Ổn định vùng người Mông di cư tại Điện Biên – 5 bài

  • Bài 1: Không thể để đồng bào mãi lầm đường và lạc niềm tin
  • Bài 2: Vỡ mộng trên đất khách
  • Bài 3: Trở về từ ranh giới của sự sống và cái chết
  • Bài 4: Huổi Khon – vết thương đã lành
  • Bài 5: Bồi đắp niềm tin lòng người

mclv_15a
Trẻ em người Mông ở bản Hua Sin. Ảnh: Bích Hằng

***

Ổn định vùng người Mông di cư tại Điện Biên

29/11/2016 – 15:07 BP

Việc người Mông di cư vượt biên trái phép không phải là vấn đề mới, gần đây sự việc lại nóng lên và được nhận định là có thể gia tăng với tính chất phức tạp hơn. Đây là một thách thức lớn đối với lực lượng Biên phòng và các địa phương có vùng đồng bào Mông sinh sống. Chúng tôi đi dọc tuyến biên giới của tỉnh Điện Biên tìm lại hồ sơ về người Mông vượt biên di cư, chuyện chưa hề cũ.

Bài 1: Không thể để đồng bào mãi lầm đường và lạc niềm tin

Từ đói nghèo…

Theo số liệu thống kê sơ bộ, tổng số người Mông di cư sang Lào từ năm 1991 đến tháng 6 năm 2016 là hơn 1 ngàn hộ với gần 7 ngàn người. Mặc dù các cơ quan chức năng của hai nước Việt Nam – Lào có nhiều giải pháp ngăn chặn, nhưng đến nay, hiện tượng này vẫn chưa thuyên giảm, thậm chí còn phức tạp hơn. Đặc  biệt, mới đây, lực lượng an ninh Lào chính thức yêu cầu Việt Nam cùng tăng cường các biện pháp phối hợp phòng ngừa, do lo ngại tiềm ẩn các vấn đề an ninh có thể xảy đến ở các vùng biên giới thưa thớt dân cư và địa hình hoang vu, hẻo lánh nằm giữa hai quốc gia.

Địa bàn trọng điểm của vùng Tây Bắc Việt Nam xảy ra tình trạng người Mông di cư là huyện Mường Nhé, Nậm Pồ, Mường Chà của tỉnh Điện Biên; huyện Sông Mã, Sốp Cộp của tỉnh Sơn La; huyện Mường Lát của tỉnh Thanh Hóa, huyện Kỳ Sơn của tỉnh Nghệ An. Người Mông di cư hiện cư trú trái phép tại các tỉnh Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay, Viêng Chăn, Hủa Phăn, U Đôm Xay, Bò Kẹo, Luông Phra Băng của Lào.

k08x_16b
 Lực lượng Biên phòng luôn có mặt trong từng gia đình người Mông ở các bản làng xa xôi hẻo lánh. Ảnh: Bích Hằng

Nguyên nhân người Mông di cư sang các quốc gia trong khu vực suốt từ nhiều năm qua đã được phân tích, mổ xẻ khá nhiều. Mỗi vùng dân cư, đặc điểm địa hình và mặt bằng kinh tế, nhận thức khác nhau cũng có những lý do khác nhau để người Mông rời khỏi địa bàn, vượt biên và tới bất kỳ vùng đất nào mà họ nghĩ có thể đoàn tụ với người thân và sống sung túc hơn.

Với đặc điểm dân tộc học riêng có, người Mông nằm trong nhóm các dân tộc không coi trọng yếu tố ổn định, an cư lạc nghiệp, không nhất thiết sống dựa vào cộng đồng và các thiết chế làng bản, thờ cúng tổ tiên, phần mộ. Họ khá độc lập trong việc lập gia đình, canh tác và lựa chọn vùng đất cư trú. Bởi vậy, nếu cho rằng, sử dụng và phát triển mô hình quần cư người Mông trên cơ sở sự gắn kết tình cảm láng giềng, thôn xóm, hương ước dòng họ, gia đình để giữ chân họ thì đó không phải là biện pháp tối ưu.

Một số người may mắn sớm nhận ra tình trạng bi đát và đói nghèo mà họ lỡ bước sa chân vào đã tìm cách trở về nước. Họ được bản làng cũ, hàng xóm cũ đón nhận, đặc biệt là chính quyền địa phương sở tại tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng. Có trường hợp họ còn được nhận lại cả nhà cửa, nương rẫy mà họ đã bán đi để bỏ xứ đã có tác động tích cực đến những người Mông khác có ý định di cư sang Lào sớm bỏ hẳn ý định phiêu lưu này.

…đến lạc mất niềm tin

Ngoài nguyên nhân cơ bản người Mông di cư vì nghèo khó, không có đất canh tác đi tìm vùng đất canh tác tốt hơn, thì một bộ phận không nhỏ trong số họ có động cơ vượt biên liên quan đến các tổ chức phản động lưu vong tại nước ngoài. Họ bị lôi kéo bởi các ổ nhóm vũ trang, chống đối chính quyền sở tại, bị lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để buộc phải đi theo một thứ tôn giáo không chính thống và được điều khiển bởi những phần tử sống ngoài vòng pháp luật.

Điều đáng tiếc là, chính những người bị lợi dụng lao vào đường hầm không lối thoát đó tiếp tục quay trở lại bản quán dụ dỗ, lôi kéo những người khác đang sống yên ổn tại các bản làng phục vụ cho các mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch. Thực tế cho thấy, tất cả những lời mời gọi họ tới những vùng đất hứa đều mập mờ, hoang tưởng, ngay bản thân họ cũng không có được những thông tin thiết yếu về cuộc sống tương lai.

Báo cáo của cơ quan Công an và BĐBP Điện Biên có đề cập tới việc người Mông di cư gia nhập các nhóm vũ trang ngoài vòng pháp luật (tạm gọi là phỉ) ở Lào để gây ra các vụ phục kích, bạo loạn, chống phá Nhà nước Lào cho thấy, việc ngăn chặn người Mông di cư đã trở thành vấn đề cấp thiết liên quan tới an ninh biên giới. Nếu không có biện pháp ngăn chặn triệt để, tiến tới chấm dứt hẳn việc người Mông di cư qua biên giới có thể làm tổn hại đến mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai quốc gia, lợi ích của các dân tộc và tôn giáo chính thống.

