Hoàng Thành Thăng Long, quá khứ và tương lai – 3 kỳ

  • Kỳ 1: Ai khai sinh ra thành Đại La ?
  • Kỳ 2: Vì sao Hoàng thành bị chôn vùi?
  • Kỳ 3: Hà Nội ngày sau
Hanoi Citadel.jpg
Di tích trung tâm Tử cấm thành Thăng Long – Di sản thế giới UNESCO

***

TN – Lần theo những chi tiết ghi trong sử sách kết hợp với những tài liệu mới nhất về cổ địa chất, chúng ta có thể hình dung rõ hơn quá trình hình thành, phát triển và lý do bị chôn vùi của Hoàng thành Thăng Long (Hoàng thành); đồng thời cũng cung cấp thêm những căn cứ cho việc phát triển thủ đô…

Ai khai sinh ra thành Đại La ?

Trong Chiếu dời đô bất hủ, Lý Công Uẩn viết:

“…Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời…”.

Nghìn năm trôi qua thời gian đã khẳng định tầm nhìn của Lý Thái Tổ.

Chi tiết “nhạy cảm” trong đoạn trích ở trên là ông đã nhắc đến Cao Biền mà ông trân trọng gọi là “Cao Vương”. Nhiều nhà nghiên cứu lấy làm tiếc rằng áng văn này chưa mạnh mẽ dứt khoát bằng Bình Ngô đại cáo hay Nam quốc sơn hà vì có chỗ “khuyết” đó.

Bởi Cao Biền tuy được sử sách nước ta nhìn nhận theo nhiều cách khác nhau nhưng trước hết ông ta vẫn là một viên quan đô hộ.

Lý Nam Đế là vị vua đầu tiên đóng đô ở nơi mà sau này Lý Thái Tổ dời đô đến, nơi trở thành Thăng Long – Hà Nội 1.000 năm.

Người Việt Nam cho đến nay dù ít dù nhiều đều có nghe những câu chuyện huyền thoại hư hư thật thật về nhân vật này. Chúng đã được ghi lại trong Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh. Người ta bảo Cao Biền thường cưỡi diều giấy đi khắp nơi xem xét các hình thế đất đai sông núi, nơi nào có “long mạch” thì dùng bùa phép yểm đi. Ở nước ta hiện vẫn còn lưu truyền một số sách địa lý phong thủy được cho là do Cao Biền viết, như Cao Biền di cảo, Cao Biền địa cảo tập, An Nam địa cảo lục. “Đời Đường Ý Tông (860 – 873)… Nghĩ đến việc Triệu Đà xưng đế, vua bèn sai Thái sử Cao Biền làm đô hộ An Nam. Khi Biền sắp ra đi, vua triệu vào điện bảo: “Trẫm nghe An Nam có nhiều ngôi đất thiên tử, ngươi tinh thâm về địa lý, nên hết sức yểm đi và vẽ hình thế đất ấy đem về cho trẫm xem”. Biền đến An Nam, dạo qua sông núi nào tốt thì đều yểm cả. Biền có làm tờ tấu tâu rằng chỉ có núi Tản Viên là rất thiêng, yểm không được, nên không đụng đến” (trích lời tựa Cao Biền di cảo, dẫn theo Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo VN tập II).Có lẽ do bản năng chống ngoại xâm luôn luôn trỗi dậy mạnh mẽ trong dân gian, nên đi kèm từng chuyện “trấn yểm” của Cao Biền là những sự tích linh thiêng địa linh nhân kiệt làm cho họ Cao phải nể sợ, như chuyện thần núi Tản Viên, sự tích đền Bạch Mã, chuyện Cao Lỗ, sự tích núi Cánh Diều… Không thể xác minh những sách vở được lưu truyền trên có phải là của Cao Biền thật hay không, chỉ biết chắc rằng sử sách Trung Quốc hoàn toàn không ghi những chuyện đó. Nhưng truyền thuyết cũng đã bị đáp trả bằng truyền thuyết.

