

Bên cạnh đó, điều kiện đảm bảo về quyền con người mà WB, ADB hay EBRD sử dụng cũng đảm bảo rằng người dân có sinh kế bị thiệt hại bởi các dự án được đầu tư bởi các khoản vay nước ngoài có quyền lên tiếng để yêu cầu bồi thường hợp pháp. Điều này là một đòi hỏi xa lạ với các quốc gia đang phát triển. Cũng là điểm AIIB đã khai thác để giành lợi thế cho mình trong cuộc đua mới.

Các điều kiện cho vay

Yêu cầu về chính trị Yêu cầu về môi trường Yêu cầu về quyền con người Quy định khác
WB

(IBRD)

– Có mục tiêu phát triển

– Các chỉ số về mức độ thực hiện

– Các điều kiện thỏa thuận với WB

– Các chính sách bảo vệ giúp phòng ngờ các tác động bất lợi đối với môi trường

– Không gây hại cho môi trường

– Chính sách “Đánh giá môi trường”

– Bảo vệ động vật hoang dã

– Không gây hại cho con người

– Bảo tồn di sản văn hóa

– Tái định cư bắt buộc

– Có quy trình xem xét các dự án thuộc các khu vực gây tranh cãi hoặc có tranh chấp

WB (IDA) Như đối với IBRD Như đối với IBRD Như đối với IBRD
ADB “Nhóm kiểm tra hợp cách” để thẩm định về tư cách vay vốn của bên đi vay Không rõ – Có đánh giá về độ rủi ro của tổng danh mục nợ nước ngoài của bên vay

– Cung cấp khoản vay bằng đồng nội tệ

EBRD – Chống độc quyền

– Thúc đẩy sự phát triển của khu vực dịch vụ

– Thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân

– Thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn

– Thúc đẩy môi trường phát triển bền vững Không rõ
AIIB Nhất định không có “Tham chiếu” theo WB và ADB nhưng không có quy định cụ thể – Không đầu tư cho các dự án sử dụng lao động cưỡng bức hoặc lao động trẻ em
SF Không có Không có Không có

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Vay vốn AIIB có đi kèm với các dự án rơi vào tay doanh nghiệp của Trung Quốc?

Điều lệ của AIIB quy định hai kênh cung cấp vốn cho đối tác bao gồm (i) cho vay trực tiếp, liên kết vốn hoặc tham gia cho vay; (ii) tham gia đầu tư cổ phần vào tổ chức hoặc doanh nghiệp. Hình thức cung cấp vốn (ii) về cơ bản không khác biệt với cách thức ADB tiến hành và điều đó không loại trừ việc vốn của AIIB chảy thẳng vào một doanh nghiệp Trung Quốc trước khi được cung cấp cho đối tác.

Lãi suất, quy mô cho vay và tỷ lệ giải ngân

Các tính toán về hiệu quả kinh tế của việc vay vốn nước ngoài sẽ quan tâm nhiều hơn đến mức độ biến động của tỷ giá tác động đến quy mô khoản lãi phải trả trong tương lai. Ở góc độ này, việc vay bằng đồng đô la Mỹ, nhân dân tệ (Trung Quốc) hay yen (Nhật Bản) đều đối diện với chi phí từ biến động tỷ giá lớn hơn nhiều so với chi phí lãi suất.

Việc xem xét lãi suất của WB, ADB và AIIB cũng cần phân loại theo hình thức khoản vay là vay viện trợ hay vay chính sách. AIIB cũng chưa có số liệu chính thức về cách tính lãi suất với các khoản vay chính sách.

Tuy nhiên, đối với loại hình đầu tư tài sản trực tiếp – tức đầu tư cổ phần vào một doanh nghiệp – để doanh nghiệp đó thực hiện hoạt động đầu tư vào quốc gia vay vốn thì báo cáo về các sản phẩm tài chính mà AIIB công bố tháng 1/2016 cho biết, AIIB hy vọng sẽ nhận được mức lợi nhuận đầu tư từ 8 – 20% tùy theo hình thức tài sản đầu tư. Chủ tịch hiện nay của AIIB trong một phát biểu chính thức với các quốc gia thành viên cũng cho rằng AIIB có thể đem lại cho các “nhà đầu tư” khoản lợi 15%/năm.

Trong khi đó, đối với các khoản vay bằng một loại ngoại tệ, lãi suất cho vay bằng đồng đô la Mỹ của ADB (tháng 7/2015) là 5,59% và bằng đồng Yen là 0,40% . Đáng chú ý, tỷ lệ cho vay bằng đồng yen của ADB đã giảm liên tục trong vòng 5 năm qua, từ mức 3,726 tỉ yen (tương đương 58,3 triệu đô la Mỹ, chiếm 6,4% tổng mức cho vay của ADB) xuống còn 1,03 tỉ yen (66,1 triệu đô la Mỹ, chiếm 1,55%).