Những người Mông tin vào luận điệu tuyên truyền của các phần tử phản động rằng, sang Lào để thành lập “Vương quốc Mông”. Người Mông với đặc điểm khí chất “khi đã tin thì dám làm tất cả” và họ luôn có xu hướng gắn bó thân thiết đặc biệt với người cùng dòng tộc, dù quen biết hay không. Điều trớ trêu là, họ không ngại khó, ngại khổ, kể cả vi phạm pháp luật, chống đối lại lực lượng chức năng và Nhà nước chỉ vì tin vào một niềm tin mà thực ra nó không có thật.

“Biện pháp ngăn chặn vượt biên trái phép hiệu quả nhất vẫn là tăng cường năng lực cán bộ trong các đơn vị đóng ở địa phương có người Mông sinh sống, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và xóa đói giảm nghèo. Khi người Mông có cuộc sống khá hơn, có nhận thức tốt hơn sẽ không di cư. Một số biện pháp mạnh về tư pháp và hành pháp có thể không đem lại hiệu quả bằng công tác chính trị”.

Đại tá Lê Đức Nghĩa, Chủ nhiệm Chính trị BĐBP Điện Biên cho biết.

Thông qua các tài liệu không chính thống và bằng hình thức thuyết giáo phản động, những kẻ truyền đạo trái phép đã  làm cho những người Mông tin rằng, họ có thể “chạy đến một quả đồi cao, chờ trực thăng đến đón tới một xứ sở hạnh phúc, không cần làm cũng có ăn, thừa mứa vật chất và thoải mái tinh thần, đó mới là thiên đàng, còn ở xứ này khổ quá!” (trích lời Trưởng bản Huổi Khon, Nậm Kè, Mường Nhé).

Chúng tôi rà soát lại toàn bộ các địa bàn đã từng xảy ra việc người Mông di cư tại Điện Biên, thấy rằng, lý do vượt biên của họ muôn màu, muôn vẻ và đều liên quan tới an ninh chính trị và tôn giáo. Thế nhưng, những người Mông đã trở về hiện sinh sống tại các địa bàn biên giới thường không thừa nhận điều đó. Họ muốn khép lại quá khứ lầm lạc và muốn ổn định, an cư ở nơi có ruộng nương, nguồn nước và điều kiện sống ổn định để ở.

Theo các cán bộ Biên phòng phụ trách địa bàn, thỉnh thoảng họ vẫn phát hiện và kịp thời ngăn chặn những người lạ xuất hiện tại các khu vực biên giới với mục đích truyền đạo trái phép và lôi kéo người vượt biên. Qua đó nhằm ngăn chặn làn sóng di cư mới, núp danh nghĩa đi làm thuê, đi đoàn tụ với người thân để vượt biên sang các quốc gia liền kề.

Điện Biên là một trong những tỉnh sớm có các đề án sắp xếp ổn định dân cư khu vực người Mông, với sự vào cuộc của Tỉnh ủy, UBND tỉnh cùng các cấp, các ngành, các lực lượng chức năng. Theo đó, các bản làng được quy hoạch lại, đời sống dân cư được chăm lo sung túc hơn. Các khu dân cư ấm áp tình làng nghĩa xóm và gắn bó với nhau bằng hương ước dòng họ, mối quan hệ truyền thống lâu đời được tôn trọng triệt để. Không thể để đồng bào mãi lầm đường và lạc niềm tin. Người Mông ở Điện Biên hôm nay có thể nhìn lại những đổi thay trong cả quá trình di dịch cư của dân tộc mình, để thấy sự ổn cư là quý giá như thế nào đối với họ.

Trương Thúy Hằng – Nguyễn Bích

***

Ổn định vùng người Mông di cư tại Điện Biên

07/12/2016 – 10:39

BP – Một ngày tháng 4-2014, vợ chồng Tráng A Chứ và Sẻ Thị Mái ở bản Huổi Un, xã Mường Pồn, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đã nghe theo lời dụ dỗ của kẻ xấu dắt díu nhau vượt biên trái phép sang Lào với hy vọng sẽ có được cuộc sống sung sướng và hạnh phúc hơn… Thế nhưng, sau những ngày tháng sống vất vưởng ở nơi đất khách, hai vợ chồng họ đã hoàn toàn vỡ mộng về “miền đất hứa”.

Bài 2: Vỡ mộng trên đất khách

Đi một lần khổ lắm rồi

Đang vào vụ thu hoạch lúa nương, bà con người Mông thường đi làm từ sáng sớm đến tối mịt mới về nhà, thậm chí có người ngủ luôn trên nương. Vì thế, chúng tôi phải nhờ các cán bộ Đồn BP Mường Pồn hẹn trước mới gặp được Tráng A Chứ, người đàn ông có vẻ ngoài khắc khổ, khuôn mặt hốc hác, già hơn nhiều so với tuổi 35 của mình.

Chúng tôi bắt đầu câu chuyện từ những điều xảy ra 2 năm trước đây. Sau một chút đắn đo, nghi ngại, Chứ ngập ngừng nói: “Vợ tôi nghe người ta nói sang đó làm ăn dễ nên ưng cái bụng muốn đi theo ngay. Nó bảo, ở bản mình làm vất vả mà vẫn đói nghèo, còn ở bên kia không làm vẫn có ăn. Tôi không tin lời người ta, nhưng vợ nó cứ nhất quyết đi nên tôi đành phải nghe theo”. Vợ chồng Chứ bỏ lại nhà cửa, ruộng nương, dắt theo con gái còn nhỏ tuổi lên đường vào buổi trưa ngày 16-4-2014, mang theo 5 triệu đồng tiền bán 2 chiếc xe máy và tất cả thóc trong nhà. Họ đi theo dấu vết của gia đình người chú đi trước đó nửa ngày đường.

