Đối thoại về kinh nghiệm cải cách giáo dục của Phần Lan

English: A Conversation On Lessons from Finland – Finnish education reform

Được thực hiện bởi John Graham – Xuất bản trên Professional Voice, 10(1), trang 46-53, mùa hè năm 2014.

John Graham (JG): Phần Lan được xem là một trong các quốc gia có hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới. Theo ông đâu là các yếu tố giúp hệ thống giáo dục Phần Lan tạo nên sự khác biệt và giúp cho kết quả học tập của sinh viên Phần Lan cao hơn nhiều quốc gia khác?

Pasi Sahlberg (PS): Giới truyền thông nước ngoài có thể cho rằng Phần Lan có hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới nhưng chắc chắn là nhiều người Phần Lan không nghĩ vậy. Khi tổ chức OECD(1) lần đầu tiên công bố kết quả xếp hạng PISA (2) của họ vào năm 2001, rất nhiều người đã ngạc nhiên với kết quả này, trong đó có người dân Phần Lan bởi họ chưa bao giờ đặt mục tiêu có thứ hạng cao trên bảng kết quả PISA. Quan điểm đối với giáo dục tại Phần Lan của các nhà giáo dục cũng như của dân chúng rất khác với tại nhiều khu vực khác, nơi mà các quốc gia cạnh tranh lẫn nhau để xem nền giáo dục nào là tốt nhất. Đối với người dân Phần Lan, trọng tâm của giáo dục là tất cả trẻ em có cơ hội để thành công và mỗi đứa trẻ cảm thấy vui vẻ và khoẻ mạnh ở trường học.

Mặc dù vậy, có một vài yếu tố hiện hữu của nền giáo dục Phần Lan giúp tạo nên sự khác biệt. Ở đây tôi chỉ đề cập đến ba yếu tố.

Thứ nhất, chúng tôi đặt niềm tin mạnh mẽ vào hệ thống giáo dục công, do đó, chúng tôi kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép hoạt động cho bất kỳ loại hình trường học nào. Phần Lan có khoảng 75 trường học độc lập nhưng được ngân sách công tài trợ (ví dụ như các trường thuộc hệ thống Steiner (3), các trường tôn giáo và các trường đào tạo giáo viên đại học), và các trường này vẫn thuộc hệ thống trường công. Chúng tôi làm tất cả những gì có thể để khuyến khích các bậc phụ huynh tự do lựa chọn trường học trong vùng cho con cái họ theo học.

Thứ hai, chúng tôi chèn vào hệ thống giáo dục một quy trình can thiệp sớm và toàn diện để nhận diện và hỗ trợ các học sinh có nhu cầu đặc biệt trong học tập. Mỗi trường học đều phải có một bộ phận mà chúng tôi gọi là “Nhóm phúc lợi học sinh” có trách nhiệm đảm bảo tất cả học sinh trong trường được giúp đỡ và được hỗ trợ đầy đủ. Hiện dịch vụ giáo dục đặc biệt này đang phục vụ khoảng 1/3 tổng số học sinh học chương trình cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9). Nhờ có chương trình này, tỉ lệ học lại của học sinh là rất thấp còn tỉ lệ tốt nghiệp từ chương trình cơ bản đạt gần 100%.

Thứ ba, để thành công trong hai yếu tố kể trên, Phần Lan có một hệ thống đặc biệt về tuyển chọn và đào tạo giáo viên. Vào cuối những năm 1970, Chính phủ Phần Lan đã quyết định nâng cao tiêu chuẩn của nghề giáo viên lên ngang bằng với các nghề đòi hỏi tiêu chuẩn cao khác như nghề dược hay luật bằng cách quy định giáo viên giảng dạy chương trình cơ bản phải có bằng thạc sỹ. Việc đào tạo giáo viên ở Phần Lan được thực hiện dựa trên nhiều nghiên cứu và điều này cho phép chúng tôi nâng cao sự tin tưởng của dân chúng đối với đội ngũ giáo viên và trách nhiệm nghề nghiệp của họ. Giáo viên ở Phần Lan rất có uy tín xã hội, và giảng dạy được xem là một nghề cạnh trạnh đối với nhiều người Phần Lan trẻ. Các trường học ở Phần Lan thật sự là các cộng đồng học tập chuyên nghiệp với quyền tự chủ lớn và được tự do tạo ra các phương pháp tốt nhất để hỗ trợ cho việc học tập của học sinh.