Chuyện Cao Biền “trấn yểm” cũng gặp phải sự phản kháng quyết liệt của các cao tăng Phật giáo, điều này được ghi lại trong Thiền uyển tập anh, một trong 3 cuốn sách cổ nhất viết từ thời nhà Trần còn truyền bản đến ngày nay (2 cuốn kia là Việt điện u linhLĩnh Nam chích quái). Thiền uyển tập anh đã ghi lại lời của một thiền sư – Trưởng lão La Quý (852 – 936) dặn đệ tử trước khi viên tịch: “Trước kia, Cao Biền xây thành ở Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng đế vương, nên đã đào đứt sông Điềm và những ao Phù Chẩn… đến 19 chỗ để trấn yểm. Nay ta đã khuyên Khúc Lãm lấp lại như xưa…”.

Nhưng chính sử thì “án phải tự hồ sơ”, nên đã có cái nhìn hơi khác.

Không giống như Sỹ Nhiếp (người có tổ tiên 6 đời ở nước ta, nên thực chất là một người Việt), Cao Biền chính hiệu là một viên quan phương bắc cử sang đô hộ. Họ Cao làm quan có công với nhà Đường, được thăng chức Tần Châu Phòng ngự sứ trước khi được sai đi “đánh dẹp” ở phương nam và cử làm “Tĩnh hải quân Tiết độ sứ” cai trị nước ta. Tuy nhiên, sau khi phá xong quân Nam Chiếu, Cao Biền đã có động thái rất không bình thường. Sử Trung Quốc không hề ghi Cao Biền được phong vương, nhưng chính sử nước ta lại viết: “Cao Biền giữ phủ xưng vương, đắp La Thành vòng quanh 1.982 trượng lẻ 5 thước, thân thành cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước, bốn mặt thành đắp các nữ tường nhỏ trên bốn mặt thành cao 5 thước 5 tấc, lầu nhìn giặc 55 sở, cửa ống 6 sở, cừ nước 3 sở, đường bộ 34 sở. Lại đắp con đê vòng quanh dài 2.125 trượng 8 thước; cao 1 trượng 5 thước, chân rộng 2 trượng, cùng làm nhà cửa hơn 40 vạn gian” (Đại Việt sử ký toàn thư – ĐVSKTT, tập 1, tr.200, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004).

Việc “giữ phủ xưng vương” này đương nhiên không phải do triều đình nhà Đường sai bảo, đây có khả năng là hành động tự ý cát cứ.

ĐVSKTT còn chép rằng, sau khi xây xong thành Đại La, Cao Biền còn thực hiện một kỳ công là đục đá ngầm mở đường biển cho thuyền bè đi lại. “Nay khai đường biển để giúp dân sinh, nếu mình không theo lòng riêng thì có gì khó”, Cao Biền tuyên bố. Còn sử thần Ngô Sĩ Liên của nước ta thì bình luận: “Đó là vì việc làm hợp lẽ cho nên được trời giúp”.

Do lo ngại về mưu đồ cát cứ của Cao Biền, nên đến năm 875 (đời Đường Hy Tông), Cao Biền bị triệu hồi về làm Tây Xuyên Tiết độ sứ. Đến cuối đời Đường, nhân loạn Hoàng Sào, Cao Biền kháng chỉ từ chối đem quân về cứu giá, sau đó tạo phản chiếm giữ Dương Châu. Cuối cùng thua quân triều đình, bị bắt và bị giết.

Vì lẽ đó, cũng như công tâm ghi nhận trong khi cai trị nước ta Cao Biền đã có công xây thành đắp lũy, mở mang giao thông cũng như một số chính sách an dân, ngăn chặn sự nhũng lạm của đám quan lại thừa hành, nên Cao Biền được chính sử Việt Nam có một cái nhìn khá trân trọng.