7u0k_16b
Tráng A Chứ. Ảnh: Bích Hằng

Chứ kể tiếp: “Đi bộ một tuần mới đến đất Lào, thỉnh thoảng, tôi cũng gặp người Mông nước Lào, họ chỉ hỏi mày đi đâu, ở đâu đến, thấy mình đói rách, họ cũng không cho cái gì. Dọc đường đi, tối ở đâu là ngủ ở đó”. Giọng Chứ có lúc trầm hẳn xuống, gương mặt thất thần bởi nỗi ám ảnh, sợ hãi những ngày sống khổ cực trên đất khách.

Sang tới đất Lào, vợ chồng Chứ tiếp tục vượt núi, băng rừng đi về phía trước để đuổi theo kịp gia đình người chú mà không biết đích đến ở đâu. Khi số tiền mang theo hết nhẵn, vợ chồng họ rơi vào những ngày tháng đói khổ, cùng cực nhất. “Vợ chồng tôi đi theo đường mòn, làm lán bằng lá chuối ngủ trong rừng. Dọc đường, có người nào thuê cuốc đất, tra lúa thì làm cho họ lấy cái ăn. Những ngày ở bên Lào, chỉ có gạo nấu cơm, không có muối, không có nước. Mấy tháng liền không được ăn miếng thịt, miếng cá nào. Lúc ốm không có thuốc uống, phải hái lá rừng ăn” – Chứ nghẹn giọng.

Những tưởng ở bên Lào, cuộc sống của người dân sung túc hơn, nào ngờ họ cũng nghèo khó, đất đai rộng nhưng việc làm ra hạt thóc, củ khoai, củ sắn không dễ dàng gì. Không có ai chia cho đất rừng làm nương, dựng nhà, vợ chồng Chứ phải sống vật vạ trong rừng, trốn tránh nhà chức trách nước bạn. Còn con gái Tráng Thị Lếnh thì bị lỡ dở việc học. Lúc này cả hai vợ chồng mới “tỉnh mộng”. Chứ nhớ lại: “Sang tới đất Lào, tôi thấy khổ quá đã muốn quay về rồi, nhưng vợ bảo cứ đi vài ngày nữa, đuổi cho kịp gia đình người chú đi trước. Suốt nhiều ngày tìm kiếm vẫn không biết chú đi theo hướng nào, trong khi không còn cái ăn, không có nước uống, tôi thấy khổ cực quá rồi. Con gái tôi nó bảo đang được đi học với bạn bè vui, giờ phải bỏ học, đi vào nơi rừng rú khổ quá. Nó khóc, cứ nằng nặc đòi về. Tôi bảo vợ, sang đây thấy khổ rồi, không đi nữa, về Việt Nam thôi”.

Sau nhiều ngày đi bộ ròng rã, chỉ ăn lá rừng, uống nước suối cầm hơi, cuối cùng cả 3 người cũng tìm về được quê cũ, nhưng chỉ có hai bàn tay trắng. Chúng tôi hỏi Chứ: “Giờ có muốn di cư sang nước Lào nữa không?”. Chứ vội xua tay: “Lúc nào chết mới quay lại tham quan thôi. Giờ đang còn sống tôi nhất định không đi đâu. Tôi đi một lần, khổ lắm rồi”.

8dta_16a
Tráng A Chứ vui mừng mang máy phát cỏ do Nhà nước hỗ trợ về nhà. Ảnh: Bích Hằng

Không đâu bằng quê nhà

Sau hơn 5 tháng “bôn ba” đất khách, lúc quay trở về bản cũ, ngôi nhà của vợ chồng Chứ bị mục hỏng hết. Với tinh thần cộng đồng cao, bà con ở bản Huổi Un đã tới giúp họ dựng lại nhà. “Lúc mới về, không có hạt thóc, hạt gạo nào để ăn, tiền cũng không có. May được bà con và chính quyền hỗ trợ gạo nên nhà tôi không bị đói. Cái thẻ Bảo hiểm y tế vẫn còn. Nhờ nó, những lúc ốm đau, tôi tới trạm y tế để khám và lấy thuốc không phải mất tiền” – Chứ kể.

Nhờ sự giúp đỡ của bà con trong bản, với sự quan tâm của chính quyền xã, gia đình vợ chồng Chứ được hỗ trợ gạo, muối, giống ngô, giống lúa để gây dựng lại cuộc sống. Hôm chúng tôi tới thăm, gia đình Chứ vừa được Nhà nước cấp cho một chiếc máy phát cỏ trong chương trình “Hỗ trợ chuyển đổi nghề (mua sắm máy móc, nông cụ) theo Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20-5-2013 của Thủ tướng Chính phủ”. Chứ vui vẻ nói: “Nhà tôi khổ quá rồi, bây giờ Nhà nước cho cái gì cũng quý. Tôi cảm ơn cán bộ, cảm ơn Nhà nước đã cho tôi máy phát cỏ. Có cái máy này, chúng tôi làm nương đỡ vất vả hơn”.

“Sang Lào phải có nhiều tiền mới sống được. Ở đó, người khổ cũng có, người giàu cũng có. Ai cũng phải làm mới có ăn. Tôi sang đó thấy khổ rồi. Khi có người hỏi, tôi đều nói đừng có mà đi, ở bản mình vẫn hơn”

– Tráng A Chứ nói.

Tại điểm trao nông cụ do Nhà nước hỗ trợ, Trung tá Mùa A Páo, Chính trị viên Đồn BP Mường Pồn và cán bộ xã giúp Chứ khênh cái máy phát cỏ lên xe chở về nhà. Chứ phấn khởi nói, nếu không có sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương và bà con dân bản, có lẽ vợ chồng anh không thể có được cuộc sống như hôm nay. Hai vợ chồng Chứ được nhận lại mảnh nương cũ, năm nay thu hoạch được 15 bao thóc và mua lại được một chiếc xe máy để đi. Điều vui mừng hơn cả là, em Tráng Thị Lếnh, con gái duy nhất của cặp vợ chồng người Mông này được trở lại trường sau thời gian thất học. Chứ ngậm ngùi, nếu gia đình anh không bỏ làng ra đi thì cái Lếnh bây giờ đã học lớp 7, chứ không phải là lớp 5. Vì khi trở về, do còn mặc cảm, nên vợ chồng Chứ không dám cho con gái đi học, sau có chính quyền, nhà trường vận động, em Lếnh mới được trở lại trường.