JG: Một trong những nội dung đáng đưa tin từ chương trình khảo sát PISA2012 là kết quả thể hiện của Phần Lan có sự giảm nhẹ so với các năm trước. Giới truyền thông và giới chính trị Phần Lan phản ứng như thế nào trước sự sụt giảm này? Ông có thể lý giải về kết quả này không?

PS: Phần Lan có một hệ thống kiểm soát chất lượng giáo dục thông qua các nghiên cứu và đánh giá quốc gia. PISA chỉ là một công cụ đóng góp thêm vào hoặc để xác nhận các vấn đề có tính quốc gia được nhìn thấy từ kết quả hoạt động của hệ thống giáo dục. Theo đó, các dữ liệu riêng trong nước của chúng tôi đã chỉ rằng nhìn chung có một sự sụt giảm nhẹ từ giữa những năm 2000 trong khả năng đọc và học toán của học sinh, tương tự cũng có sự sụt giảm ở mức độ nhỏ hơn trong bộ môn khoa học. Các cấp chính quyền của chúng tôi đã chỉ ra, khá lâu trước khi kết quả của PISA 2012 được công bố, vào tháng 12 năm 2013, rằng Phần Lan dường như sẽ không đạt kết quả thuận lợi trong kỳ PISA lần này. Báo chí với cách đưa tin thông thường về kết quả PISA 2012 thông qua việc công bố bảng xếp hạng quốc tế này đã kết luận rằng Phần Lan không còn là nền giáo dục đứng đầu thế giới. Còn phản ứng của giới chính trị gia là Phần Lan vẫn đang làm tốt vì vẫn đứng thứ hai trong nhóm các nước thuộc OECD.

Tuy nhiên tại sao kỹ năng đọc và làm toán của học sinh Phần Lan lại sụt giảm là một câu hỏi quan trọng. Một phần nguyên nhân được lý giải là do có quá nhiều hệ thống giáo dục khác trong OECD đã điều chỉnh chính sách và hoạt động trợ cấp cho giáo dục nhằm nâng cao kết quả xếp hạng PISA của họ. Điều này gần như đã trở thành một hoạt động thông thường là đặt ra mục tiêu cho quốc gia của bạn để rồi nước của bạn lọt vào top 5 vị trí dẫn đầu trên bảng xếp hạng PISA trong tương lai. Đây không phải là những gì Phần Lan làm. Mối quan tâm chính của các trường học Phần Lan thật ra đang chuyển sang nghệ thuật, khoa học xã hội và sự sáng tạo hơn là tăng cường tập trung cho kỹ năng đọc, làm toán và khoa học.

Một lập luận thuyết phục khác nhằm giải thích cho sự sụt giảm trong thành tích học tập của học sinh Phần Lan là xu hướng sụt giảm này được tạo ra phần lớn từ kết quả thể hiện của các học sinh nam. Dữ liệu riêng của tôi cho thấy nếu học sinh nam của Phần Lan đạt kết quả tương đương với học sinh nữ của Phần Lan (giống như ở các nước OECD khác) thì sẽ không có sự thay đổi trong kết quả của Phần Lan trên bảng xếp hạng PISA. Hơn nữa, nếu học sinh nam của Phần Lan làm tốt như học sinh nữ trong các môn đọc, làm toán và khoa học thì Phần Lan sẽ đạt kết quả gần bằng Singapore. Do đó, có vẻ như chúng tôi đang có một thách thức rõ ràng trong việc làm cho các học sinh nam có hứng thú học tập hơn.