Lý Công Uẩn gọi Đại La là “đô cũ của Cao Vương”, ngoài lý do nói trên, có lẽ còn có lý do quan trọng khác mà ông muốn nhấn mạnh: Cao Biền là người rất giỏi về địa lý và phong thủy. Chúng ta có thể thấy điều đó đằng sau những chuyện “trấn yểm” mang tính huyền thoại kia.

Nhưng thành Đại La có từ bao giờ? Dựa theo những ghi chép từ lịch sử, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng nó bắt đầu được xây dựng từ năm 621 do Đại tổng quản Giao Châu của nhà Đường là Khâu Hòa thực hiện, gọi là Tử Thành, có chu vi 900 bộ. Kế đó, vào năm 767, Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi đã cho đắp thêm cao hơn, gọi là La Thành. Năm 791, một quan cai trị khác là Triệu Xương đắp lại kiên cố hơn. Năm 808, Trương Chu đắp thêm một lần nữa… Đến năm 866 Cao Biền đến đây “giữ phủ xưng vương” và đắp thành hoành tráng như đã nói. Như vậy là thành Đại La, tiền thân của Hoàng thành Thăng Long, chỉ là thành cũ do các quan cai trị phương bắc dựng lên và mở rộng, làm cho kiên cố dần. Có đúng như vậy không?

Hãy lật lại những trang sử trước nữa. Vào năm 541, theo ĐVSKTT, Lý Bí “dấy binh đuổi giặc (nhà Lương), xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên”.Những người dịch ĐVSKTT ghi chú: “Vị trí của thành Long Biên đến nay vẫn chưa xác định được, có thể ở vùng gần thị xã Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc”. Ghi chú này có liên quan đến chương về Sỹ Nhiếp cũng trong ĐVSKTT, tại đây ghi Sỹ Nhiếp làm Thái thú Giao Châu, “đóng đô ở Liên Lâu (tức Long Biên)”, tuy nhiên những người dịch ĐVSKTT lại ghi chú: “Liên Lâu: cũng thường đọc là Luy Lâu, ở Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, nay còn di tích thành, theo nhiều nhà khoa học, thành Liên Lâu không phải là Long Biên”. Thế thì Long Biên ở đâu?

Lần theo sử Trung Quốc thì sẽ thấy Lương thư ghi rằng: Lý Nam Đế “dựng thành lũy bằng tre gỗ ở cửa sông Tô Lịch” (dẫn theo Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo VN tập II). Đối chiếu với lời của nhà sư La Quý (chú ý: La Quý là người sống cùng thời với Cao Biền) ghi trong Thiền uyển tập anh đã dẫn ở trên “Trước kia, Cao Biền xây thành ở Tô Lịch…”, chúng ta có thể thấy nơi mà Lý Nam Đế đóng đô chính là nơi Cao Biền dựng thành. Thành Long Biên của Lý Nam Đế là tiền thân xưa nhất của thành Đại La. Thành này Lý Nam Đế đã dựng cung Vạn Thọ làm nơi triều hội và xây chùa Khai Quốc tồn tại đến ngày nay (nay là chùa Trấn Quốc). Mãi đến năm 602, Lý Phật Tử còn sai anh là Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên, nghĩa là nó tồn tại suốt hơn 60 năm trước khi bị quân xâm lược phương bắc chiếm giữ.

Có thể dẫn thêm một số chi tiết khác “ẩn” trong sử sách để minh chứng cho điều này, nhưng chừng ấy cũng đủ để khẳng định Lý Nam Đế là vị vua đầu tiên đóng đô ở nơi mà sau này Lý Thái Tổ dời đô đến, nơi trở thành Thăng Long – Hà Nội 1.000 năm. Nó do chính người Việt Nam ta phát hiện, chứ không phải do người Trung Quốc.