Trước khi chia tay, Chứ vui vẻ nói với chúng tôi: “Đi mới thấy không đâu bằng làng quê mình. Về quê không còn phải sống chui lủi, trốn tránh như ở bên Lào, bây giờ chỉ lo làm ăn và chăm sóc con khôn lớn. Nếu ai cho tiền, rủ đi sang Lào nữa tôi cũng không đi”. Giờ thì Chứ đã thấm câu ngạn ngữ của người Mông: “Giàu di cư sẽ nghèo, nghèo di cư sẽ chết”.

Bài 3: Trở về từ ranh giới của sự sống và cái chết

Trương Thúy Hằng – Nguyễn Bích

***

Ổn định vùng người Mông di cư tại Điện Biên

13/12/2016 – 9:41

BP – Mường Nhà những ngày lập đông 2016, bên bếp lửa giữa nhà, Vừ A Quyền kể lại cho chúng tôi nghe quãng đời đặc biệt, hồi mà anh ta lưu lạc sang vùng biên giới giữa 3 nước Việt – Lào – Trung Quốc và không chừng có thể đã lạc sang cả Myanmar (khu vực Tam giác vàng). Trong bản Hin Phon, xã Na Tông của huyện Điện Biên, hầu như ai cũng biết về câu chuyện của Vừ A Quyền, bởi lẽ, nó hấp dẫn và ly kỳ hơn cả việc chết đi sống lại của một người Mông trẻ tuổi.

Bài 3: Trở về từ ranh giới của sự sống và cái chết

Sống để trở về

Quyền sinh năm 1990, tức là khi bị dụ lưu lạc xa xứ vào tháng 10-2010, Quyền mới vừa tròn 20 tuổi. 6 năm qua, cơn sang chấn về tâm lý của Vừ A Quyền mới tạm lắng xuống giữa sự bao bọc yêu thương của mái ấm gia đình và bà con làng xóm trên bản cao Hin Phon. Khi trốn nhà đi, Vừ A Quyền mang theo cô gái Mông vừa cưới về làm vợ được 4 tháng là Thào Thị Lìa, cùng với một người anh em khác mới 18 tuổi là Vừ A Tà và chú ruột của Tà nữa. Cả 4 người lặng lẽ rời bỏ quê hương chỉ sau một cú điện thoại gọi hú họa từ bên kia biên giới, vì nghĩ rằng, sang bên đó có thể làm giàu.

itr3_15a
Vừ A Quyền và vợ bên bếp lửa.

Từ nhà đi đến cửa khẩu Lào Cai, nhóm 4 người của Vừ A Quyền được đón lên xe ca đưa qua Trung Quốc và đi mãi sau hai ngày đường liên tục mới tới một nơi hoang vu mà họ không biết là ở đâu. Sau này, dựa vào bản tường trình của Quyền, các lực lượng chức năng nhận định rằng, rất có thể địa điểm nơi họ tới là vùng biên giới giáp ranh giữa Trung Quốc và Myanmar, nơi có căn cứ trú ngụ của các lực lượng phiến quân Myanmar. Quyền và 2 người đàn ông trong nhóm bị đưa vào một doanh trại mà họ không rõ là của nhóm vũ trang hay lực lượng quân sự nào, chỉ biết là họ phải sống tập trung trong trại, mặc quần áo giống như quân phục, hàng ngày luyện tập thể lực và các bài võ tay không với gậy gộc và lao động trên các cánh đồng gần đó. Bữa ăn trong trại chủ yếu cơm với bí đỏ và ớt.

Điều thất vọng lớn nhất của Quyền lúc đó là anh bị chia tách với vợ. Quyền chỉ biết vợ anh ở trong một khu dân cư sản xuất nông nghiệp gần đó và cũng phải lao động rất nặng nhọc. Cuối tuần, họ mới được gặp nhau một lần. Tất cả mọi người trong nhóm đều cảm thấy hẫng hụt, choáng váng vì bỗng nhiên rơi vào hoàn cảnh trớ trêu, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, lại không biết tương lai của mình sẽ ra sao. Điều họ lo sợ nhất là có thể đã bị bắt cóc vào một nhóm phiến quân đa sắc tộc, không ai biết ai và buộc phải tham gia chiến tranh.

Điều đó càng nung nấu ý chí quyết tâm tìm cách trở về quê hương của Quyền và các thành viên trong nhóm. Nhưng muốn thực hiện được không phải dễ, vì nếu bị lộ, họ có thể bị bắt và lao động khổ sai giống như một số người trong trại mà họ được chứng kiến. Một kế hoạch chạy trốn đã được vạch ra, nhưng cũng phải mất tới nửa tháng sau đó, họ mới tìm kiếm được cơ hội. Thừa lúc những người trông coi trại lơ là, nhóm của Quyền chạy thoát vào con đường rừng mà họ để mắt thám thính và lên dự tính trước đó, sau khi đã đón vợ Quyền mà không ai biết. Sau mấy ngày lặn ngụp trong rừng, không có thức ăn, nước uống, sức gần như đã kiệt, nhưng mọi người đều cố gắng động viên nhau chạy thoát qua biên giới sang Trung Quốc.

Vừ A Quyền cho biết, lúc chạy ra khỏi trại, chỉ sợ bị bắt lại và bị tù đày. Chính nỗi sợ hãi đó khiến họ phải quyết tâm bằng mọi giá vượt qua núi non hiểm trở và tìm đến một khu dân cư giáp biên của Trung Quốc. Tại đây, Quyền đã dành toàn bộ tiền của cả nhóm cho Vừ A Tà và chú của Tà tìm đường về Việt Nam trước, còn mình và vợ ở lại làm thuê kiếm tiền về sau. Ròng rã 3 tháng trời, Vừ A Quyền và vợ làm thuê kiếm tiền lần hồi, có việc gì làm việc đó, kể cả thu hoạch ngô, cạo mủ cao su… mỗi lần có tiền lại lên xe đi một đoạn đường, cuối cùng họ cũng về tới tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và tìm đường về Lào Cai, Việt Nam.

