Tàu ngầm Mỹ trong cảng Subic – 4 kỳ

  • Kỳ 1: Trở lại sau 20 năm
  • Kỳ 2: Bến cũ, người xưa và…
  • Kỳ 3: Chiếc USS Louisville từ đâu tới?
  • Kỳ 4: Ngó trước ngó sau
USS Louisville từ đâu tới?
Một góc vịnh Subic năm 1990 – Ảnh: d.r.sanner

***

Tàu ngầm Mỹ trong cảng Subic

09/07/2012 11:01 GMT+7

 

TT – Nó nằm đó thù lù “một cục” trên bờ kè sát con đường Water Front cảng Subic, chiếc tàu ngầm hạt nhân USS Louisville của hạm đội 7 Mỹ, sáng nay thứ tư 27-6. Thật yên ả thả neo trên bến cảng ngày nào là căn cứ hải – không quân Mỹ.

20 năm trước, hạm đội 7 Mỹ “bị” nhổ neo khỏi cảng Subic của Philippines. 20 năm sau, hạm đội 7 trở lại trong sự đón chào. Hai tuần trước, tàu ngầm hạt nhân USS Louisville ghé cảng Subic, tiếp sau một tàu ngầm hạt nhân khác, chiếc USS North Carolina, ghé đây hôm 13-5.

Nhà báo Danh Đức trở lại Philippines sau 20 năm đã nhìn và thấy nhiều chuyện…

Kỳ 1: Trở lại sau 20 năm

Tàu ngầm Mỹ trong cảng Subic Phóng to
Tàu ngầm hạt nhân USS Louisville – Ảnh: D.M.SOSA

Không có cảnh súng ống tua tủa như có thể thấy tại một quân cảng nào khác, nhất là tại cảng San Diego, tổng hành dinh của hạm đội Thái Bình Dương mà chiếc USS Louisville này thuộc về, khi đó lại là một tàu ngầm hạt nhân! Duy nhất lồ lộ là lớp chắn bêtông ở đoạn bờ kè nơi chiếc tàu ngầm đậu.

Việc canh gác con tàu do vài binh sĩ thủy quân lục chiến Mỹ đảm nhiệm, có người ngồi mát trong một cái lều bạt có treo bảng “laundry” (giặt ủi), có người đeo súng tiểu liên báng xếp đứng ngoài nắng…

Bảo vệ cho chiếc tàu ngầm hạt nhân được mô tả là có mang theo tên lửa đạn đạo Tomahawk trong 12 bệ phóng, thủy lôi hạng nặng Mk-48 trong bốn ống phóng cùng tên lửa đối hạm Harpoon chỉ có chừng đó! Còn “nhẹ nhàng” hơn cả công tác bảo vệ tòa đại sứ Mỹ trên đại lộ Roxas, thủ đô Manila: một xe Jeep của cảnh sát Philippines gắn đại liên 50 luôn “hùng dũng” đậu sát bức tường tòa đại sứ đấu lưng ra biển này!

Tất nhiên, không loại trừ vệ tinh dọ thám vần vũ trên trời hay đài kiểm thính trên ngọn Santa Rita ngó xuống vịnh Subic đang nghe ngóng “vòng ngoài” cho chiếc tàu ngầm hạt nhân thuộc phân đội tàu ngầm số 7 (Comsubron 7) này.

Núi lửa phun trào, đóng cửa căn cứ Clark

Năm 1991 là một năm mà không ít người Việt Nam, đặc biệt ở miền Trung và miền Nam, kể cả TP.HCM còn nhớ như in. Liên tiếp trong mấy ngày giữa tháng 6 năm ấy, tro bụi núi lửa từ Philippines vượt biển Đông bay qua đến tận Việt Nam, tuy không phủ trắng xóa như ở Philippines song cũng phủ một lớp xam xám dày.

Ngọn núi lửa Pinatubo, chỉ cách căn cứ không quân Clark không đầy 10 dặm, bỗng dưng rùng mình thức dậy sau 600 năm “ngủ nghỉ”, đã thật sự đe dọa căn cứ không quân Mỹ ngay sát thành phố Angeles, cách thủ đô Metro Manila 60 dặm về phía tây bắc. Ngọn núi lửa “gầm gừ” hai lần trong buổi chiều chủ nhật 9-6 đã hất văng các mảnh vụn ra xa đến 20 hải lý trên biển Đông! Binh sĩ Mỹ thuộc căn cứ Clark đươc lệnh trở về trại và cắm trại trong buổi chiều đó. Đến đêm, Chính phủ Philippines buộc phải ra lệnh sơ tán hơn chục ngàn dân 20 ngôi làng quanh núi lửa.

5g sáng 10-6, trung tá Ron Rand, phát ngôn viên của căn cứ, ra lệnh cho toàn thể 15.000 quân nhân, nhân viên Mỹ cùng gia quyến di tản ra khỏi căn cứ Clark trong vòng bốn giờ, ngoại trừ một số nhân viên thiết yếu trụ lại. Thế là đến 6g sáng, xe ca, xe nhà binh các loại rần rần nối đuôi nhau trên quốc lộ dẫn đến căn cứ hải quân Subic cách đó một giờ xe.

Đến 1g trưa thứ bảy 15-6, núi lửa Pinatubo mới phun trào toàn diện, tro bụi xám bay qua đến tận Việt Nam.

Tàu ngầm Mỹ trong cảng Subic Phóng to
Nhà báo Danh Đức trên bến cảng Subic. Phía sau là tàu ngầm hạt nhân USS Louisville Ảnh: liên minh

Thượng viện Philippines đóng cửa căn cứ Subic!

Ra đi tránh núi lửa cũng là để ra đi mãi mãi cho dù hợp đồng thuê các căn cứ Subic và Clark đến tháng 9 năm đó mới hết hạn và hai chính phủ Philippines – Mỹ đang thương thảo việc gia hạn hợp đồng.

Phía Mỹ đề nghị chi 203 triệu USD/ mỗi năm, một số nghị sĩ Philippines chê là quá ít! Hợp đồng thuê này dựa trên hiệp định căn cứ quân sự Philippines – Mỹ ký kết năm 1947. Đến 16-9-1966, hai bên gia hạn hiệp định này thêm 25 năm. Đến thứ hai 16-9-1991 hết hạn 25 năm gia hạn. Hôm đó, Thượng viện Philippines, với 12 phiếu chống/11 ủng hộ, đã bác bỏ hiệp định gia hạn 10 năm việc cho thuê các căn cứ Mỹ ở Clark và Subic mà nữ tổng thống Cory Aquino vừa ký kết.

Tỉ lệ bỏ phiếu đó cho thấy quyền lực của các nghị sĩ Thượng viện Philippines lớn đến đâu: để bác bỏ hiệp định gia hạn, chỉ cần hơn thua một lá phiếu (12/11 trong trường hợp này); ngược lại để gia hạn phải hội đủ 2/3 tổng số phiếu, tức phải cần thêm năm phiếu nữa!

Một quốc hội đầy quyền lực chính là một trong những di sản mà cựu thuộc địa Philippines kế thừa từ nửa thế kỷ dưới trướng đế quốc Mỹ “kế vị” sau khi đánh bại đế chế Tây Ban Nha! Hiệp định Paris ngày 10-12-1898 giữa Mỹ và Tây Ban Nha đã trao đất nước Philippines cho Mỹ, bất chấp việc Philippines đã tuyên cáo độc lập từ ngày 12-6 trước đó bởi vị tổng thống đầu tiên là ông Emilio Aguinaldo.

Trực tiếp cai trị Philippines song vẫn để cho một nghị viện địa phương hoạt động, đó là một trong vài di sản đẹp đẽ của nửa thế kỷ người Mỹ cai trị Philippines cho đến khi trả lại độc lập cho người Philippines vào ngày 4-7-1946.

Hết bị núi lửa Pinatubo rượt chạy có cờ lại bị Thượng viện Philippines bỏ phiếu tống khứ, quân đội Mỹ không còn chút thiên thời, địa lợi, nhân hòa nào tại đây. Trong số các nghị sĩ chống lại việc gia hạn, có cả nghị sĩ Agapito Aquino, anh chồng của nữ tổng thống Cory Aquino cầm quyền lúc đó. Cuộc bỏ phiếu chống một phần muốn đất nước Philippines “độc lập trọn vẹn”.

Tàu ngầm Mỹ trong cảng Subic Phóng to
Tàu ngầm USS Louisville ở cảng Subic – Ảnh: AP

Ân oán đổi chiều

Nói cho ngay, như tại bất cứ nơi nào có binh sĩ Mỹ đóng quân đều xảy ra những chuyện mích lòng. Ở Clark hay Subic đã là như thế, ở Okinawa (Nhật Bản) cho đến bây giờ cũng thế.

Ngoại trừ ở Nhật do các chính phủ Nhật “cứng cựa” cho dù từng bại trận phải đầu hàng năm 1945, ở các nơi khác từ Nam Hàn đến Nam Việt Nam, Philippines…, sự hiện diện của quân đội Mỹ đồng nghĩa với can thiệp chính trị như vụ đảo chính Lý Thừa Vãn ở Seoul ngày 26-10-1960, Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963…

Tại Manila hiện nay, nghị sĩ Gregorio Honasan vẫn còn nhớ thế nào là sự can thiệp của quân đội Mỹ. Tháng 12-1989, ông Honasan, lúc đó là đại tá, khởi sự một vụ đảo chính chống lại nữ tổng thống Cory Aquino.

Trong suốt một tuần lễ, có lúc dinh tổng thống Malacañang trúng bom suýt thất thủ, tổng thống Aquino phải yêu cầu đồng minh Mỹ yểm trợ. 120 binh sĩ thủy quân lục chiến Mỹ trên tổng số 800 người đóng tại căn cứ Subic được triển khai xung quanh tòa đại sứ Mỹ ở Manila. Không quân Mỹ tại căn cứ Clark tung hai chiếc máy bay chiến đấu F-4 Phantom lên thị uy, giành lại bầu trời cho bà Aquino với lệnh từ chính tổng thống Bush “bố”: “Buộc máy bay phe đảo chính nằm bẹp ở căn cứ của chúng. Nã đạn ngay trước mũi chúng nếu chúng định cất cánh bay lên. Bắn hạ chúng, nếu chúng dám cất cánh” (xem Operation “Classic Resolve”, Global Security.org). Đại tá Honasan thua cuộc.

Thế rồi vật đổi sao dời. Sau khi Trung Quốc “lệnh” cho Philippines phải rút ra khỏi bãi Scarborough, hôm 11-4-2012 nghị sĩ Honasan, “vua đảo chính” ngày nào, lại là một trong những người sớm quên ân oán cũ nhất, yêu cầu Mỹ trở lại ngay. Và con trai của nữ tổng thống Aquino ngày nào, đương kim Tổng thống Benigno Aquino III, đầu tháng 6 đã điều đình việc quân đội Mỹ trở lại.

Ngọn gió thiên thời, địa lợi… đã đổi chiều về phía Mỹ, tuy chưa hẳn đã nhân hòa 100%.

________________

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng khẳng định chủ quyền tự cấp bằng mọi giá trước các nước ven bờ Thái Bình Dương, có gì bất thường không khi hết chiếc USS North Carolina đến chiếc USS Louisville lần lượt đến Subic, nơi mà 20 năm trước hải quân Mỹ đã phải cuốn cờ rút đi?

Kỳ tới: Bến cũ, người xưa và…

DANH ĐỨC
***

Bến cũ, người xưa và…

10/07/2012 09:07 GMT+7

TT – Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng khẳng định chủ quyền tự cấp bằng mọi giá trước các nước ven bờ Thái Bình Dương, có gì bất thường không việc hết chiếc USS North Carolina đến chiếc USS Louisville lần lượt đến Subic – nơi mà 20 năm trước hải quân Mỹ đã phải cuốn cờ rút đi?

Bến cũ, người xưa và... Phóng to
Tàu ngầm USS Louisville trên Thái Bình Dương – Ảnh: us navy

Phát ngôn viên hải quân Philippines, đại tá Omar Tonsay, cố ý giảm nhẹ ý nghĩa: “Tôi không thấy có gì bất thường cả nếu như họ chỉ đến Philippines để tái tiếp tế. Việc tàu bè ghé tái tiếp tế là bình thường. Phía Mỹ đã xin phép thông quan cho chuyến ghé này”.

Tiếp tế cái gì?

Qua những gì có thể thấy được sáng thứ tư 27-6, có vẻ như chiếc USS Louisville đang tái tiếp tế. Cách chiếc tàu ngầm này vài chục mét, cặp bên kia bờ kè, một chiếc tàu chở dầu cỡ nhỏ của hải quân Philippines thả neo. Chắc là để che chắn mạn phải chiếc tàu ngầm đậu dọc bờ kè song song với bến Water Front sát bên, chứ tàu ngầm hạt nhân đâu cần tiếp tế gì từ chiếc tàu chở dầu này.

Một chiếc xe tải “cõng” trên lưng một cái container và một chiếc xe chuyên dụng chất dỡ hàng, một container khác mở toang nằm dài trên bờ kè, chắc cũng để che chắn… Nhìn vào hệ thống đường ống nước gắn trên bờ kè có thể đoán chừng có lẽ một trong những thứ mà tàu ngầm USS Louisville cần tiếp tế là nước ngọt.

R&R: “xả hơi”

Ngoài chuyện tái tiếp tế, còn để làm gì nữa? Thông cáo của tòa đại sứ Mỹ có một câu nghe qua không thể không bật cười vì sự thành thật: “… Cho thủy thủ đoàn cơ hội nghỉ ngơi và thoải mái” (nguyên văn “rest and relaxation”). Cụm từ “rest and relaxation” (nghỉ ngơi và thoải mái) đồng nghĩa với cụm từ rest and recuperation (nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe), cùng viết tắt là R&R, là một thuật ngữ quân sự Mỹ mà những ai quen thuộc với Thế chiến thứ nhì, chiến tranh Triều Tiên hay chiến tranh VN đều hiểu là gì.

Còn nhớ trong chiến tranh VN, binh sĩ Mỹ được đi phép “xả hơi” (R&R) tại Đà Nẵng, Sài Gòn, Vũng Tàu… vốn là những địa điểm R&R nổi tiếng trong chiến tranh VN (xem video clip http://www.defencetalk.com/da-nang-outer-limits-marines-rr-vietnam-war-31908/). Nếu đã lội rừng hay đóng đồn ở các hốc bà tó đủ một năm thì được bay sang Thái Lan, Hong Kong, Hawaii… “xả hơi”. “Khu đèn đỏ” King Cross ngày nay ở Sydney đã khét tiếng từ thời chiến tranh VN: từ tháng 10-1967 đến năm 1971 khi chương trình R&R kết thúc ở Úc, đã có đến 300.000 lính Mỹ đến đây “xả hơi”. Ngày nay binh sĩ Mỹ tại Iraq, Afghanistan… được hưởng 15 ngày R&R miễn phí sau mỗi 270 ngày phục vụ.

Để “xả hơi”, không thể thiếu các cô gái “bán hoa”. Giáo sư Theresa Squatrito của Đại học Washington, tại hội thảo khoa học chính trị Mỹ quốc năm 2005, đã trình bày tham luận “R&R: chính sách của quân đội về mại dâm” (R&R: Military policy on prostitution). Theo giáo sư Squatrito, ở Subic có lúc có đến 17.000 phụ nữ “bán hoa” quanh căn cứ này. Những trang kỷ niệm của lính Mỹ ở Subic còn lưu những bức ảnh “xả xú páp” ở các quán bar mà trong đó màn múa cột là liên tục.

Ngày đó, căn cứ hải quân Mỹ vịnh Subic được định nghĩa như là một cơ sở lớn chuyên sửa tàu, tiếp tế, R&R của hải quân Mỹ. Ngày nay, các khu “đèn đỏ” Barrio Barretto hay ở thành phố Angeles sát căn cứ không quân Clark ngày xưa vẫn tấp nập. Trên chuyến xe buýt của khách sạn South Cross từ Subic về Manila, có đến chục khách Mỹ tuổi cũng khá cao ghé Angeles. Thành ra không lấy làm lạ tại sao trong khu “đèn đỏ” Barrio Barretto ở vịnh Subic với hàng trăm quán bar, hộp đêm như Catwalk Club, Hot Zone, Fox Hole, Oriental Rose Tavern… có quán đã căng biểu ngữ “Bienvenido to the U.S. Navy” chào mừng thủy thủ đoàn chiếc tàu ngầm USS Louisville!

Bến cũ, người xưa và... Phóng to

Hải quân Mỹ trong một quán bar ở Subic năm 1968 – Ảnh: Brad Jones

Bến cũ, người xưa

Tất nhiên, ‘R&R” theo giải thích của tòa đại sứ Mỹ, cũng như giải thích ghé để “tái tiếp tế” của phát ngôn viên hải quân Philippines, chỉ là thể hiện bề nổi chuyến ghé vịnh Subic của chiếc USS Louisville.

Còn một cách giải thích thứ ba: “Chuyến ghé thăm thường lệ này làm nổi bật các mối quan hệ mạnh mẽ mang tính lịch sử, cộng đồng, và quân sự giữa nước Mỹ và Philippines”, thông cáo của tòa đại sứ Mỹ tại Manila cho biết. “Quan hệ lịch sử, cộng đồng và quân sự” này là gì, như thế nào?

Quan hệ đó tính ra cũng hơn một thế kỷ. Thủy quân lục chiến Mỹ từ hai chiến hạm USS Baltimore và USS Orego đã đổ bộ kéo cờ Mỹ lần đầu tiên vào ngày 10-12-1899. Đến năm 1903, Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt ký một sắc luật thiết lập khu quân sự Mỹ tại Subic. Ông đã viết như sau về quyết định này:” Nếu chúng ta cần thể hiện ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tại Đông Á, thì chúng ta nhất thiết phải có một căn cứ hải quân tại vịnh Subic”.

Đến tháng 6-1907, sau khi Nhật đánh bại một cường quốc của thế kỷ 19 là Nga trong một loạt trận đánh giành giật Triều Tiên, Mãn Châu… từ trận bao vây cảng Arthur đến các trận hải chiến Hoàng Hải, rồi thì Tsushima năm 2005, Chính phủ Mỹ âm thầm ra lệnh cho bộ binh và hải quân tăng cường lực lượng tại vịnh Subic. Hai bên đã chung sức trong gần nửa thế kỷ, ngay cả khi Subic rơi vào tay quân đội Nhật ngày 12-1-1942, cho đến khi đánh đuổi được kẻ thù chung khỏi Subic vào ngày 30-1-1945.

Trên bến Water Front, đối diện với cảng vụ mà khi xưa là sở chỉ huy, hai bia đá tưởng niệm các nạn nhân của những “chuyến tàu địa ngục” (hellships) chở những tù binh bị quân Nhật lùa lên tàu khi rút khỏi Subic làm “bia đỡ đạn” trước các đợt không kích của không quân Mỹ. Cũng may là có phi công nhận ra “phe ta” trên boong chiếc tàu chở hàng Oryoku Maru của Nhật nên kịp thời vẫy cánh thôi bắn phá. 1.360 tù binh thoát nạn nhảy ào xuống biển lên bờ. Thê thảm thay cho 450 tù binh sống sót, đến giờ chót còn bị lùa chở sang Nhật nhốt trong các trại lao động! Trận đánh tái chiếm đèo Zig Zag, đoạn đèo nối thị trấn Olongapo với cảng Subic kéo dài những nửa tháng, quân Nhật tử thủ cho đến kỳ cùng, thiệt hại lên đến 2.400 người; phía Mỹ 1.400 người. Người Phi thiệt hại đếm không xuể, nghĩa trang trên vách núi nhìn xuống cảng Subic là một chứng tích.

Chia sẻ máu và khói lửa không dừng ở đó. Năm 2002, Mỹ phái một đơn vị biệt kích hỗn hợp có lúc đông đến 600 người gọi tắt là JSOTF-P, gồm lực lượng đặc biệt của bộ binh, của hải quân và của không quân sang hỗ trợ quân đội Phi chống các nhóm khủng bố Hồi giáo Abu Sayyaf và Jemaah Islamiyah ở miền nam Philippines. JSOTF-P phụ trách cố vấn huấn luyện, tham mưu tình báo, công tác dân sự vụ…Tháng 2-2002, 10 thành viên JSOTF-P thiệt mạng trong một tai nạn trực thăng.

Trăm năm “quan hệ lịch sử, cộng đồng và quân sự” chia sẻ bằng máu như thế liệu có đủ để cho Philippines được bảo vệ một khi bị tấn công bởi một thế lực ngoại quốc, căn cứ trên hiệp định quốc phòng hỗ tương Mỹ-Phi ngày 30-8-1951? Đó là câu hỏi mà nhiều người Phi nay đang đặt ra.

Kỳ tới: Chiếc USS Louisville từ đâu tới?

DANH ĐỨC
***

USS Louisville từ đâu tới?

11/07/2012 10:00 GMT+7

TT – Thứ hai 25-6, đúng hẹn chiếc tàu ngầm USS Louisville tiến vào vịnh Subic. Một tàu kéo của cảng vụ Subic ra dẫn đường vào. Một số thủy thủ chiếc USS Louisville lên boong tàu chào nước chủ nhà.

USS Louisville từ đâu tới? Phóng to
Một góc vịnh Subic năm 1990 – Ảnh: d.r.sanner

Chiếc USS Louisville không phải là một “bạch diện thư sinh”, trái lại đã nổi tiếng trong chiến dịch Bão tố sa mạc năm 1991 tấn công Iraq với vinh dự là tàu ngầm hải quân Mỹ đầu tiên phóng tên lửa Tomahawk trong chiến tranh. Để tham gia chiến dịch này, chiếc USS Louisville đã lặn một hơi 14.000 dặm, từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương rồi vô biển Đỏ để đến trưa 19-1-1991 được lệnh khai hỏa mở màn cho chiến dịch Bão tố sa mạc.

Ngang dọc tây Thái Bình Dương

Tàu ngầm được “sinh ra” với đặc tính “bẩm sinh” là thoắt ẩn thoắt hiện, đến không biết, đi không hay… khác với các tàu nổi như tàu khu trục, tàu sân bay, thậm chí tàu tuần duyên nhỏ bé, càng súng ống tua tủa “xù lông nhím” càng diễu võ dương oai. Còn tàu ngầm thì càng lẳng lặng càng tốt.

Cuối tháng 10 năm ngoái, chiếc USS Louisville về lại “nhà” của nó là Trân Châu cảng sau một chuyến công tác dài sáu tháng. Đến đầu tháng 2, nó được biên chế từ phân đội 3 tàu ngầm tấn công (Comsubron 3) sang phân đội 7 tàu ngầm tấn công (Comsubron 7), sau khi phân đội 3 gốc của nó bị giải thể và chia làm đôi, ba chiếc nhập vào phân đội 1 (Comsubron 1), hai chiếc còn lại, trong đó có chiếc USS Louisville, nhập vào phân đội 7. Đến ngày 7-2 năm nay, nó được lệnh rời Trân Châu cảng lên đường cho một chuyến công tác trong khu vực tây Thái Bình Dương.

Thành ra từ đầu tháng 2 tới giờ, nó cứ lặn hụp từ Trân Châu cảng đến biển Đông, thỉnh thoảng trồi lên thở khí trời hoặc ghé bến cho thủy thủ “xả hơi” đôi chút. Đầu tháng 4, chính xác là hôm 3-4, nó mò vô vịnh Sepangar của Malaysia ghé đó vài ngày. Rồi lại trở đầu ngược đến đảo Guam, đến 11-5 thì cập bến Apra. Sau đó, quay đầu lại khu vực Đông Nam Á và cuối tháng 6 lò mò vào cảng Subic của Philippines.

Giở lịch đếm, hóa ra thủy thủ đoàn có quân số trên lý thuyết là 129 người, cũng đã hành trình suốt bốn tháng nay, chưa về đến “nhà” ở Trân Châu cảng.

Thứ hai 25-6, USS Louisville cập bến cảng Subic thật an bình giữa lúc mà theo báo chí mô tả là “Trung Quốc và Philippines đang đôi co với nhau”. Vịnh Subic mấy hôm đầu tuần rồi hoàn toàn yên tĩnh. Cơn bão Dindo vẫn chưa áp sát Philippines, phải đến đêm thứ tư mới có những cảnh báo đầu tiên trên Đài truyền hình GMA. Đêm đến sóng vỗ nhẹ trên vịnh Subic, làm nhấp nhô mấy chiếc tàu hàng thả neo lơ lửng giữa con vịnh được chắn gió bởi một cù lao như vịnh Cam Ranh.

Về phía bãi Baloy Long Beach, một dải đá ngầm nhỏ xíu nổi lên không xa bờ bao nhiêu. Người Phi xây trên đó một nhà giàn bằng bêtông, biến dải đá ngầm thành dải đá nổi, có chỗ trú chân, mưa gió. Âu cũng là một cách giải quyết bài toán ngụ cư trên các dải đá ngầm lớn nhỏ. Sáng ra thấy một chiếc ghe ba thân (trimaran) nhỏ cập bờ từ lúc nào trong đêm.

Tối hôm trước, trong nhà hàng ven bãi biển của một resort khuất trong một góc biển, từ đường lộ vào phải qua một “con hẻm”, giông giống các resort ở Phú Quốc, hai cô ca sĩ Phi mới lớn hát hò trong tiếng đàn đệm của một tay keyboards.

Đàn hát nhạc Mỹ là “đặc sản” của các ca sĩ và ban nhạc Phi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong cảnh thanh bình đó, mấy ai ngờ rằng đang lù lù một tàu ngầm hạt nhân cách đó không xa.

Cảng tự do Subic

Từ khi hải quân Mỹ rút khỏi căn cứ Subic vào cuối năm 1992, người Phi đã biến toàn thể căn cứ khổng lồ suốt thế kỷ 20 này của hải quân Mỹ thành một khu vực cảng tự do ăn nên làm ra. Đây là một thách đố vô cùng to lớn đối với thị trưởng Richard Gordon cùng 8.000 cư dân thành phố Olongapo bên cạnh. Thách đố cơ bản là làm sao gìn giữ các cơ sở vật chất trị giá đến 8 tỉ USD do quân đội Mỹ để lại, đừng để bị “hôi của”, tháo gỡ hủy hoại!

Làm gì để “kiếm cơm” cho một cảng ngày nào còn sống nhờ cung cấp dịch vụ hậu cần các loại, kể cả dịch vụ R&R (xả xú páp) cho lính Mỹ, không những sống nhờ mà còn sống dư dả khi mà trung bình mỗi tháng có đến 98 tàu cập bến (năm 1964), sang năm 1967 lên đến 215 chiếc/tháng, bất cứ ngày nào cũng cùng lúc có đến 30 tàu đậu trong cảng? Kỷ lục của cảng Subic là vào tháng 10-1968 với 47 tàu bình quân trong cảng mỗi ngày!

Thị trưởng Richard Gordon đã biến quân cảng đóng cửa này thành một đặc khu kinh tế mở với những công ty trong hàng ngũ “blue chip” hái ra tiền như Công ty Coastal Petroleum hoặc Tập đoàn vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không Fed Ex… Fed Ex đã “bơm” vào đây 3 tỉ USD tạo 70.000 chỗ làm mới trong vòng bốn năm đầu tiên, biến sân bay quân sự cũ của cảng Subic thành tổng trạm trung chuyển hàng hóa toàn cõi châu Á – Thái Bình Dương của Fed Ex trong gần 10 năm trời ròng rã!

Đặc khu kinh tế mới Subic thành công đến nỗi chỉ bốn năm sau khi người Mỹ cuốn cờ ra đi đã có đủ thực lực kinh tế, tài chính đăng cai hội nghị thượng đỉnh APEC lần 4 vào hôm 24-11-1996, đúng bốn năm tính từ ngày chiến hạm USS Belleau Wood, chiến hạm cuối cùng của hải quân Mỹ rời cảng này hôm 24-11-1992!

Bí quyết thành công của Subic? Để làm chủ “di sản” cơ sở vật chất hải quân Mỹ để lại, cần phải có một lực lượng nhân sự tương ứng. Điều đó không quá khó khi mà Philippines, do từng là thuộc địa Mỹ, nên đã được trang bị một hệ thống giáo dục cả trung học và đại học theo kiểu Mỹ, tự chủ đại học từ khi được thành lập, học sinh, sinh viên sử dụng quen tiếng Anh…, được xem là tiên tiến nhất Đông Nam Á trong thập niên 1960, 1970, 1980… trước khi bị Singapore rượt đuổi kịp và qua mặt.

Người Phi đã tích lũy kinh nghiệm làm kinh tế hậu cần trong những năm chiến tranh Việt Nam, với những con số “kỷ lục” như đón tiếp 4.224.503 lượt khách Mỹ ghé nghỉ năm 1967, 15.000 công nhân Phi làm việc trong các công xưởng hải quân Mỹ đã quen với tác phong công nghiệp và làm việc ở trình độ chuyên sâu (sửa chữa, đại tu tàu chiến hạm đội 7).

Tháng 8-1967, tàu sân bay USS Forrestal bị thảm họa cháy nổ cả trăm người chết đã được kéo về đây sửa chữa. Không chỉ sửa chữa tàu chiến, Subic còn là căn cứ sửa chữa, bảo trì cho toàn thể 400 máy bay các loại của các tàu sân bay thuộc hạm đội 7. Để đảm đương công việc này, bình quân mỗi ngày ở đây phải thay thế hai động cơ phản lực cho máy bay “khách hàng”, một công việc mà khó có một xưởng sửa chữa máy bay nào khác trên thế giới có được!

Đó là lý do mà hạm đội 7 nay quyết liệt tìm cách quay trở lại Subic trong kế hoạch “tái cân bằng lực lượng” của Bộ trưởng quốc phòng Leon Panetta.

Chiếc tàu ngầm này thuộc lớp tàu ngầm hạt nhân Los Angeles, tổng cộng gồm 62 chiếc, được Tập đoàn General Dynamics Corporation đóng trong thời gian từ năm 1972-1996. Lớp Los Angeles là lớp tàu ngầm hạt nhân ra đời thứ nhì, sau lớp Sturgeon. Hai mươi chiếc “cổ lỗ sĩ” nhất đã được cho “giải ngũ”, còn lại 42 chiếc đang hoạt động.

Chiếc USS Louisville là chiếc thứ 37 thuộc lớp này, được hạ thủy tháng 12-1985, nhập biên chế tháng 11 năm sau. Con tàu dài 109,73m này được trang bị một lò phản ứng hạt nhân GE PWR S6G , hai tuôcbin 35.000 mã lực, một máy dự phòng 325 mã lực, có tốc độ khá khiêm tốn khi nổi, chỉ 15 hải lý/giờ, song một khi lặn xuống nước có thể lặn sâu đến 200m, sẽ tăng tốc hơn gấp đôi, có thể lên đến 32 hải lý/ giờ. Bởi thế nó mới được biên chế là tàu ngầm tấn công nhanh.

—————————————————–

Thật ra Mỹ và Philippines đều phải cân nhắc đắn đo khi cho tàu ngầm hạt nhân vào Subic. Đắn đo vì dư luận trong nước cũng có, nhưng quan trọng hơn là sự săm soi của “đệ tam nhân”.

Kỳ tới: Ngó trước ngó sau

DANH ĐỨC
***

Ngó trước ngó sau

12/07/2012 10:30 GMT+7

TT – Việc chiếc USS Louisville hôm 25-6 ghé cảng Subic để “tái tiếp tế” và “R&R”, tiếp theo sau chiếc USS Carolina hôm 13-5 đã là kết quả của cả một sự đánh giá, cân nhắc tình hình và dư luận trong và ngoài nước Philippines.

Ngó trước ngó sau Phóng to
Thủy thủ đoàn USS Louisville – Ảnh: C.M.COLBERT

Trước chiếc USS Louisville đã có hai chiếc tàu ngầm hạt nhân khác định vào Subic, song cuối cùng được lệnh hủy bỏ. Đó là các chiếc USS Tucson và USS Columbus. Hai chiếc tàu ngầm hạt nhân này trong hai tuần lễ liên tiếp đã phải thôi không trực chỉ Subic. Nếu có dư luận hoan nghênh các chuyến ghé thăm này thì ngược lại cũng có những dư luận phản đối. Biết sao bây giờ khi Philippines là một xã hội không đơn giản là đa đảng mà còn là đa phe phái, đa ý kiến và chấp nhận sự đa ý kiến đó.

Đồng ý cho ghé vô

Tất nhiên, trong bối cảnh các căn cứ Mỹ đã bị đóng cửa bởi Thượng viện Philippines từ năm 1991, Tổng thống Aquino không thể tự ý mời tàu ngầm hay tàu nổi Mỹ vào đất nước mình vì bất cứ lý do gì mà phải viện dẫn các văn bản pháp lý. Trong số này phải kể đến hai văn kiện thỏa hiệp Phi – Mỹ lực lượng quân sự viếng thăm (The RP-US Visiting Forces Agreement) gọi tắt là “VFA-1” và “VFA-2” ký bởi tổng thống Ramos năm 1998 và bởi tổng thống Estrada năm 1999, có hiệu lực kể từ ngày 27-5-1999.

Theo tinh thần hai thỏa hiệp này, máy bay và tàu chiến Mỹ được di chuyển không hạn chế bên trong lãnh thổ Philippines. Điều khoản này chính là cơ sở để cho Tổng thống Aquino nay mời tàu Mỹ ghé vào.

Các thỏa thuận này đã và vẫn còn là một đề tài gây tranh luận về tính chủ quyền của phía Phi. Như tại nhiều nơi khác có quân đội Mỹ đóng quân, tỉ như ở Okinawa, thỉnh thoảng xảy ra những vụ bạo hành của binh sĩ Mỹ mà nạn nhân là dân địa phương và, như thường lệ, lính Mỹ được hưởng quyền không bị xét xử hai lần, tức không bị xét xử bởi tòa án địa phương, trừ phi là tội tày đình đối với đất nước Philippines.

Ngoài ra, các quân nhân Mỹ trong chương trình viếng thăm cũng được miễn thủ tục visa và hộ chiếu, được miễn thuế. Tất nhiên, phía Phi cũng được hưởng những chế độ đặc biệt như vậy, kể cả công nhận bằng lái xe của Philippines, cho phép nhân viên Phi mang súng trong các căn cứ Mỹ khi họ đang hoạt động công vụ…

Ngó trước ngó sau Phóng to
Tàu ngầm Trung Quốc – Ảnh: Sinodefense

Chỉ trích việc cho vô

Tiếc là trong thực tế, việc người Phi gây thiệt hại cho người Mỹ ít hơn là người Mỹ gây ra cho người Phi. Không phủ nhận rằng lực lượng hỗn hợp đặc biệt Mỹ tại Philippines JSOTF-P có ích trong ý nghĩa nào đó đối với nền an ninh của Phi, song thỉnh thoảng lính Mỹ của đơn vị JSOTF-P cũng hành động như bất cứ một lính “viễn chinh” nào! Đó là điều mà bốn binh sĩ Mỹ đã làm vào năm 2006, khiến họ bị cáo buộc là đã hiếp dâm một người Phi, và phía Mỹ từ chối trao bốn bị cáo này cho tòa án Phi thụ lý.

Vụ việc này khiến một số dư luận trách cứ rằng các thỏa hiệp VFA này đã thiên vị phía Mỹ, xử ép phía Phi, xâm phạm chủ quyền Phi, thậm chí xem người Phi như là “công dân hạng nhì” ngay trên quê hương mình.

Gần đây nhất, việc Phi hứa hẹn cho Mỹ sử dụng các căn cứ Clark và Subic bị chỉ trích bởi những tổ chức cánh tả như tổ chức Pamalakaya, hoặc Đảng Cộng sản Philippines (PKP). Đảng này là một trong những đảng “mao-ít” hiếm hoi còn chủ trương “lấy nông thôn bao vây thành thị” và hoạt động ngầm qua tổ chức mang tên “Quân đội nhân dân mới” với mục tiêu là lật đổ Chính phủ Philippines.

Cân nhắc trước đệ tam nhân

Dẫu sao thì những dư luận trái nghịch đó cũng đã được hai chính phủ Phi – Mỹ hết sức cân nhắc. Càng cân nhắc khi một số dư luận nóng lòng đặt những câu hỏi “huỵch toẹt” như “hiệp định quốc phòng hỗ tương Phi – Mỹ có dự liệu trường hợp nếu một bên bị tấn công thì bên kia cũng sẽ xem đó là tấn công mình?”.

Đại sứ Mỹ tại Philippines trả lời nước đôi: “Thật là lạ lùng khi nghe hỏi như vậy. Chúng tôi gắn bó với những cam kết trong hiệp định. Tuy nhiên, Washington chống lại mọi sự câu kết nào nhằm thúc đẩy yêu sách tranh chấp của mình”.

Muốn hay không muốn, Mỹ cũng không thể không thận trọng đừng để cho bị hiểu lầm là “kết bè hiệp đảng”, là “tìm cách ngăn chặn” một nước thứ ba, nhất là khi nay Mỹ đang muốn lập lại thế cân bằng ở Thái Bình Dương sau hai thập niên “xa vắng”.

Loan báo tái bố trí 60% lực lượng hải quân Mỹ trên Thái Bình Dương của Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta hồi đầu tháng 6 dễ bị xem là một thách thức chạy đua hải quân.

Còn nhớ sau Thế chiến thứ nhất, ba cường quốc hải quân hàng đầu thế giới lúc đó lần lượt là Anh, Mỹ, Nhật đã lao vào chạy đua tăng cường hải quân. Đến năm 1922, ba siêu cường này ký hiệp định hải quân Washington với thỏa thuận là sẽ đóng tàu theo tỉ lệ 5-5-3- giữa Anh, Mỹ, Nhật. Với tỉ lệ này, Anh và Mỹ được đóng thiết giáp hạm và khu trục hạm tổng cộng trọng tải đến 525.000 tấn trong khi Nhật chỉ đến 315.000 tấn; Anh, Mỹ được đóng tàu sân bay tổng cộng 135.000 tấn, Nhật chỉ đến 81.000 tấn tổng cộng mà thôi.

Thật ra Nhật đã tính toán rằng hải quân Nhật chỉ bằng 70% hải quân Mỹ mới đủ để “ăn thua” trên Thái Bình Dương, trong khi tỉ lệ 5-5-3 so với Anh, Mỹ tức 60% là khá “hẻo”. Bởi thế đến cuối năm 1934, Nhật loan báo bỏ không tham gia hiệp định này là để tăng tốc phát triển hải quân nhằm thực hiện giấc mộng thôn tính Đại Đông Á.

Từ thỏa thuận tỉ lệ 5-5-3 trên giữa hải quân Anh, Mỹ, Nhật năm 1922, có thể hiểu tại sao Mỹ nay quyết định sẽ dồn 60% lực lượng hải quân Mỹ sang Thái Bình Dương. Tức Mỹ đánh giá đến năm 2020, nếu chỉ phân bố 50% số tàu các loại trên Thái Bình Dương, hải quân Mỹ sẽ bị hải quân Trung Quốc đè bẹp, nên để có thể duy trì ưu thế trong tương lai một khi Trung Quốc đã tăng cường hải quân, Mỹ sẽ cần nâng số tàu chiến các loại ở riêng Thái Bình Dương lên tỉ lệ 60%.

Muốn duy trì một số lượng tàu đông đảo như thế, vào thời buổi mà Mỹ không còn một căn cứ thường xuyên nào nữa ở Đông Nam Á, hải quân Mỹ phải có những bến đỗ bán thường xuyên. Subic là một trong những địa chỉ đó, cũng như Singapore nơi Mỹ sẽ bố trí bốn tàu tuần duyên (LCS, tàu tuần tiễu ven bờ) hoặc Utapao (Thái Lan)…

So với các cảng này, Subic có ưu thế là một cảng nước sâu trong một cái vịnh được một cù lao án ngữ ở cửa vịnh. Ngược lại, các nước có “bến đỗ” cũng có nhu cầu “dựa hơi” để mong yên thân chút đỉnh trước những đe dọa mới ngày càng dồn dập hơn.

DANH ĐỨC

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s