Hoàng Hải Vân

***

Khu di tích Hoàng thành Thăng Long – Dấu tích kiến trúc 16 móng trụ gia cố bằng gạch ngói vỡ dầm kỹ, thẳng hàng theo hướng Bắc – Nam, tạo thành kiến trúc có vì 4 hàng chân cột, lòng nhà rộng 5,3m thời Lê. Ảnh Huy Anh

***

Vì sao Hoàng thành bị chôn vùi?

11:24 PM – 27/09/2010
TN – Trong vòng 2.300 năm nay, biển đã dâng thêm 6 mét. Nếu tính từ thời điểm Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long đến nay biển dâng thêm gần 3 mét. Do cha ông ta đã thích ứng với tình trạng này và vì thế Hoàng thành cũ đã bị vùi xuống đất với một độ sâu tương ứng…

Từ những khai quật khảo cổ học về Hoàng thành Thăng Long trong mấy chục năm qua, nhất là cuộc khai quật điển hình là tại 18 Hoàng Diệu, các nhà khảo cổ học và văn hóa xác định:

Ở độ sâu khoảng 1 mét trở lên: chủ yếu là các di tích có từ thế kỷ 19 – 20, gồm các hiện vật thời nhà Nguyễn cùng với một số hiện vật thời Pháp thuộc xen trộn lẫn nhau.

Ở độ sâu từ 1 đến 2 mét: là tầng văn hóa thời Lê – Mạc nằm trong thời gian khoảng 4 thế kỷ (từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18), có pha trộn một ít di chỉ thời Lý Trần và thời Nguyễn, tuy nhiên đó là hiện tượng thường thấy trong khảo cổ học.

Ở độ sâu  từ 2 đến 3 mét: là tầng văn hóa Lý – Trần, kéo dài cũng 4 thế kỷ (từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14), đây là đặc trưng của Văn hóa Thăng Long, giữa văn hóa thời Lý và văn hóa thời Trần được kết nối tương đồng chặt chẽ.

Ở độ sâu từ 3 đến 4 mét: là tầng văn hóa tạm gọi là Văn hóa Đại La, có những di chỉ thuộc văn hóa thời Đường bên Trung Quốc, tương ứng với thời kỳ nước ta bị nhà Đường đô hộ.

Như vậy là, cách mặt đất hiện nay trên dưới 4 mét trở lên, chúng ta đã phát hiện được 4 tầng văn hóa. Tuy có đan xen nối tiếp, nhưng những công trình của thời kỳ sau xây chồng lên những công trình của thời kỳ trước, xưa nhất là thời kỳ Đại La và gần nhất là thời nhà Nguyễn.

Và như vậy cũng có thể nói, cái thành Đại La mà vua Lý Thái Tổ đến tiếp quản để xây dựng và phát triển nên Thăng Long – Hà Nội bây giờ, nay đã bị vùi sâu hơn 4 mét. Còn các phế tích của các cung điện do ông xây dựng thì đã nằm sâu 3 mét dưới mặt đất. Dĩ nhiên đó là cách tính ước lệ dựa trên những khai quật một phần Hoàng thành tại 18 Hoàng Diệu.

Vì sao có sự chôn vùi đó?

Trước hết hãy nói đến những cái hồ của Hà Nội. Hệ thống hồ của Hà Nội tạo thành một bản sắc văn hóa rất riêng, vừa thơ mộng dịu mát vừa trầm mặc sâu lắng, nó là một phần “hồn vía” của thủ đô. Tiến sĩ địa chất học Hoàng Ngọc Kỷ cho biết, Hà Nội hiện nay có khoảng 110 cái hồ lớn nhỏ. Nhưng theo ông Kỷ thì trừ hồ Tây ra còn hầu hết đều là hồ nhân tạo, vì Hà Nội là khu vực ven sông, mà theo địa chất học thì trầm tích khu vực ven sông không thể tạo ra các hồ tự nhiên, trừ hồ móng ngựa. Hệ thống hồ nhân tạo này có liên quan đến việc Hoàng thành bị chôn vùi.