JG: Một cách bao quát hơn, tác động của bảng xếp hạng PISA có ảnh hướng sâu sắc và ngày càng gia tăng đối với lĩnh vực giáo dục tại Úc và nhiều quốc gia khác. Sự thụt lùi trong kết quả PISA 2012 của các học sinh 15 tuổi của Úc đã được các cấp chính quyền trên toàn quốc dùng để lý giải cho các kế hoạch cải tổ giáo dục ưa thích của họ. Tôi cũng xin lưu ý rằng gần đây có một lá thư của một loạt các cơ sở giáo dục trên khắp thế giới cũng như của các tổ chức khác đã được gửi đến OECD để lên án những tác động tiêu cực của chương trình PISA đối với việc học tập trong các nhà trường. Ông có quan điểm thế nào về PISA, về ảnh hưởng ngày càng gia tăng của nó và việc các chính phủ sử dụng nó để lí giải về các cải tổ của họ?

PS: Nước Úc nên thận trọng không nên kết luận quá nhanh về kết quả PISA của họ. Một số các “đối thủ” mới đã tham gia vào PISA kể từ khi nó được đưa ra vào năm 2000 và do đó bản chất của cuộc chơi đã thay đổi. Một vài trong số các nước mới tham gia như Singapore, Ma Cao, Hồng Kông và Thượng Hải dẫn đầu các bảng xếp hạng của PISA. Điều này rõ ràng làm ảnh hưởng đến vị trí của Úc hay Phần Lan trên bảng xếp hạng toàn cầu này. Chúng ta cũng nên biết rằng tất cả các hệ thống giáo hàng đầu được đề cập ở trên có các hệ thống phụ đạo sau giờ học rất rộng và rất đắt mà hầu hết các học sinh phải tham gia để thoả mãn kỳ vọng của cha mẹ họ.

Câu hỏi của bạn về giá trị của PISA tương tự như hỏi bạn nghĩ gì về lửa vậy! Cả hai đều hữu dụng và mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống của chúng ta nếu chúng ta biết sử dụng chúng. Tuy nhiên không may là PISA thường chỉ giống hộp diêm trong tay một đứa trẻ. PISA chắc chắn gây ra hậu quả tiêu cực ở một số nơi mà nó có quyền quyết định đâu là ưu tiên trong hệ thống chính sách giáo dục quốc gia. Hiện tại có một số nước (bao gồm cả Úc) đang đặt ra mục tiêu trong giáo dục của họ là vươn lên vị trí dẫn đầu trên bảng xếp hạng toàn cầu. Một sự lệ thuộc quá lớn vào việc đạt được các mục tiêu như thế, bằng cách buộc các trường học và các giáo viên tập trung vào một phần nhỏ là thành tích học tập mà quên đi các mục tiêu phát triển cá nhân và việc học tập rộng hơn, có thể tạo ra các tác động đáng lo ngại về sau. Mặt khác, cũng có thể lập luận rằng nếu không có PISA, bản đồ giáo dục sẽ có diện mạo khác. Tôi e rằng chúng ta thậm chí sẽ nhìn thấy nhiều giải pháp thị trường và hiện tượng tư nhân hoá giáo dục công hơn cả những gì đang diễn ra. Chúng ta chắc chắn sẽ không thể nói đến vai trò then chốt của sự bình đẳng, thứ đã đạt được thông qua quá trình xây dựng hệ thống giáo dục thành công như chúng tôi đã làm hôm nay. Và, rõ ràng nhất là, tôi sẽ không đem cuộc phỏng vấn này cho các giáo viên ở Úc đọc nếu không có PISA.

JG: Một trong số kết quả của PISA là nâng các hệ thống giáo dục như Phần Lan, Thượng Hải – Trung Quốc, Hàn Quốc v.v trở thành những ví dụ điển hình cho các quốc gia khác cố gắng học theo. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? Liệu hệ thống giáo dục có thể được chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác?

PS: Thật sự không may là bất chấp những lời cảnh báo từ chính OECD và nhiều nhà giáo dục, trong đó có tôi, vẫn có rất nhiều người muốn lặp lại những nền giáo dục thành công nhất trên PISA với hy vọng tìm ra giải pháp cho những thách thức của hệ thống riêng của họ. Tôi đã vô cùng thất vọng bởi hiểu biết hạn hẹp của mọi người nói chung về những gì PISA thực sự có thể đem lại. Phần lớn mọi người, kể cả các nhà giáo dục, dường như coi PISA là một bảng xếp hạng toàn cầu như kiểu một chiếc nhiệt kế cho biết sức khoẻ của nền giáo dục của bạn tốt hay xấu.