Như vậy, ngoài các phân tích của chúng tôi về các chi phí gián tiếp khiến vốn vay của Trung Quốc không hề rẻ, thì chi phí vay vốn trực tiếp từ AIIB cũng cần được xem xét kỹ lưỡng.

Bên cạnh chi phí vay vốn, khả năng huy động vốn cũng như tỷ lệ giải ngân của AIIB là điều còn bỏ ngỏ. Theo ước tính, tỷ lệ giải ngân của AIIB có thể ngang với các định chế hiện thời, nhưng có những khó khăn và rủi ro trong quá trình giải ngân mà Trung Quốc có thể chưa lường trước được.

Một số định chế tài chính đầu tư phát triển CSHT trên thế giới

Vốn điều lệ (tỉ đô la Mỹ) Vốn khả dụng (tỉ đô la Mỹ) Múc cho vay (tỉ đô la Mỹ) Tỷ lệ cho vay/tài sản Giải ngân 2014 (tỉ đô la Mỹ) Giải ngân/tài sản (%) Xếp hạng S&P
WB (IBRD) 283 40 160 4,0 19 47 AAA
WB (IDA) 127 n.a 13 n.a
Ngân hàng phát triển liên Mỹ 144 24 75 3,1 9 39 AAA
ADB 154 17 56 3,3 7 43 AAA
EBRD 33 16 22 1,4 9 57 AAA
Ngân hàng phát triển châu Phi 97 9 31 3,5 5 52 AAA
Ngân hàng phát triển Mỹ Latin (CAF) 15 9 19 2,2 6 70 AA
AIIB 100 20* 10-14 45-70 na
SF 40 10 2 20 na

Chú thích: (*) Dự án cho năm 2020

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

(Còn tiếp…)

TS Phạm Sỹ Thành, TS Trần Toàn Thắng

***

Cảnh báo rủi ro vay vốn giá rẻ Trung Quốc

DT – Nhiều dự án cơ sở hạ tầng do doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện khi vay vốn từ Trung Quốc làm dấy lên sự nghi ngờ về tính hiệu quả của đồng vốn “rẻ” này, ít nhất đã có 4 nhóm lý do chính được Chính phủ các nước đưa ra.

Tiếp nối bài viết “Vay vốn từ Trung Quốc lợi, hại gì?”, Dân Trí xin tiếp tục giới thiệu với độc giả góc nhìn của hai chuyên gia kinh tế: TS. Phạm Sỹ Thành – Giám đốc Chương trình Nghiên cứu kinh tế Trung Quốc – VEPR (VCES) và TS. Trần Toàn Thắng – Phó ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh – CIEM về vấn đề vay vốn Trung Quốc, giữa bối cảnh có đề xuất cho rằng, cần tận dụng nguồn vốn giá rẻ này để thực hiện một số nhiệm vụ đầu tư phát triển trong lúc ngân sách khó khăn.

Một công trình sử dụng nguồn vốn vay Trung Quốc
Một công trình sử dụng nguồn vốn vay Trung Quốc

Các khoản vay từ Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) có thể bị định hướng bởi sáng kiến Một vành đai Một con đường (OBOR) của Trung Quốc.

Sau khi ông Tập Cận Bình nêu lên ý tưởng về việc thực hiện OBOR, các định chế tài chính Trung Quốc đã tăng cường và triển khai các khoản cho vay của mình tại nước ngoài tập trung vào các quốc gia nằm dọc theo sáng kiến OBOR.

Số liệu cho thấy, các khoản cho vay của Trung Quốc kể từ 2013 đối với các quốc gia đã có sự dịch chuyển rõ nét theo hướng 67% các khoản cho vay của hai định chế cho vay phát triển lớn nhất Trung Quốc là CDB và CHEXIM (với số tiền 49,4 tỉ đô la Mỹ) tập trung vào OBOR (với lãi suất từ 4-4,5%/năm).

Bảng: Một số định chế tài chính cho vay đầu tư CSHT khác của Trung Quốc

Các khoản cho vay Tỉ đô la Mỹ
CHEXIM – Các khoản giải ngân phi thương mại (2014)

– Tín dụng cho vay xuất khẩu

80

29

CDB – Cho vay ròng quốc tế (2014)

– Cho vay ròng quốc tế bình quân 2008 – 2014

22

23

Ngân hàng Trung Quốc (BoC) Cho vay thường niên phục vụ OBOR 2015 – 2017 20
AIIB Giải ngân theo dự án sau 2020 10 – 14
SF Giải ngân theo dự án 2015 – 2020 2
Quỹ phát triển Trung Quốc – Châu Phi Giải ngân 2009 – 2015 2,4

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Đối với Việt Nam, việc quyết định có tham gia OBOR hay không vẫn còn bỏ ngỏ, các tác động của dự án cơ sở hạ tầng (CSHT) mà Trung Quốc đang triển khai tại Đông Nam Á có thể tạo ra một “bẫy đòn bẩy CSHT” đối với Việt Nam, nên việc xem xét vay vốn từ AIIB cần cân nhắc tác động của Trung Quốc trong việc thúc đẩy Việt Nam tham gia và vay vốn để triển khai sáng kiến này.