Cách đây không lâu Thanh Niên có đăng loạt bài Dựng nước sau cơn đại hồng thủy, trong đó có giới thiệu những kết quả khảo sát địa chất do tiến sĩ Hoàng Ngọc Kỷ công bố cho thấy diện mạo đất nước thay đổi cùng với quá trình biển tiến và biển thoái trong thời kỳ địa chất đệ tứ của Việt Nam. Quá trình này là cũng tác nhân sâu xa làm biến đổi khu vực Hoàng thành.

Sau khi biển tiến đột biến làm mực nước dâng lên 6 mét so với trước đó, tức là cao hơn 3,5 mét so với mực nước biển hiện nay và “nằm lì” trong khoảng thời gian 1.015 ± 80 năm, biển bắt đầu thoái. Sau khi thoái đột biến rồi xuống dần đến cực tiểu vào thời gian cách đây 2.300 năm với mực nước – 6 mét so với mặt biển hiện nay, biển bắt đầu tiến, tiến mãi cho đến ngày nay. Điều này có nghĩa là trong khoảng 2.300 năm qua, nước biển đã dâng thêm 6 mét. Ngày nay, thế giới đang đối phó với tình trạng biển dâng, tình trạng này không có gì khác là quá trình biển tiến bắt đầu từ 2.300 năm trước đang nối tiếp.

 

Những cái hồ của Hà Nội chính là hệ quả của việc lấy đất đắp đê và lấy đất tôn nền mà có. Thời gian qua đi, công trình sau được xây chồng lên công trình trước. Đó là lý do khiến cho Hoàng thành bị chôn vùi, biến thành 4 tầng văn hóa xếp chồng lên nhau như đã thấy.

Với tốc độ như vậy có thể ước tính được là vào thời điểm Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, mực nước biển thấp hơn bây giờ khoảng gần 3 mét, tức là đã dâng thêm hơn 3 mét so với giai đoạn cực tiểu. Đồng bằng Bắc Bộ cũng rộng hơn đáng kể so với hiện nay.

Vì vậy, nhận xét của Lý Công Uẩn về thành Đại La: “Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm” là hoàn toàn chính xác. Do mực nước biển thấp nên đáy sông Hồng cũng thấp xa so với hiện tại. Lũ lụt tuy có xảy ra (vì trong quá trình biển tiến) nhưng tần suất thấp. Đọc lịch sử thời Lý ta ít thấy lũ lụt. Gần 100 năm sau khi dời đô đến Thăng Long, đến đời Lý Nhân Tông (1107), con đê đầu tiên – đê Cơ Xá, mới được đắp.

Sang thời Trần, lũ lụt xuất hiện với tần số cao hơn. Ngay từ thời Trần Thái Tông, vào năm 1236, lũ đã tràn vào cung Lệ Thiên. Năm 1238, lũ tràn vào cung Thưởng Xuân. Năm 1245, vỡ đê Thanh Đàm, “nước sông tràn ngập, rắn, cá chết nhiều”. Đến đời Trần Thánh Tông, năm 1265, vỡ đê Cơ Xá, “người và súc vật chết đuối nhiều”. Năm 1271 “nước to, các đường phố ở kinh đô phần nhiều phải đi lại bằng thuyền bè”… Do đó, Từ thời nhà Trần, việc đắp đê và hộ đê được chú trọng. Năm 1248, Trần Thái Tông đã đặt ra cơ quan Hà đê, có chánh, phó sứ. Hệ thống đê quai vạc được coi là bước ngoặt trong lịch sử thủy lợi Việt Nam, được bắt đầu đắp từ triều đại này. Ngoài việc đắp đê ngăn nước sông được mở rộng ra khắp các vùng đồng bằng, nhà Trần còn bắt đầu cho đắp đê ngăn nước mặn để bảo vệ mùa màng của dân.