Tuy nhiên OECD nhận thức rất rõ thế nào là một nền giáo dục thành công. Nền giáo dục đó phải có những sinh viên đạt được những thành tích cao trong tất cả các mặt, nó phải có sự bình đẳng ở mức độ cao thể hiện rằng nền tảng kinh tế xã hội của học sinh không phải là dấu hiệu quan trọng cho thành tích mà họ đạt được, nó phải có mức độ nhập học tổng thể cao (bao gồm cả tỉ lệ tốt nghiệp cao), và nó phải đảm bảo cả nguồn lực tài chính và con người được sử dụng một cách hiệu quả để đạt được những kết quả đó.

Có rất nhiều thứ chúng ta có thể học được về những yếu tố này từ các nền giáo dục có “xếp hạng cao”, nhưng bạn không nên nghĩ rằng bằng cách thiết kế lại nền giáo dục của riêng bạn theo ba yếu tố làm nên thành công của Phần Lan thì một thứ sẽ trở nên tốt hơn. Lý thuyết riêng của tôi ở thời điểm này là ở tất cả các nền giáo dục thành công, đều tồn tại các yếu tố xã hội, kinh tế và văn hoá bên ngoài nhà trường có khả năng định hướng, tác động đến thành tích tích giáo dục tương tự như những yếu tố bên trong hệ thống giáo dục. Cuốn sách tiếp theo của tôi, Những bài học vô hình (hay Học tập vô hình), sẽ nói về những yếu tố ẩn đằng sau những thành tích giáo dục này.

JG: Ông từng phụ trách xây dựng ý tưởng và đưa ra các nhóm giải pháp cải tổ giáo dục, những ý tướng mà đã trở thành trọng tâm của hệ thống trường học tại các nước Ăng lô – Sắc xôn như Mỹ, Anh và Úc và được gọi là Phong trào Cải cách Giáo dục Toàn cầu hay gọi tắt là GERM (Global Education Reform Movement). Vậy GERM là gì? Nó có tác dụng không? Tại sao ông nghĩ là các chính phủ và các cấp quản lý giáo dục ở các nước này lại quyết tâm thi hành các chính sách GERM đến thế?

PS: GERM là một lý thuyết về chính sách giáo dục không chính thức mà nhiều học viện chính thống, tổ chức và chính phủ sử dụng như một chương trình chính thức trong việc phát triển giáo dục. Phong trào toàn cầu này bao gồm một số ý tưởng được hoan nghênh như tăng cường tập trung vào việc học tập, thúc đẩy khả năng tiếp cận giáo dục cho tất cả mọi người và nhấn mạnh vào việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng thực tế. Tuy nhiên GERM cũng có các dấu hiệu chỉ ra rằng nó có thể gây hại cho nước áp dụng nó, nó thực hiện cải cách giáo dục thông qua sự cạnh tranh, quá trình tiêu chuẩn hoá, xây dựng trách nhiệm dựa trên nền tảng kiểm tra, các con đường tắt để vào nghề giảng dạy và quá trình tư nhân hoá giáo dục công. Quan điểm riêng của tôi là GERM là một hiện tượng thực tế và nó thành công trong việc tìm ra người sử dụng nó trên khắp thế giới.

Các lý do khiến GERM phổ biến trên toàn cầu bao gồm tính hợp lý thông thường của nó, các ví dụ từ các nước Ăng lô – Sắc xôn, và sự hiện diện ngày càng tăng của các công ty tư nhân trong việc cải tổ trường học. Ảnh hưởng của GERM cho đến nay là gì? PISA, xuất hiện từ năm 2000, rõ ràng cho thấy rằng không một hệ thống học đường nào chịu ảnh hưởng của GERM như Anh, Mỹ, Úc, Niu Di Lân, Canada, Hà Lan hay Thuỵ Điển có cải thiện về thành tích xếp hạng, điều này ngược lại với những hứa hẹn chính sách được nêu ra khi các giải pháp của GERM được lựa chọn như là trọng tâm trong các chương trình cải cách giáo dục quốc gia.

