Xây cầu, đường cho người nghèo – 2 bài

Kỳ 1: Sức lan tỏa từ những cây cầu LRAMP

Kỳ 2: Thay đổi tư duy: Một đồng bảo trì bằng ba đồng xây mới

***

Xây cầu, đường cho người nghèo

THÁI LINH Thứ Hai, 06-01-2020, 16:13+ |  Print

Cầu Tân Tây là cây cầu đầu tiên thuộc dự án LRAMP được khởi công trên địa bàn cả nước.

Nằm trong Chương trình xây dựng cầu dân sinh bảo đảm an toàn giao thông vùng dân tộc thiểu số theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Dự án đầu tư xây dựng cầu dân sinh và quản lý tài sản đường địa phương (LRAMP) được gọi là những công trình dành cho người nghèo.

Hợp phần cầu dân sinh là một trong ba hợp phần chính thuộc dự án LRAMP do Tổng cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư. Hiện dự án đang triển khai nhanh một năm so kế hoạch, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giúp người dân những vùng khó khăn dễ dàng tiếp cận với văn hóa, y tế, giáo dục…

Kỳ 1: Sức lan tỏa từ những cây cầu LRAMP

Phá thế “ốc đảo”

Sắp bước sang Tết thứ ba người dân làng Tân Tây (thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) – nơi khởi công dự án cầu LRAMP đầu tiên trên cả nước, được đón Giao thừa bên cây cầu bê-tông vững chắc. Bắc qua sông Bà Rén, cầu Tân Tây dài 197 m, rộng 3 m, có khoảng rộng ở giữa đủ cho hai ô-tô tránh nhau. Đặc biệt, hệ thống lan-can, trụ cổng cầu còn tạo điểm nhấn với hoa văn, kiến trúc đậm nét văn hóa Chăm của vùng đất Thánh địa Mỹ Sơn.

Thong thả vác cuốc về nhà sau buổi làm đồng, ông Phạm Xân, người dân làng Tân Tây vui mừng cho biết: Giờ tôi chỉ cần “đi vèo” chục phút xe đạp là có thể đến trung tâm thị trấn Nam Phước, ra quốc lộ 1 đưa nông sản đi bán. Ngày trước muốn đến những nơi trên, dân làng phải đi vòng qua huyện khác mất gần tiếng đồng hồ, cực lắm!

Làng Tân Tây có 113 hộ, sống dựa vào nông nghiệp nhưng toàn bộ diện tích canh tác lại nằm ở làng Mỹ Long, chia cắt bởi sông Bà Rén. Mãi năm 2001, Tân Tây mới có được cây cầu phao ghép từ thùng phuy và ván gỗ bập bềnh. Năm nào cũng có người té sông nên cầu phao là kỷ niệm buồn với nhiều gia đình có người thân bị ngã đuối nước. Ông Nguyễn Văn Hưng, Phó Chủ tịch UBND thị trấn Nam Phước cho biết: Khi có chủ trương đầu tư xây dựng cầu bê-tông kiên cố, dân làng Tân Tây hết sức phấn khởi, tự nguyện hiến đất tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thầu thi công. Không chỉ phá thế “ốc đảo”, thỏa ước nguyện bao đời của dân làng, cầu Tân Tây còn giúp cho việc buôn bán, đi lại của nhân dân thị trấn Nam Phước và xã Quế Xuân 1, huyện Quế Sơn được thuận lợi hơn.

Câu chuyện giao thông đi trước mở đường, tạo sức lan tỏa để phát triển đang dần thành hình ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số hết sức khó khăn. Đến Tây Giang – một huyện nghèo với 90% là người dân tộc Cơ Tu ở Quảng Nam mới cảm nhận hết được ý nghĩa của những cây cầu LRAMP. Trên đường đất lầy lội, quanh co dẫn vào xã A Dang có một con đường bê-tông đang được gấp rút xây dựng. Ông Hoih Danh, Chủ tịch UBND xã A Dang, huyện Tây Giang cho biết: “Nhờ có cầu Suối R’Xau, cầu A Ranh… người Cơ Tu mới cho con cái đi học hành, buôn bán, giao thương với bên ngoài. Cũng nhờ có cầu, huyện mới quyết định đầu tư cho A Danh con đường bê-tông thuận tiện nối ra trung tâm”.

Cũng tại Quảng Nam, có những công trình kết nối đôi bờ rất nhỏ như Cống Đồng Cốn, Cống Vôi (xã Quế Phong, huyện Quế Sơn) nhưng ý nghĩa mang lại cho bà con nơi đây vô cùng lớn. Ông Hồ Văn Năm, Trưởng thôn Gia Cát, xã Quế Phong, huyện Quế Sơn vui mừng cho biết: Từ ngày có cống Đồng Cốn, bà con trồng keo bán tăng được 1,5 lần giá, lại không mất tiền thuê nhân công vận chuyển nên ai cũng phấn khởi. Giờ lũ về, nước sông Đồng Cốn có dâng lên, bà con cũng không phải nơm nớp lo sợ như trước nữa.

Kết nối đôi bờ

Tại tỉnh Hòa Bình, nhu cầu về các công trình cầu kết nối là rất lớn khi có đến 74,31% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số sống quanh núi và bị chia cắt bởi nhiều sông, suối. Hiện 42 cây cầu LRAMP trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành đi vào sử dụng làm thay đổi đáng kể đời sống của người dân. Chia sẻ niềm vui của đồng bào dân tộc Thái, Mường bên cây cầu Xóm Vé (xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) mới khánh thành, trưởng xóm Đinh Quang Hường cho biết: “Ngay từ khi cầu chưa hoàn thành đã có doanh nghiệp đến ký kết với bà con đầu tư xây dựng vùng trồng củ cải xuất khẩu sang Nhật. Nhưng mừng nhất là giờ bà con không còn phải lội suối, đi bè mảng nữa”. Được biết trước đây, mỗi năm, 266 hộ dân với 1.064 nhân khẩu của Xóm Vé đều bị chia cắt, cô lập bởi 5 – 6 đợt lũ. Muốn vượt qua dòng nước siết sang bờ bên kia chỉ có cách lắp ghép những cây tre, nứa thành bè, cho trẻ con vào túi nylon, vô cùng nguy hiểm.

Ông Bùi Đức Hậu, Giám đốc Sở Giao thông vận tải (GTVT) tỉnh Hòa Bình cho biết: Nhờ tiết kiệm được kinh phí, ngày 25-4-2019 vùa qua, Hòa Bình tiếp tục nâng được tổng số cầu từ 50 lên 55 với tổng mức đầu tư không thay đổi. Tuy nhiên, con số này vẫn là chưa đủ. Tại Hòa Bình, còn rất nhiều điểm ở vùng sâu, vùng xa cần được xây dựng cầu. Vì vậy, thời gian tới, tỉnh mong muốn Bộ GTVT, Tổng cục Đường bộ Việt Nam (ĐBVN) tạo điều kiện để địa phương có thêm những cây cầu mới, giúp giao thông được thông suốt bốn mùa, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tại các vùng khó khăn phát triển.

Hợp phần cầu dân sinh là một trong ba hợp phần chính thuộc dự án LRAMP do Tổng cục ĐBVN làm chủ đầu tư. Từ năm 2016 – 2021, dự án LRAMP đã và đang được triển khai thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh, với mục tiêu xây dựng mới 2.174 cầu dân sinh có tuổi thọ thiết kế 50 – 100 năm. Dự án này có tổng vốn vay Ngân hàng Thế giới (WB) là 245,5 triệu USD (tương đương 5.525,2 tỷ đồng) và vốn đối ứng ngân sách T.Ư là 272,9 tỷ đồng (tương đương 12,1 triệu USD).

Một dự án ý nghĩa

Đặc thù các công trình cầu dân sinh đều nằm trong khu vực thôn, bản, điều kiện địa lý xa xôi, cách trở. Để tiếp cận hiện trường, các đơn vị thi công phải băng rừng, lội suối, di chuyển phương tiện thiết bị, nhân lực rất khó khăn. Có nơi để đi đến địa điểm làm cầu chỉ 8 km nhưng đoàn công tác phải đi bộ hết 8 tiếng đồng hồ. Ông Nguyễn Trung Sỹ, Cục trưởng Quản lý Xây dựng Đường bộ cho biết: Rút kinh nghiệm từ dự án xây dựng 186 cầu treo dân sinh trước đây, ngay trong giai đoạn đầu triển khai, Tổng cục ĐBVN đã tổ chức các đoàn khảo sát vị trí xây dựng cầu với sự tham gia của chính quyền địa phương, người dân bản địa để có giải pháp xây dựng phù hợp. Làm cầu dân sinh cũng giống như làm từ thiện nên các nhà thầu thi công luôn trên tinh thần tiết kiệm tối đa. Nhờ đó, hiện hợp phần cầu đang được triển khai nhanh khoảng một năm so kế hoạch, giúp đồng bào vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn kết nối giao thương, tiếp cận y tế, giáo dục, giảm nghèo bền vững.

Tại rất nhiều địa phương, người dân gọi cầu LRAMP là những công trình “mơ ước bao đời”. Có những vùng như ở đồng bằng sông Cửu Long, người dân không có thói quen làm nhà nhưng sau khi có cầu đã yên tâm an cư lập nghiệp. Tổng cục trưởng ĐBVN Nguyễn Văn Huyện cho biết: Trong quá trình đấu thầu hợp phần cầu đã tiết kiệm và xây thêm được khoảng 270 cây cầu. Hết năm 2020, chúng ta sẽ hoàn thành được 2.444 cây cầu, vượt số cầu thực hiện trong dự án LRAMP so Hiệp định (2.174 cầu). Tuy nhiên, con số này vẫn là chưa đủ so nhu cầu thực tế lên đến khoảng 11.000 cầu mà các địa phương đã đề xuất. Vì vậy, sau giai đoạn 1, Tổng cục ĐBVN mong muốn Chính phủ, Quốc hội tiếp tục chấp thuận cho phép vay vốn của WB để thi công thêm khoảng 1.600 cầu trong tổng số 4.145 cây cầu đã được Chính phủ phê duyệt. Với người nghèo, thêm được một cây cầu nào cũng là đáng quý.Tính đến hết năm 2019, Tổng cục ĐBVN đã khởi công hơn 2.000 cây cầu, hoàn thành và đưa vào sử dụng hơn 1.800 công trình. Ông Vũ Hải Tùng, Phó Cục trưởng Quản lý Xây dựng Đường bộ (Tổng cục ĐBVN) cho biết: Sau khi Tổng cục xây cầu, nhiều địa phương đã tiếp tục xây đường để hoàn thiện tính kết nối của hạ tầng giao thông. Tùy theo số lượng người dân được hưởng lợi, có những cây cầu LRAMP lên tới hàng chục tỷ đồng nhưng cũng có những công trình chỉ tốn 300 – 400 triệu đồng.

***

Xây cầu, đường cho người nghèo

THÁI LINHThứ Tư, 08-01-2020, 14:59+ |  Print

Nhiều cây cầu, tuyến đường được hoàn thành giúp người dân đi lại thuận tiện.

Ngoài hàng nghìn cây cầu dân sinh kết nối mà hiệu quả hiện lên rất rõ thì dự án LRAMP còn đang góp phần thay đổi tư duy bảo trì đường địa phương từ tỉnh lộ cho đến các huyện, xã, thôn, bản. Cụ thể, Ngân hàng Thế giới (WB) sẽ giải ngân tiền khôi phục, cải tạo 676 km đường tại 14 tỉnh dựa vào chính kết quả thực hiện cam kết duy tu, bảo dưỡng thường xuyên 61.109 km đường của các địa phương.

Kỳ 2: Thay đổi tư duy: Một đồng bảo trì bằng ba đồng xây mới

(Tiếp theo & hết)

Từ những con đường bị bỏ quên

Ngoài hợp phần xây mới cầu, thì dự án LRAMP còn một hợp phần rất quan trọng với mục tiêu khôi phục, cải tạo và bảo dưỡng thường xuyên đường địa phương, với tổng nguồn vốn 3.296 tỷ đồng do UBND các tỉnh làm cơ quan chủ quản. Mục tiêu này xuất phát từ câu chuyện về những con đường bị “bỏ quên” ở cấp huyện, xã, thôn, bản.

Theo báo cáo của Tổng cục Đường bộ Việt Nam (ĐBVN), tính đến hết năm 2019, đơn vị này đã thực hiện bảo dưỡng thường xuyên hơn 21.400 km các tuyến quốc lộ, đường cao tốc thuộc diện quản lý. Tuy nhiên, cả nước hiện có hơn 458 nghìn km đường địa phương, phục vụ khoảng 80% dân số và 90% người nghèo. Trên mạng lưới này, rất nhiều đoạn đường đã xuống cấp nhưng không đủ kinh phí để bảo trì. Đặc biệt, theo ông Phạm Xuân Trung, Ban quản lý dự án 6: Phần lớn các đường huyện, xã, thôn, bản đều bị xuống cấp nặng nề bởi thói quen xem nhẹ chuyện duy tu, bảo dưỡng thường xuyên mà cứ sử dụng cho đến khi hỏng thì đề xuất xây mới.

Bà Trần Thị Minh Phương, Giám đốc dự án LRAMP của WB cho biết: Đây là sự lãng phí rất lớn. Trong khi một đồng bảo trì bằng ba đồng xây mới thì rất nhiều địa phương chưa chú trọng tới công tác này. Vì vậy, thông qua dự án LRAMP, chúng tôi hy vọng lãnh đạo UBND các tỉnh, huyện và Sở Giao thông vận tải (GTVT) sẽ nhận thức rõ để bố trí nguồn kinh phí chi cho việc duy tu, bảo dưỡng đường địa phương.

Hiệu quả của đồng vốn sửa chữa

Quảng Nam là một trong 14 tỉnh tham gia vào hợp phần cải tạo đường LRAMP. Hiện tỉnh đã được WB tài trợ kinh phí khôi phục hơn 30 km địa phương như: ĐH1 Hiệp Đức, ĐH3 Bắc Trà My, ĐH6 Phú Ninh, ĐH 11 Phú Ninh, ĐH6 Tiên Phước. Đối ứng với việc này, Quảng Nam cũng phải lập kế hoạch bảo trì, duy tu bảo dưỡng thường xuyên trên hệ thống đường từ tỉnh cho đến cấp huyện, xã, thôn.

Ông Trần Thọ, Trưởng phòng Kinh tế hạ tầng huyện Hiệp Đức (tỉnh Quảng Nam) cho biết: Trước đây việc bảo trì đường huyện, xã rất ít được quan tâm nhưng hiện nay tỉnh và huyện đã có kế hoạch chi cho công tác bảo dưỡng thường xuyên và bổ sung sửa chữa kịp thời khi có các sự cố bất thường xảy ra. Hằng năm, số tiền và km đường được bảo trì đều tăng lên đã góp phần bảo vệ các công trình đường được bền vững hơn. Người dân cũng thay đổi tư duy, sẵn sàng tham gia lao động công ích như phát quang, nạo vét cống rãnh…

Ông Nguyễn Hữu Hòa, Trưởng phòng Quản lý dự án 1 (Ban quản lý dự án các công trình giao thông tỉnh Quảng Nam) cho biết: Từ khi có dự án LRAMP, tỉnh xây dựng hẳn một chương trình kế hoạch cụ thể, với số km đường địa phương được bảo trì tăng lên hằng năm, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông. Từ việc số tiền bỏ ra ít mà hiệu quả sử dụng con đường được bền lâu, tỉnh đã có văn bản gửi Bộ GTVT và WB để xin tiếp tục mở rộng dự án trong thời gian tới.

Tại xã Cô Ba, Thị trấn Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, sau khi tuyến đường dài 12,7 km nối từ xã ra trung tâm thị trấn hoàn thành, việc đi lại của người dân đã thuận tiện hơn nhiều. Trước đây đường đất lầy lội, người dân xã Cô Ba muốn ra huyện chủ yếu phải đi bộ mất ba tiếng đồng hồ. Sau khi được WB tài trợ, tuyến đường mới hoàn thành đã rút ngắn việc di chuyển từ xã ra huyện còn khoảng 30 phút chạy xe máy. Ông Ma Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã Cô Ba cho biết: Để đối ứng, xã Cô Ba đã áp dụng hình thức bảo trì cho các đoàn thể và nghiệm thu từng quý theo định mức 1,5 triệu/km để bảo dưỡng thường xuyên các tuyến đường liên thôn. Ngoài ra với tuyến đường trong quá trình bảo hành xã đã phối hợp tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ tài sản và vệ sinh, phát quang đường trong dịp lễ, Tết. UBND xã kết hợp hương ước thôn, bản để bảo vệ tài sản đường, khi phát hiện ra hư hỏng sẽ báo cáo lên phòng kinh tế hạ tầng huyện kịp thời sửa chữa.

Mô hình đường tự quản đang phát huy hiệu quả bảo trì đường bộ.

Thể chế hóa công tác bảo trì

Ông Nguyễn Văn Huyện, Tổng Cục trưởng ĐBVN cho biết: Qua triển khai hợp phần đường, công tác quản lý bảo trì đã được các cơ quan quản lý Nhà nước, đơn vị ở địa phương chú trọng thực hiện ngày càng tốt hơn. Hiện các chỉ số về km đường đã hoàn thành khôi phục cải tạo, bảo dưỡng thường xuyên và số vốn bảo trì đều tăng gấp đôi so yêu cầu. Tính đến cuối năm 2019, 14 tỉnh tham gia vào hợp phần đường trong dự án LRAMP đã hoàn thành khôi phục cải tạo khoảng 400 km đường, đạt 60% so yêu cầu. Đặc biệt, theo kế hoạch, tỷ lệ tuyến đường được bảo dưỡng thường xuyên ở mức tối thiểu là 48% nhưng trên thực tế đã đạt 53%. Tổng số vốn dành cho bảo trì đường địa phương đạt 84% so yêu cầu là 44%. Một số tỉnh có các chỉ số vượt trội so kế hoạch như Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nam Định, Quảng Nam, Hà Tĩnh…

Để đạt được mục tiêu bảo trì đường địa phương, WB đã xây dựng cơ chế cụ thể với 14 tỉnh. Theo đó, ngân hàng tài trợ tiền khôi phục, cải tạo đường; Địa phương phải chi kinh phí để duy tu, bảo dưỡng thường xuyên toàn bộ mạng lưới đường từ tỉnh cho đến thôn, bản. Dự án cũng đặt ra điều kiện về đơn giá tối thiểu cùng các tiêu chuẩn kỹ thuật bảo trì đính kèm cho từng cấp đường cụ thể.

“Ngân sách tỉnh bỏ ra sẽ tương ứng với việc giải ngân tiền tài trợ của WB. Cụ thể, khi sửa chữa đường, WB chỉ giải ngân 45% nguồn vốn, nếu địa phương thực hiện bảo trì đạt tất cả các tiêu chí thì chúng tôi mới giải ngân nốt 55% kinh phí còn lại”, bà Minh Phương cho biết.

Qua ba năm triển khai, hiện nay các địa phương đều đáp ứng đủ các tiêu chí số tiền, đơn giá, số km thực hiện bảo trì. Nhưng như bà Minh Phương cho biết: Sở GTVT các tỉnh chỉ chịu trách nhiệm bảo trì đường tỉnh, đường huyện do huyện quản lý, đường xã do xã quản lý. Tuy nhiên huyện, xã gần như không có kinh phí nên sau khi kết thúc dự án, việc tỉnh có tiếp tục chi kinh phí cho công tác bảo trì thường xuyên đường huyện, xã, thôn, bản nữa không lại phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố lãnh đạo ở địa phương. Trong vai trò là đơn vị phụ trách, Tổng cục ĐBVN cần phải quyết liệt hơn trong việc đưa ra các thông tư, nghị định hướng dẫn để các địa phương chi thường xuyên cho việc bảo trì đường địa phương.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s