Đến thời Lê, Nguyễn, công việc đắp đê tiếp tục được mở rộng. Hệ thống đê điều là công trình vật chất vĩ đại nhất được tiền nhân để lại cho hậu thế, là kết quả của biết bao tâm sức trách nhiệm của nhiều thế hệ. Ngày nay, sự an nguy của thủ đô Hà Nội trước thiên tai đang phụ thuộc rất lớn vào hệ thống đê điều được xây dựng từ ngàn năm trước.

Riêng đối với thành Thăng Long – Hà Nội, ngoài hệ thống đê bảo vệ, cha ông ta còn từng bước nâng cao mặt bằng để thích nghi với thiên nhiên.

Những cái hồ của Hà Nội chính là hệ quả của việc lấy đất đắp đê và lấy đất tôn nền mà có. Thời gian qua đi, công trình sau được xây chồng lên công trình trước. Đó là lý do khiến cho Hoàng thành bị chôn vùi, biến thành 4 tầng văn hóa xếp chồng lên nhau như đã thấy.

Theo tính toán, tốc độ biển dâng bình quân trong 2.300 năm qua là 2,6 mm/năm. Biển dâng tạo trầm tích sông, khiến cho lòng sông cao dần lên, sinh ra lũ lụt.

Cha ông ta không hề biết mình đang sống trong quá trình biển tiến, nhưng những gì mà tiền nhân đã làm chính là việc ứng phó khá hữu hiệu với tình trạng biển dâng mà ngày nay nhân loại đang tiến hành bằng các chương trình quốc tế tốn nhiều tiền của.

Nghìn năm trước để lại cho nghìn năm sau một di sản đồ sộ cùng những bài học, những vấn đề để cho con cháu giải quyết, tiếp bước…

Hoàng Hải Vân

***

dienkinhthien1
Khu di tích Hoàng thành Thăng Long -Đường thoát nước thời Trần chạy theo chiều Đông – Tây dài hơn 16m, gạch xây có một vài viên in chữ Hán “Vĩnh Ninh Trường” là loại gạch có chuẩn thời Trần. Ảnh Huy Anh

***

Hà Nội ngày sau

12:04 AM – 29/09/2010
TN – Thích nghi với nước dâng: đê điều. Tránh nước dâng: đi lên vùng cao. Quá khứ hay tương lai đều phải làm như vậy, nhân loại chưa có cách khác.

Những biến đổi của thiên nhiên là khôn lường, con người dự đoán mưa bão trong 24 giờ thôi đã chưa chắc chính xác, huống hồ chuyện trăm năm, chuyện ngàn năm. Chỉ hơn 4.000 năm, biển đã một lần tiến đột biến và một lần lùi đột biến. Trong 500 năm tới, trong 1.000 năm tới, biển sẽ có tiến thoái đột biến hay buồn tình đứng yên không ai có thể biết trước được.

Nếu quá trình biển tiến vẫn giữ tốc độ đều đều triền miên như 2.300 năm qua (bình quân mỗi năm dâng thêm 2,6 mm), theo tính toán của TS Hoàng Ngọc Kỷ, thì sau 500 năm nữa mực nước biển sẽ cao thêm 1,3m, khi đó diện tích đồng bằng Việt Nam sẽ thu hẹp lại chỉ còn 1/2 diện tích đồng bằng hiện nay.

Cũng với tốc độ này, 1.500 năm sau mực nước biển sẽ dâng thêm 3,9m, khi đó diện tích đồng bằng chỉ còn bằng 1/10 diện tích hiện nay, riêng đồng bằng Bắc bộ sẽ còn bằng xấp xỉ diện tích thời kỳ Hùng Vương.