Các lo ngại về vấn đề môi trường

Nhiều dự án CSHT do doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện khi vay vốn từ Trung Quốc làm dấy lên sự nghi ngờ về tính hiệu quả của đồng vốn “rẻ” này.

Có bốn nhóm lý do chính được Chính phủ các nước đưa ra bao gồm: (i) Mối lo ngại đầu tiên là các vấn đề môi trường; (ii) Mối lo ngại về các vấn đề xã hội; (iii) Các công ty Trung Quốc thiếu công khai, minh bạch trong quá trình đấu thầu; (iv) Sự trỗi dậy của Trung Quốc về quân sự và những căng thẳng về chủ quyền các nước láng giềng khiến chính phủ các nước nghi ngại các dự án đầu tư CSHT sẽ được dùng làm vũ khí chính trị.

Tác động của việc môi trường bị hủy hoại không chỉ gây tổn thất trực tiếp để phục hồi môi trường nguyên trạng mà quan trọng hơn nó có thể ảnh hưởng thậm chí phá hủy sinh kế của người dân tại khu vực đó.

Trung Quốc dự định sẽ đầu tư 150 tỉ đô la Mỹ vào chiến lược OBOR thông qua các định chế tài chính song phương và đa phương mà quốc gia này làm chủ. Trong đó, đầu tư vào đường sắt 75 tỉ đô la Mỹ, đường bộ 18,4 tỉ đô la Mỹ, sân bay 17,5 tỉ đô la Mỹ, cảng biển và cảng sông 25,4 tỉ đô la Mỹ. Các dự án này đều chứa các rủi ro về môi trường.

Báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu An ninh khu vực (CRSS) thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc (CASS) năm 2016 cũng thừa nhận rằng “rất nhiều dự án OBOR có thể gây ra hàng loạt vấn đề an ninh môi trường”.

Các lo ngại về lao động và thay đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Nghiên cứu của Mathieu Duchâtel cho thấy Trung Quốc đã dần từ bỏ chủ trương “không can thiệp” (vào nội bộ các nước) khi các lợi ích của quốc gia này – gồm cả công dân và tài sản – tại hải ngoại ngày càng gia tăng.

Tháng 10-2016, để đảm bảo khoản đầu tư 45 tỉ đô la Mỹ “Hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan” không bị ảnh hưởng bởi những tranh cãi và căng thẳng nội bộ tại Pakistan, Trung Quốc đã có một hành động hiếm thấy là phát đi tuyên bố về việc ổn định tình hình nội bộ tại quốc gia Nam Á này.

Liên tiếp trong tháng 10-2016, đại sứ quán Trung Quốc đã hai lần phát đi thông cáo báo chí kêu gọi Pakistan nhanh chóng ổn định tình hình. Đại sứ Trung Quốc tại đây, Tôn Vệ Đông, thậm chí đã hội kiến với lãnh đạo phe đối lập Imran Khan để thuyết phục không để hoạt động biểu tình phản đối dự kiến diễn ra vào ngày 2-11 ảnh hưởng tới dự án hành lang kinh tế giữa hai nước, trong đó có việc đảm bảo an toàn cho công dân và tài sản đầu tư của Trung Quốc. Sau trường hợp Malaysia hồi tháng 10-2015, đây là lần thứ hai đại sứ quán Trung Quốc lên tiếng trực diện về tình hình nội bộ của một quốc gia khác.

Theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, số lượng lao động Trung Quốc đưa sang khá lớn, rất nhiều trong đó là lao động không phép. Ví dụ, số lượng lao động không phép tại các dự án trong ngành điện là 1.058 trong tổng số 1.719 người; than khoáng sản 769/1919 và dầu khí 513/1708. Những nơi tập trung nhiều lao động Trung Quốc là Hà Tĩnh và các khu công nghiệp phía Nam.

Vấn đề lớn nhất đối với nhóm lao động Trung Quốc là việc họ kết hôn với phụ nữ Việt Nam, tạo ra nhiều phức tạp và các nhạy cảm trong quản lý nhà nước đối với lợi ích của thế hệ con lai tiếp theo.

Đồng thời, những chỉ dấu về việc Trung Quốc có thể sử dụng “bảo vệ công dân Trung Quốc” như cái cớ để gây ảnh hưởng ngoại giao và can thiệp vào tình hình nội bộ cũng là một thách thức cần xem xét nghiêm túc từ bây giờ khi nhận vốn đầu tư từ AIIB.

TS Phạm Sỹ Thành, TS Trần Toàn Thắng

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s