JG: Úc là một trong số các nước sở hữu hệ thống giáo dục tư nhân phát triển nhất thế giới. Hiện có một nỗ lực phá vỡ hệ thống trường công bằng cách giới thiệu các loại hình cơ sở giáo dục tương đương với các trường tư được trợ cấp công hay các trường dạy tiếng Anh. Quan điểm của ông về vai trò của hệ thống giáo dục công là gì? Ông có nghĩ rằng ý tưởng về trường tư được trợ cấp công (hiện nay được chính quyền liên bang gọi là trường công độc lập) là một một ý tưởng hay?

PS: Tư nhân hoá giáo dục công là một trong những mục tiêu trọng tâm của GERM. Nghiên cứu chỉ ra nỗ lực để tư nhân hoá nền giáo dục công hay các mô hình quản trị thay thế đã không mang lại những thay đổi tích cực như mong đợi trong học tập cũng như trong tính hiệu quả như thế nào. Điều này đúng với trường công độc lập ở Mỹ, những “trường tự do” ở Thuỵ Điển và thử nghiệm ở Chi Lê. Tổ chức OECD có một thông điệp rõ ràng tới tất cả những ai đang hy vọng cải tiến nền giáo dục của họ bằng các giải pháp thị trường. Trong báo cáo năm 2012, phần về Bình đẳng và Chất lượng trong Giáo dục, OECD kết luận rằng: “Những người ủng hộ cơ chế cho phép học sinh tự do lựa chọn trường học thường lập luận rằng việc áp dụng cơ chế thị trường cho phép mọi người tiếp cận bình đẳng nền giáo dục chất lượng cao. Tuy nhiên, các bằng chứng không thể hiện điều này, vì việc cho phép tự do lựa chọn và cơ chế thị trường có thể làm gia tăng sự phân biệt. Các hệ thống giáo dục tốt nhất trong khối OECD là những nền giáo dục có sự kết hợp giữa chất lượng và sự bình đẳng.”

Tôi cho rằng việc coi cơ chế lựa chọn trường học là một cách để cải thiện hệ thống giáo dục mang tính đồn đại nhiều hơn là sự thật. Tuy nhiên, câu hỏi ở đây không phải là cho phép lựa chọn hay không cho phép lựa chọn mà là liệu chúng ta có trường học tốt cho tất cả trẻ em hay chỉ cho một số em. Cuối cùng chúng ta cần làm rõ chúng ta quản lý sự lựa chọn của các bậc phụ huynh như thế nào để điều đó không gây hại cho sự bình đẳng.

JG: Hiện nay đang có nhiều trăn trở về nhu cầu cải thiện“chất lượng giáo viên”. Có một loạt các sáng kiến được đưa ra nhằm đặt ra những tiêu chuẩn đầu vào nghiêm ngặt hơn cho nghề này cũng như đề ra những quy trình đánh giá hoạt động giảng dạy của giáo viên chặt chẽ hơn. Ông có quan điểm như thế nào về những lập luận về chất lượng giáo viên này?

PS: Như tôi thấy thì có quan điểm khác cho rằng dạy học là nghề rất dễ. Nói cách khác là ai cũng có thể dạy học nếu như bạn thông minh và có hứng thú làm việc với người khác. Nhưng những gì Phần Lan và Singapore đã làm là xác định giảng dạy là một nghề khó. Nó đòi hỏi phải có kiến thức tổng hợp và các kỹ năng tương tự như các kỹ năng mà các bác sỹ và luật sư sử dụng trong công việc của họ. Tôi hoàn toàn ủng hộ việc nâng cao tiêu chuẩn đầu vào của nghề giáo để nó ngang bằng với các nghề tiêu chuẩn cao khác. Việc kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu vào của nghề giáo sẽ dẫn đến nhu cầu đánh giá chất lượng giáo viên không còn cần thiết, giống như tình hình hiện nay ở Phần Lan và Singapore.

Một suy nghĩ phổ biến khác về chất lượng giáo viên là “chất lượng của một hệ thống giáo dục không thể cao hơn chất lượng giáo viên của hệ thống đó”. Những người tin vào điều này có xu hướng coi giảng dạy như một nghề độc lập, từng giáo viên không có kết nối với các giáo viên khác và với cộng đồng nghề nghiệp chung. Nhưng đối với tôi thì ít nhất việc giảng dạy ở nhà trường phải là một hoạt động tập thể, nơi mà sự lãnh đạo, ước mơ chung và các phẩm chất nghề nghiệp thông thường sẽ giúp ích cho cả tập thể hơn là cho từng thành viên riêng lẻ. Đó là một lý do tại sao sự lãnh đạo trong nhà trường trở thành một yếu tố quan trọng.

JG: Ông có thể lý giải về bản chất và mức độ chuyên nghiệp của các giáo viên Phần Lan không?

PS: Mức độ chuyên nghiệp của giáo viên Phần Lan thể hiện ở bốn cấp độ. Thứ nhất, giáo viên đóng vai trò chính trong việc lên kế hoạch và thiết kế chương trình giảng dạy của họ. Sự tự chủ và trách nhiệm lập kế hoạch được coi như là yếu tố trụ cột của khả năng lãnh đạo và tính chuyên nghiệp của giáo viên.

Thứ hai, giáo viên được tự do lựa chọn phương pháp giảng dạy tốt nhất có thể để đạt được mục tiêu học tập mô tả trong chương trình giảng dạy. Thứ ba, giáo viên chịu trách nhiệm đánh giá và chấm điểm học sinh của họ theo hướng dẫn đã quy định trong chương trình giảng dạy của trường họ. Cuối cùng, tính chuyên nghiệp ở các trường học Phần Lan đòi hỏi giáo viên phải là những nhân tố tích cực trong cộng đồng nghề nghiệp của họ. Việc giáo dục giáo viên dựa trên nền tảng các nghiên cứu học thuật tại Phần Lan tập trung vào bốn khía cạnh chuyên nghiệp nêu trên. Khi đó, sự lãnh đạo tại nhà trường là chất keo kết dính các yếu tố nêu trên vì lợi ích chung của nhà trường.

JG: Phần Lan làm gì để phát triển sự lãnh đạo hiệu quả tại các trường học? Ông trở thành hiệu trưởng của một trường học tại Phần Lan như thế nào? Nhìn chung hiệu trưởng các trường học có hài lòng với trò của họ không?

PS: Phần Lan có một quy tắc rất nghiêm ngặt là hiệu trưởng nhà trường phải có đủ năng lực giảng dạy tại ngôi trường mà họ lãnh đạo. Điều này có nghĩa là một giáo viên toán học cấp hai có thể không được làm hiệu trưởng trường cấp một nếu không có đủ tiêu chuẩn làm giáo viên cấp một. Dựa trên quy tắc đó thì sự lãnh đạo trong trường học mới phát huy hiệu quả. Ở Phần Lan, chúng tôi kỳ vọng rằng hiệu trưởng trường học phải là giáo viên có kinh nghiệm, có phẩm chất cá nhân có thể dẫn dắt các giáo viên khác cũng như ngôi trường của họ. Trước khi nhận chức, các ứng cử viên được lựa chọn phải tham dự một loạt khoá đào tạo kỹ năng lãnh đạo cơ bản tại các trường đại học Phần Lan, họ cũng đã phải có qua một quá trình giảng dạy tốt và có những phẩm chất cá nhân phù hợp.

Hiệu trưởng trường học bây giờ thường có nhiệm kỳ cố định (từ 5 đến 7 năm). Thói quan liêu ngày càng gia tăng và tình hình kinh tế thắt chặt cũng ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của các vị hiệu trưởng. Thường vì các lý do này mà ngày càng nhiều giáo viên có kinh nghiệm có ý định tìm kiếm vị trí lãnh đạo trong nhà trường trước đây giờ quyết định tiếp tục làm công tác giảng dạy.

JG: Liệu có tồn tại cam kết về sự bình đẳng ở mức độ cao trong hệ thống giáo dục Phần Lao không? Các chính sách nào (ví dụ như trợ cấp) và quy trình nào đang được áp dụng để đảm bảo kết quả đầu ra bình đẳng cho sinh viên Phần Lan?

PS: Bình đẳng là nền tảng của hệ thống giáo dục Phần Lan. Từ đầu những năm 1970, các chính sách giáo dục của Phần Lan đã nhằm vào mục tiêu xây dựng một hệ thống mang lại cơ hội giáo dục bình đẳng cho mọi sinh viên để đạt được thành công trong học tập bất kể nền tảng gia đình hay nguồn gốc của họ. Ngày nay, Phần Lan là một trong các nền giáo dục thành công có thành tích giáo dục cao và đạt được sự bình đẳng rộng rãi trên toàn hệ thống.

Có một số nguyên tắc mà Phần Lan tuân theo trong việc tạo ra hệ thống trường học bình đẳng của mình.

Nguyên tắc thứ nhất là bình đẳng trong việc cấp vốn cho các trường học, cụ thể là phân bổ nguồn lực cho các trường học dựa trên nhu cầu thực sự của họ. Điều này gần giống với những gì mà báo cáo của Gonski (6) đề xuấtvới nước Úc.

Nguyên tắc thứ hai là có hệ thống giáo dục đặc biệt, có nguồn lực tốt và toàn diện để có thể hỗ trợ tất cả những ai có nhu cầu hỗ trợ ngay từ sớm và không cần phải có sự phân loại riêng.

Nguyên tắc thứ ba là có một cách thức hệ thống để đưa công tác hỗ trợ thể chất và sức khoẻ của học sinh hàng ngày thành nhiệm vụ của các trường học. Các hỗ trợ bao gồm cung cấp các bữa ăn dinh dưỡng trong trường học, dịch vụ khám sức khoẻ, khám răng và dịch vụ tư vấn dành cho tất cả học sinh.

Cuối cùng, Phần Lan có một chương trình giảng dạy cân bằng dựa trên nhận thức rằng tồn tại nhiều loại trí thông minh trong các lớp học. Sự bình đẳng sẽ gia tăng khi học sinh được tiếp cận các môn học chất lượng cao như nghệ thuật, âm nhạc, giáo dục thể chất và các môn học không chính thức khác.

Phần lớn người dân Phần Lan tin rằng một hệ thống giáo dục công mạnh mẽ là cách tốt nhất để duy trì và cải thiện chất lượng và sự bình đẳng trong giáo dục. Bằng chứng quốc tế cho vấn đề này cũng rất rõ ràng: những nền giáo dục thành công nhất là những nền giáo dục kết hợp giữa chất lượng và sự bình đẳng trong mục tiêu giáo dục của họ, và đồng thời đưa giáo dục trở thành một quyền cơ bản của con người thông qua các dịch vụ công dành cho toàn bộ trẻ em.

PS – Pasi Sahlberg là nhà giáo dục, cây viết và học giả người Phần Lan. Ông hoạt động như một giáo viên, nhà đào tạo giáo viên, nhà nghiên cứu và cố vấn chính sách ở Phần Lan và thực hiện các nghiên cứu về hệ thống giáo dục và cải cách giáo dục trên toàn thế giới. Ông có chuyên môn trong các lĩnh vực cải cách học đường, giáo dục quốc tế, phương pháp dạy và học trong lớp học và lãnh đạo trường học. Cuốn sách bán chạy nhất của ông “Bài học Phần Lan 2.0: Thế giới học được gì từ những thay đổi trong giáo dục của Phần Lan” dành giải Grawemeyer (7) năm 2013. Ông là cựu Giám đốc Trung tâm Hợp tác và Chuyển dịch Quốc tế (CIMO – Centre for International Mobility and Cooperation) thuộc Bộ Giáo dục và Văn hoá Phần Lan đặt tại Helsinki và hiện đang là Giáo sư thỉnh giảng thực tiễn tại Trường Giáo dục thuộc đại học Harvard tại Cambridge, Hoa Kỳ. Thông tin thêm về ông có tại website: pasisahlberg.com và Twitter: @pasi_sahlberg.

Dịch bởi Phương Hạnh – University of Queensland, Australia

—o0o—

Chú giải của người dịch:

[1] OECD (Organization for Economic Co-operation and Development – Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)

[2] PISA (Programme for International Student Assessment – Chương trình Đánh giá Sinh viên Toàn cầu) là một cuộc khảo sát trên phạm vi quốc tế, được thực hiện ba năm một lần, nhằm đánh giá hệ thống giáo dục toàn cầu thông qua việc kiểm tra kỹ năng và kiến thức của các học sinh ở độ tuổi 15. Đến nay, đã có 70 nền kinh tế tham gia vào cuộc khảo sát này.

Kết quả gần nhất của cuộc khảo sát được công bố vào năm 2012.

Khoảng 510.000 học sinh từ 65 nền kinh tế, đại diện khoảng 28 triệu học sinh trong độ tuổi 15, đã tham gia vào cuộc khảo sát PISA 2012 để đánh giá các kỹ năng đọc, toán học và khoa học. Trong số đó, 44 quốc gia tham gia đánh giá khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo và 18 nước tham gia đánh giá hiểu biết tài chính của học sinh.

Trong năm 2015, có hơn 70 quốc gia đã đăng ký tham gia cuộc khảo sát với nội dung chính tập trung vào đánh giá kiến thức khoa học. (Theo website http://www.oecd.org/pisa)

[3] Hệ thống giáo dục Steiner (hay còn gọi là Hệ thống giáo dục Waldorf) được sáng lập bởi triết gia người Áo Rudolf Steiner trên nguyên tắc nhấn mạnh vai trò của sự tưởng tượng trong học tập, tập trung kết hợp phát triển tổng thể trí tuệ, tính thực tế và khả năng nghệ thuật của học sinh (theo https://en.wikipedia.org/wiki/Waldorf_education)

[4] Nguyên gốc của từ là charter school – được định nghĩa là trường hoạt động độc lập với hệ thống trường công nhưng vẫn được ngân sách công tài trợ (theo: https://en.wikipedia.org/wiki/Charter_school)

[5] “School choice” – tạm dịch là cơ chế cho phép học sinh tự do lựa chọn trường học: đây là thuật ngữ được gán cho một nhóm các chương trình học mà cho phép học sinh và gia định họ được quyền lựa chọn trong số các trường học công mà thông thường học sinh được phân vào học dựa trên khu vực nơi ở của gia đình họ (theo: https://en.wikipedia.org/wiki/School_choice#Vouchers)

[6] Báo cáo của Gonski là bản báo cáo về hoạt động trợ cấp cho giáo dục do Chính phủ giao thực hiện vào năm 2010, đứng đầu nhóm báo cáo là doanh nhân David Gonski. Nhóm thực hiện đã nhận được hơn 7000 phản ánh, đến thăm 39 trường học và tham vấn 71 nhóm giáo dục trên khắp nước Úc. Bản báo cáo được đệ trình lên Chính phủ vào tháng 11 năm 2011 và được Chính phủ công bố cùng những phản hồi ban đầu vào tháng 2 năm 2012. Từ đó đến nay, Chính phủ cùng các bang vẫn đang tiếp tục thảo luận về việc sẽ làm gì với những đề xuất từ báo cáo. (Theo: http://www.abc.net.au/news/2012-08-27/whats-in-the-gonski-report/4219508)

[7] Giải thưởng Grawemeyer (Grawemeyer Awards) là giải thưởng do H. Charles Grawemeyer, một nhà tư bản công nghiệp, doanh nhân, nhà sáng chế và người theo chủ nghĩa bác ái lập ra tại trường đại học Louisville năm 1984 với mục tiêu làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Giải thưởng được trao hằng năm trong năm lĩnh vực gồm âm nhạc, khoa học chính trị, tâm lý, giáo dục và tôn giáo (theo http://www.grawemeyer.org).

One thought on “Đối thoại về kinh nghiệm cải cách giáo dục của Phần Lan

  1. Cám ơn Hạnh đã dịch bài này.

    Mình rất thích chia sẻ của ông Pasi Sahlberg, rằng – “trọng tâm của giáo dục là tất cả trẻ em có cơ hội để thành công và mỗi đứa trẻ cảm thấy vui vẻ và khoẻ mạnh ở trường học”.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s