Cần chú ý, trong loạt bài Dựng nước sau trận đại hồng thủy chúng tôi đã đề cập: vào thời Hùng Vương, mực nước biển cao hơn hiện nay 3,5m, diện tích đồng bằng khi ấy chỉ bằng 1/10 diện tích bây giờ. Nay ước tính khi biển dâng thêm 3,9m mà diện tích cũng còn bằng xấp xỉ 1/10, đó là ước tính thêm cả phần trầm tích do các dòng sông tạo ra trong quá trình biển dâng.

Do vậy, nếu tính luôn cả phần trầm tích thì sau 1.000 năm nữa, khi mực nước biển dâng thêm 2,6m, diện tích đồng bằng Việt Nam cũng sẽ còn rất bé, nếu không có những giải pháp đối phó. 1.000 năm qua, tiền nhân đã đối phó bằng hệ thống đê bao và nâng cao mặt bằng. Nhưng trong tương lai, hệ thống đê bao không còn đủ nữa, chưa nói nó đang ẩn chứa những hiểm họa khôn lường.

Thế giới cũng có nhiều bài học quý giá, như Amsterdam của Hà Lan. Khu vực này trước đây đất thấp lũ lụt triền miên người ta đã đắp một con đê ngăn lũ, sau đó xây dựng thành phố mang luôn tên con đê đó. Amsterdam ngày nay là một thành phố hiện đại nằm dưới mực nước biển tới 1m. Hiện một nửa diện tích nước Hà Lan được bảo vệ bởi hệ thống đê, đập. Việc ngăn biển, lấn biển của Hà Lan đã trở thành một công nghệ được cả thế giới ngưỡng mộ. Nhiều nước và vùng lãnh thổ khác cũng có kinh nghiệm quý báu không những ngăn biển mà còn mở rộng diện tích ra biển như Nhật, Hàn Quốc, Macao, Singapore… Nhưng các thành phố của Hà Lan sẽ phải đối phó như thế nào khi 1.000 năm sau khi mực nước biển sẽ tăng thêm mấy mét nữa, đó vẫn còn là một thách thức.

Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội giữa lúc các cơ quan T.Ư và Hà Nội bàn các phương án quy hoạch thủ đô trong tương lai sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết mở rộng Hà Nội. Đã và đang có rất nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà khoa học và các nhà quản lý xung quanh chuyện đại sự này.

Dưới góc độ địa chất học, TS Hoàng Ngọc Kỷ nhận xét: “Thủ đô Hà Nội mở rộng về phía tây bao gồm tỉnh Hà Tây và một phần tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phú vừa có đồng bằng thấp, đồng bằng cao, có núi, có đồi, là hoàn toàn đúng. Đây không những là thế địa hình chiến lược phòng thủ chống ngoại xâm nếu chiến tranh xuất hiện mà còn là thế phòng chống lụt bão, đối phó với hiện tượng mực nước biển đang tăng dần gây hiểm họa trong tương lai”. Tuy nhiên, cũng trên tinh thần đó, ông Kỷ cho rằng những đề án phát triển “đô thị ven sông Hồng” lấy kinh nghiệm từ “Đô thị ven sông Hàn” của Hàn Quốc cần phải xem xét lại, bởi cấu tạo trầm tích kỷ đệ tứ của hai khu vực ven sông Hồng và ven sông Hàn không giống nhau (xem thêm: Hoàng Ngọc Kỷ – Địa chất và môi trường địa lý Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2010 – chương 3: Biến đổi mực nước biển trên thế giới và Việt Nam kỷ đệ tứ, nguyên nhân và hệ quả, tr.150 – 184, trong đó có đối chiếu tài liệu về cổ địa chất của bán đảo Triều Tiên).

Từ những di sản và những vấn đề của tiền nhân để lại, chúng ta có thể tham khảo thêm những bài học quốc tế để tìm ra cách xử lý tối ưu cho Việt Nam. Đây là một bài toán có nhiều tham số và đa nghiệm, nhất thiết phải có những nghiên cứu đa ngành.