584e527f8080cfb174000115
Vừ A Tà, hiện đã có vợ con sau ngày vượt biên trở về. Ảnh: Bích hằng

Đầm ấm mái nhà xưa

Khi kể lại câu chuyện cho chúng tôi nghe, Vừ A Quyền nói, nhiều năm sau ngày trốn thoát trở về, anh vẫn còn ám ảnh bởi những giấc mơ kinh hoàng. Anh mơ thấy mình lạc trong rừng, đi mãi trên những con đường càng đi càng xa mà không biết sẽ đi về đâu và bao giờ được trở về nhà. Quyền cho biết thêm, khi trả những đồng tiền xe cuối cùng kiếm được từ việc làm thuê đến kiệt sức, anh cùng vợ về tới Pom Lót, Điện Biên và đi bộ về nhà với sức cùng lực kiệt. Mệt mỏi và rệu rã trong những tháng ngày khó nhọc, giờ đây Quyền cảm thấy cuộc sống thanh bình trong mái nhà xưa ở bản Hin Phon thật là quý giá đối với anh. Anh nói: “Mẹ già là người đón tôi khi tôi trở về nhà, bà bảo, con về được đến đây, tốt quá rồi. Mẹ tôi cứ tưởng tôi đã chết ở đâu đó nơi xứ người”.

Vừ A Quyền tìm kiếm một lát, tay run run đưa cho chúng tôi xem bức ảnh cũ mờ của cha anh chụp trong khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ. Khi đó, cha anh cũng như bao người khác trong cộng đồng các dân tộc Tây Bắc đã tham gia vận tải chiến dịch, làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Vừ A Quyền luôn trân trọng bức ảnh đó. Trong nhà anh, giờ chỉ có mẹ và vợ không nói được tiếng phổ thông, còn 5 đứa em của Quyền đều được đi học. Anh bảo, chúng không thể có những lầm lạc ngây thơ như tuổi 20 của anh từng trải qua.

Trưởng bản Hin Phon Mùa A Phi cho chúng tôi biết, Vừ A Quyền là một chàng trai mạnh mẽ và cởi mở. Từ khi trở về lại bản làng, Quyền thường kể lại những gì đã trải qua suốt quá trình lưu lạc để ngăn nhiều người khác muốn vượt biên ra nước ngoài. Vừ A Quyền cũng sẵn sàng theo chân những cán bộ tuyên truyền phổ biến pháp luật tới các vùng biên giới khác của Điện Biên để kể lại câu chuyện của mình, giúp những người nào có ý định bỏ trốn hãy từ bỏ con đường lầm lạc này. Vụ lúa năm nay, cả nhà Quyền 9 nhân khẩu thu được 80 bao thóc, khoảng 4 tấn thóc tươi, đủ ăn sung túc quanh năm. Anh không bao giờ quên được hình ảnh khiến mình trào nước mắt là dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” in trên cổng chào của cửa khẩu khi anh bước chân trở lại quê hương. Giá trị của sự sống vượt lên cái chết mà Quyền đã trải qua giúp anh trân trọng mái nhà mình hơn tất cả.

Quyền bảo, những người Mông trong dân tộc mình vốn là những người thường phải nhìn thấy tận mắt mới tin, những lời nói có khi khiến họ nghi hoặc, cho nên anh phải lấy cả cuộc sống của mình ra để chứng minh rằng, bỏ ra nước ngoài sẽ đối mặt với nguy hiểm như thế nào. Vừ A Tà, thanh niên Mông đi cùng Quyền ngày đó cũng đã trải qua một hành trình để đời. Hỏi gì Tà cũng chỉ nói khổ lắm, sợ lắm. Có một điểm chung là, trong khi quanh bếp lửa trong nhà có rất nhiều người quần tụ, thì những đứa trẻ chỉ vài tuổi luôn bám riết lấy cha của chúng để ngồi trong lòng. Sự bình yên đã được ghi dấu ở Hin Phon. Bao năm qua, không có ai còn bỏ bản ra đi nữa!

Bài 4: Huổi Khon – Vết thương đã lành

Trương Thúy Hằng – Nguyễn Bích

***

Ổn định vùng người Mông di cư tại Điện Biên

20/12/2016 – 22:36

BP – Chúng tôi tới Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Chà, Điện Biên vào một buổi sáng trong trẻo, khi khói bếp nấu cơm sớm đi nương của bà con vẫn còn vấn vít trên mái tranh. Khung cảnh bình yên của Huổi Khon bây giờ hoàn toàn khác xa với những năm trước đây, khi vùng đất này bị xáo trộn, bất ổn bởi những lời tuyên truyền xằng bậy, hoang đường…

Bài 4: Huổi Khon – vết thương đã lành

Huổi Khon nhức nhối một thời

Huổi Khon hiện có 56 hộ dân chủ yếu là người Mông với 332 khẩu đều không phải là người dân bản địa. Họ di cư từ Lào Cai, Sơn La và những vùng đất khác tới đây từ thập kỷ 90 phát rừng làm nương, lập bản.

Trưởng bản Sùng A Kỷ, dáng người thấp đậm, chắc nịch, vui vẻ tiếp chúng tôi trong ngôi nhà gỗ thoáng mát, sạch sẽ của gia đình. Ông là một trong số những người Mông đầu tiên di cư tới Huổi Khon lập nghiệp. Với thâm niên 11 năm làm trưởng bản, ông Kỷ nhớ rất rõ những dấu mốc lịch sử quan trọng của cộng đồng người Mông ở đây. “Cuộc sống của chúng tôi trong những năm đầu tới đây rất khó khăn, chật vật. Không có đất canh tác, không có hạt giống, không có muối để ăn, nhà nào cũng nghèo đói lay lắt. Nhà nước phải hỗ trợ muối, gạo chống đói. Năm 2004, Nhà nước mở đường 4H chạy qua xã Nậm Kè. Tới năm 2008 mới có đường từ xã vào bản. Từ đó, việc đi lại đỡ khó khăn hơn. Đến năm 2005, chúng tôi được làm hộ khẩu, chính thức trở thành người của xã Nậm Kè” – ông Kỷ chia sẻ.

cdb3_15b
Trưởng bản Sùng A Kỷ rất hài lòng với cuộc sống hiện tại. Ảnh: Bích Hằng

Nhìn lại chặng đường đã qua, ông Kỷ bảo rằng, trong ngót 20 năm lập bản, người dân Huổi Khon từng phải đối mặt với không ít thử thách, khó khăn. Có thời kỳ, cả bản lo âu, bất ổn vì một số đối tượng xấu đến đây phá phách, đe dọa, lôi kéo họ theo bọn chúng “lập nước xưng vua”.

Cho tới tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyện đó, ông Kỷ vẫn còn cảm thấy ái ngại: “Năm 2007, thằng Sùng Vả Mình nghe kẻ nào đó xúi giục đã kêu gọi mấy thằng thanh niên lười làm, ham chơi tụ tập xưng vua. Ban ngày, chúng kéo lên rừng tập võ, tập bắn súng. Tối đến, chúng về bản tìm cái ăn, lôi kéo, dụ dỗ bà con đi theo. Không biết thằng Mình lấy ở đâu được khẩu súng AK. Nó rất hung hãn nên mọi người đi làm nương cũng sợ. Lúc tối trời, không ai dám ra khỏi bản. Nó lôi kéo người chú là Sùng A Cha đi theo không được, đã bắn ông ấy trúng vào tay. Chúng tôi báo, công an lên bắt thì nó trốn vào rừng mất. Ngày hôm sau, nó quay lại đốt cháy hết 2,5 tấn thóc của chú nó vừa thu hoạch để trên lán ở nương. Lúc đó, mỗi nhà trong bản phải giúp ông Cha 1 bao thóc để ăn. Còn thằng Mình trốn đi Trung Quốc tới giờ không thấy về. Nó đi rồi, bà con mới được sống yên ổn”.

Ông Kỷ bảo, hồi thằng Mình làm loạn không có điện thoại để liên lạc ra ngoài, muốn xuống xã báo cho cán bộ cũng không kịp. “Còn bây giờ, tôi có số máy điện thoại của các ban, ngành rồi. Có việc gì là gọi điện báo ngay. Thằng Mình có quay về bản lôi kéo, dụ dỗ bà con là tôi bắt luôn” – ông Kỷ quả quyết chắc như đinh đóng cột.

Một vụ việc khác khiến Huổi Khon trở thành “điểm nóng” gây hoang mang trong bà con dân bản xảy ra những ngày đầu tháng 5-2011. Thời điểm đó, bản làng nhỏ thanh bình này bỗng trở nên náo loạn khi hàng ngàn người Mông ở khắp nơi đổ về làm lán trại trên khu đồi trọc ở ngã ba Huổi Khon. Họ túc trực ở đây vì bị lôi kéo, lừa phỉnh rằng vua Mông sẽ xuất hiện, ban phép lạ, đưa lên trời sống sung sướng, ai theo thì sống, ai chống thì chết… Với những lời gian dối, lừa gạt như thế, hàng nghìn người Mông từ Sơn La, Hà Giang, Lai Châu, thậm chí cả trong Tây Nguyên đã tin theo. Người già, phụ nữ, trẻ em dắt díu nhau đổ về Huổi Khon chờ vua Mông.

Sau khi lừa phỉnh được hàng ngàn người dân, những kẻ cầm đầu mới lộ rõ bản chất lừa đảo, gây rối, kích động. Chúng thiết lập các trạm gác trên con đường độc đạo vào bản Huổi Khon. Tại các trạm gác, thanh niên được trang bị hung khí chốt chặn, ai muốn ra vào Huổi Khon đều phải được sự đồng ý của chúng, tất nhiên là sau khi đã bị khám xét cẩn thận. Chúng xúi giục người dân không hợp tác với cán bộ Nhà nước, chính quyền sở tại…, đồng thời loan tin vu vạ bị đàn áp.

Nhắc lại chuyện này, ông Kỷ bức xúc: “Họ nói rằng, vua Mông sẽ xuất hiện thành lập Vương quốc Mông tự trị, ai đi theo sẽ được sống sung sướng như trên thiên đàng… Những người nhẹ dạ tin như vậy, còn tôi thì không. Tôi khuyên bà con đừng nghe kẻ xấu tuyên truyền. Cứ yên tâm sinh sống ở đây thôi. Bà con không nghe tôi, đi theo kẻ xấu là chết hết đấy. Trong số cả nghìn người tụ tập ở đấy, chỉ có 5-6 người dân bản tôi nghe theo thôi. Cuộc sống của chúng tôi bị đảo lộn. Họ chặn các ngả đường, không cho chúng tôi đi lại cũng không cho người khác từ ngoài đi vào bản. Bà con muốn đi vào rừng hái rau cũng không được”.

Yên bình đã trở lại

Thực tế, có nhiều hộ gia đình người Mông vì tin vào luận điệu hoang đường của kẻ xấu đã bán hết cả tài sản kéo về Huổi Khon chờ vua Mông tới đón. Kết quả là, sau nhiều ngày ăn ở vật vạ không thấy vua Mông đâu mà chỉ thấy đói, khát, bệnh tật. Trước những hành vi tụ tập đông người, gây rối làm xáo trộn cả một vùng đất, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và cản trở giao thông, chính quyền địa phương đã cử lực lượng chức năng tới vận động, giải thích, khuyên bà con trở về quê hương bản quán, không tin theo lời kẻ xấu. Phần lớn bà con đã hiểu ra vấn đề, thu dọn hành lý về quê. Họ được chính quyền địa phương chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ lương thực, nước uống và tạo điều kiện thuận lợi nhất để bà con về quê. Quả đồi tụ tập đông người được xử lý chống ô nhiễm môi trường. Những kẻ cầm đầu gây rối cũng bị cơ quan chức năng điều tra, xử lý theo đúng pháp luật.

huke_15a
Nhịp sống êm đềm ở Huổi Khon. Ảnh: Bích Hằng

Sau sự cố, người dân Huổi Khon nhanh chóng bắt nhịp lại cuộc sống yên bình vốn có với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và BĐBP. Đồn BP Nậm Kè cử một tổ công tác “ba bám, bốn cùng” với bà con trong bản. ông Kỷ cho hay: “Chúng tôi được Nhà nước hỗ trợ tiền lợp mái nhà, cho vay vốn để xóa đói, giảm nghèo. Nhà nước cũng làm cho bản 3 bể nước sinh hoạt tập trung. Tất cả bà con, kể cả những người tham gia vụ “xưng vương, lập quốc” đều nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước, được hưởng các quyền lợi như nhau” – ông Kỷ cho hay.

Cùng ngồi trò chuyện, anh Sùng A Sinh, Ban công tác Mặt trận bản Huổi Khon cho biết thêm: “Chúng tôi và BĐBP tuyên truyền chính sách pháp luật cho bà con biết, phân tích cái nào sai, cái nào đúng để bà con giữ bản thân mình. Chúng tôi cũng vận động bà con đoàn kết, làm theo đường lối, chính sách của Đảng. Có người lạ mặt hay kẻ xấu về tuyên truyền, nói sai chính sách của Nhà nước, chúng tôi đều thông báo cho BĐBP”.

Sau cơn “sóng gió”, Huổi Khon đã bình yên trở lại. “Bà con dân bản đều chăm chỉ làm ăn, yên tâm sinh sống ở đây. Không còn ai nghe và tin theo những lời lôi kéo, xúi giục của kẻ xấu. Chúng tôi không muốn đi đâu nữa, sống chết ở đây thôi” – Trưởng bản Sùng A Kỷ tâm sự.

Bài 5: Bồi đắp niềm tin lòng người

Trương Thúy Hằng – Nguyễn Bích

***

Ổn định vùng người Mông di cư tại Điện Biên

27/12/2016 – 13:46

BP – Con đường tất yếu để ổn định dân cư, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào Mông nhằm tránh tình trạng di cư ồ ạt là sắp xếp, quy hoạch lại các bản làng. Rất nhiều gia đình, nhiều thân phận đã trải qua những năm tháng chênh vênh tạm cư, không có giấy tờ tùy thân, giờ đây đều đã hài lòng với cuộc sống mới.

Bài 5: Bồi đắp niềm tin lòng người

Neo lại bản mới

Hai bản Hua Sin 1 và Hua Sin 2, xã Chung Chải, Mường Nhé, Điện Biên được thành lập theo Quyết định số 79/QĐ-CP năm 2015 nhằm sắp xếp ổn định dân cư, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh khu vực này.  Dân số 2 bản gồm 89 hộ/534 khẩu, trong đó Hua Sin 2 gồm 44 hộ/253 khẩu, còn lại là Hua Sin 1 với 100% cư dân là dân tộc Mông từ các tỉnh Sơn La, Yên Bái và các huyện thuộc tỉnh Điện Biên di cư đến.

Chính vì thế 2 bản Hua Sin có nhiều người nghiện ma túy, thành phần tôn giáo hỗn hợp, mức nghèo thì muôn màu muôn vẻ. Trong bối cảnh đó, việc thành lập 2 bản tái định cư như cứu cánh cho vùng dân cư đầy biến động này, và quan trọng hơn cả là củng cố lại lòng tin của con người. Sau bao nhiêu lúng túng vô định trong cuộc mưu sinh, giờ là lúc họ cần nhất niềm tin vào sự ổn cư lâu dài.

km6t_15b
Đại úy Lỳ Hừ Cà trao đổi với đồng bào Mông ở bản Hua Sin. Ảnh: Bích Hằng

Chúng tôi cùng ngồi ở giữa bản Hua Sin 2, người phụ nữ Mông gốc Mù Căng Chải, Yên Bái tên là Lù Thị Chu vừa nhặt mớ đậu đũa mọc dại hái trên nương lúa làm bữa trưa, vừa chậm rãi nói chuyện với 2 người đàn ông trong nhà. Một là chồng của chị, ông làm nghề thầy tào và cả đời nghiện thuốc phiện. Cái nghiện di cư cùng họ qua đây từ năm 2009. Một người nữa chính là ông chú họ của bà Chu – người có vai trò quyết định, bởi chính ông đã rủ vợ chồng Lù Thị Chu từ Yên Bái qua Điện Biên tới xã Chung Chải này. Cả 3 người này đều không còn ai thân thích và vướng víu gì ở Mù Cang Chải nữa, đây là vùng đất mới, chưa cần hỏi gì, họ đã nói: “Chắc là ở lại mãi vùng này thôi”.

“Có lẽ, Mù Cang Chải ngày đó mà có đập thủy điện, có nước, có ruộng thì chúng tôi sẽ không đi” – bà Lù Thị Chu nói. Họ nói lý do di cư đơn giản vậy thôi, thiếu ruộng và thiếu nước sinh hoạt, canh tác. Sang Điện Biên với niềm hy vọng lớn, nhưng 7 năm qua, một quãng thời gian đằng đẵng trôi qua mà họ vẫn không có được cuộc sống ổn định và sung túc hơn lúc ở Mù Cang Chải. Lời hứa về ruộng nương tốt và nước ngập tràn trên sông suối của ông chú họ không phải là sự thật. Thời điểm họ di cư sang đây chính là thập kỷ Mường Nhé bị bóc sạch rừng làm nương rẫy bởi làn sóng di cư ồ ạt. Tôi hỏi: “Gia đình bà hiện nay có nương rẫy để làm chưa?”. Bà trả lời: “Thì cũng mượn tạm của chú, của hàng xóm để làm nương, đến mùa trả thóc thôi”. Theo đó, chúng tôi được biết, những khoảnh nương mà họ nói là mượn tạm đó đều do đốt rừng mà có. Chỉ có điều, cả quá khứ ngùn ngụt phá sạch rừng để làm nương giờ không ai muốn nhắc đến nữa.

Ổn cư mới chống được di cư

“Muốn không ai dời làng bản đi nữa, buộc phải sắp xếp ổn định cho cuộc sống và canh tác cho họ” – Đại úy Lỳ Hừ Cà, Đội trưởng Đội vận động quần chúng của Đồn BP Leng Su Sìn giãi bày khi chúng tôi vừa rời khỏi những mái nhà trong bản. Anh là cán bộ Biên phòng vất vả hơn cả từ khi bắt tay vào thực hiện Đề án 79 ở Hua Sin cho đến nay. Anh bảo, người Mông đốt nương làm rẫy thành thạo như họ rèn dao, nhồi nòng súng kíp. Họ tập hợp anh em, phát toàn bộ cây thấp trên khoảnh rừng rộng, đến đêm ào một cái đã hạ hết cây cao to, chả mấy chốc đốt sạch rừng, xót ruột không sao kể xiết. Lực lượng bảo vệ cùng nhân dân sở tại cố gắng hết sức mà không sao giữ nổi. Có những khoảnh rừng khoanh nuôi bảo vệ, đã giao đất, giao rừng mà họ còn phá, mâu thuẫn xảy ra, ẩu đả liên miên. Khoảng cách giữa dân di cư và dân sở tại càng lúc càng xa và vĩnh viễn là mối quan hệ không hữu hảo.

Lúc đưa ra xử phạt hành chính thì những người phá rừng toàn là dân di cư, hộ khẩu không có, lai lịch thì không. Nắm người có tóc chứ chả nắm được anh trọc đầu. Vậy là kéo dài mãi tình trạng mất rừng mà đời sống bà con vẫn cứ bấp bênh, lén lút thế. Giờ là lúc đưa tất cả về trật tự, dành cho họ chứng nhận quyền được hưởng lợi từ rừng già, quyền được mưu sinh trên đất này. Cho người nhập cư thấy họ buộc phải gắn bó lâu dài với nơi đất ở và đất canh tác, lúc đó họ mới nhận thức được việc bảo vệ rừng, để rừng sinh lợi và bảo vệ chính cuộc sống của con người.

Lắng nghe Đại úy Lý Hừ Cà nói, chúng tôi mới vỡ lẽ ra nhiều điều. Nguyên nhân của những cuộc dời đi nhẹ bẫng như không, phải chăng là chẳng có sức nặng nào có thể níu chân họ. Chúng tôi để ý đến một cậu bé vừa tốt nghiệp phổ thông ở bản Hua Sin 2 tên là Mùa A Của. Căn nhà mái tranh của gia đình cậu còn mới và rất đẹp, nhưng Của đã tính đến việc phải thay mái bằng tôn vì sợ cháy, cậu chia sẻ hào hứng về việc sẽ gom đất trồng rau quả, làm chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm đem bán, và có thể học thêm nghề, nếu gia đình lo được chi phí. Chái bếp nhà Của củi chất cao từng bó lớn. Dấu ấn rừng ăn sâu vào cuộc sống của người Mông là thế, nhưng không phải là điều không thể cải thiện được. Mùa A Của đã là thế hệ thứ 2, kịp biết rõ cuộc di cư trầy trật của bố mẹ, nhưng cũng đã bắt kịp thời đại mới. Những người trẻ như Của sẽ tự thân gắn bó với bản làng, đất đai mà không cần đến một cuộc vận động ổn cư khó nhọc nào.

mclv_15a
Trẻ em người Mông ở bản Hua Sin. Ảnh: Bích Hằng

Phải đến mảnh đất ven dòng Nậm Sin này, mới thấy công cuộc sắp xếp ổn định lại vùng người Mông di cư không đơn giản. Ven dòng suối vào bản Hua Sin 1 đã kịp có vườn cam nhà ai xum xuê trái ngọt đang mùa thu hoạch. Nhưng đó chỉ là một nửa tươi sáng của đề án. Nửa còn lại bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là việc quỹ đất đã hết, sự phân chia sao cho đồng đều và hợp lý mới là việc gian nan. Đất của Hua Sin 1 và Hua Sin 2 đều là đất dốc, khó bố trí nhà ở. Một số hộ gia đình làm nhà ngay ở ruộng không chịu vào nơi quy hoạch, vận động cỡ nào cũng không vào khuôn khổ, chỉ nói thích chỗ nào làm nhà chỗ đó, khó lắm thay.

Trước mắt, đề án phải lo được đủ nước sinh hoạt cho cả hai bản. Lỳ Hừ Cà nói, khi anh vận động dân cư vào nơi ở theo quy hoạch, người dân vặn lại rằng, anh có chịu trách nhiệm được đủ nước quanh năm không?. “Giá như tôi có thể đảm bảo được nước thì thôi không ngại gì lấy bản thân ra đảm bảo. Nhưng ở Hua Sin, rừng đã phá sạch, nguồn nước tự nhiên không còn ở thời kỳ dồi dào nữa. Các hộ dân ở trên đỉnh đồi cần phải được chuyển xuống thấp hơn, đất canh tác cần được bổ sung vào dự án để chia thêm cho bà con, bởi vì hiện đang thiếu. Họ cứ thiếu nước, thiếu đất thì chẳng ai giữ được người. Khi niềm tin chưa được bồi đắp thì nếu xảy ra di cư nữa, công lao của bao người sẽ ra đi như rừng Mường Nhé, biến mất trong phút chốc” – Đại úy Lỳ Hừ Cà đầy suy tư với bài toán định cư ở Hua Sin. Trong anh có cả câu chuyện dài về Đề án 79 kể mãi không hết.

Chiều muộn, trên đường về với chúng tôi có những người Mông trong bản cũng từ nương rẫy của họ trở về, chở theo những bao thóc của mùa gặt này. Ngày mới ở Hua Sin phải khởi nguồn từ những mùa gặt mới như thế!

Trương Thúy Hằng – Nguyễn Bích

 

One thought on “Ổn định vùng người Mông di cư tại Điện Biên – 5 bài

  1. Khi người dân đễ bị lừa bịp, thì thường có 2 lý do, thấy ở đây:

    1. Người dân thiếu kiến thức về thế giới bên ngoài.
    2. Đời sống nơi đang ở quá cơ cực.

    Giải pháp là tăng kiến thức, tăng lượng thông tin hằng ngày, cho người dân. Và nâng cao đời sống kinh tế của người dân.

    Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s