Kinh nghiệm quốc tế, nhất là kinh nghiệm của Hà Lan cho thấy việc xây dựng hệ thống đê điều mà cha ông chúng ta tiến hành suốt 1.000 năm qua là rất sáng suốt. Dù hệ thống đê điều của chúng ta hiện nay ẩn tàng nhiều nguy cơ, nhưng cho đến nay và cả trong tương lai xa nó vẫn là tuyến phòng vệ cốt yếu để đối phó với lũ lụt ở đồng bằng Bắc Bộ. Chúng ta có thể nối tiếp cha ông và tiếp thu kinh nghiệm của Hà Lan để từng bước hiện đại hóa hệ thống đê điều hiện có và mở thêm các tuyến đê ngăn biển nhằm ứng phó với mực nước biển dâng cao. Giải pháp này đủ để đối phó trong 1.000 năm nữa khi nước biển dâng thêm 2,6m mà chúng ta không mất quá nhiều đất đai. Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho đến cuối đời vẫn đau đáu với vấn đề biển dâng, ông luôn luôn nhắc đến kinh nghiệm Hà Lan và mong muốn Việt Nam sớm có một chiến lược đối phó khả thi nhất.

Ngày xưa cha ông chúng ta kết hợp giữa đắp đê và việc “tôn nền” đối phó với lũ lụt, đó là lý do khiến cho Hoàng thành bị chôn vùi. Sở dĩ phải làm như vậy là do ngày xưa đê thường hay bị vỡ, nếu muốn triệt để tránh lũ thì phải dời đô, mà dời đô thì vô cùng tốn kém nhân tài vật lực, làm khổ dân, làm cạn quốc khố.

Nếu hiện đại hóa hệ thống đê thì Hà Nội trong tương lai sẽ phát sinh vô số những vấn đề cần xử lý. Chẳng hạn như vấn đề thoát nước, cả nước thải và nước mưa. Chúng ta đều biết đường phố Hà Nội (và cả TP.HCM nữa) đều bị ngập mỗi khi mưa lớn, ngập mỗi lúc một thêm trầm trọng. Nguyên nhân một phần do hệ thống thoát nước có từ lâu đời nay đã xuống cấp, tình trạng bê tông hóa mặt bằng không theo một quy chuẩn nào làm cho diện tích rút nước tự nhiên xuống lòng đất bị thu hẹp, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là do đáy sông ngày càng cao làm cho việc thoát nước bị ách tắc. Thử tưởng tượng khi đáy sông Hồng cao hơn mặt bằng Hà Nội, với một hệ thống thoát nước như bây giờ thì điều gì sẽ xảy ra? Tất nhiên là cũng có giải pháp: Amsterdam nằm 1m dưới mực nước biển, thành phố vẫn thoát nước tốt.

“Càng dâng nước càng cao ngọn núi”, câu thơ đó của Tố Hữu là sự tổng kết sinh động kinh nghiệm của tiền nhân. Một nghìn năm sau chưa biết khoa học sẽ phát triển tới đâu, có thể có những phát minh mà chúng ta ngày nay không thể tưởng tượng được, biết đâu con người có thể ở được trên không gian hoặc sống được dưới biển và lúc đó mọi sự tính toán ngày nay đều bị đảo lộn cả, nhưng hãy nhớ rằng con người là một phần vô cùng nhỏ bé của thiên nhiên, chúng ta chỉ có thể cưỡng lại thiên nhiên một chút xíu thôi, về căn bản thì chỉ có thể khôn ngoan mà thích nghi, không chống được.

Hoàng Hải Vân

One thought on “Hoàng Thành Thăng Long, quá khứ và tương lai – 3 kỳ

  1. Em thấy đây là một bài hay.

    Bài này cho em một cái nhìn xa hơn về lịch sử biến đổi khí hậu ở nước ta, từ đó hiểu hơn tình hình hiện tại và tương lai (ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long).

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: