Vùng bãi ngang, những mảng màu sáng – tối: 5 bài

Bến cá Ngư Lộc sau một chuyến vươn khơi.

***

Vùng bãi ngang, những mảng màu sáng – tối

10/06/2019, 06:45 (GMT+7)

LTS: Cùng với Nghi Sơn, Vũng Áng, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng… thu hút hàng ngàn nhà đầu tư vào khai thác tiềm năng lợi thế thì vùng biển Bắc Trung bộ vẫn còn đó những gam màu tối.

Biết bao nông dân, doanh nghiệp đổ mồ hôi sôi nước mắt cho những ý tưởng làm giàu nhưng bất thành. Họ thiếu hụt về tài chính, tri thức, định hướng, hay sự hoành hành của thiên tai và cả nhân tai. May mắn lắm, một vài nơi có được của ăn của để nhưng ánh hào quang ấy cũng chỉ lấp lánh trước viễn cảnh bấp bênh.

Loạt bài viết này chỉ ra thực trạng và đặt ra những câu hỏi, giải pháp nào để vùng bãi ngang này được quan tâm xác đáng, phát triển mạnh như tiềm năng vốn có của nó.


Bài 1: Mong gì những chuyến vươn khơi

Từ trung tâm thị trấn huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa), hỏi đường về xã Ngư Lộc, người dân miền biển này không quên nhắc khéo, đi được một quãng lại phải hỏi, nếu không muốn lạc đường và kẹt xe. Ngư Lộc tuy nhỏ nhưng vào đó không cẩn thận là không tìm được lối đến trụ sở xã đâu.

Đằng sau những ngôi nhà tầng

Tầm 8 giờ sáng, khi thủy triều đã xuống, những con tàu mang trên mình cờ đỏ sao vàng bay phấp phới nằm ngơi nghỉ yên bình trên những bãi cát sau một đêm ra lộng đánh bắt. Mùi tanh nồng đặc trưng của cá, mùi mặn mòi của biển bốc lên khiến những ai không quen có cảm giác bờn bợn. Từng tốp người chầu chực dưới những chiếc thuyền vừa cập bến để mua cá. Tiếng trả giá, tiếng chạnh chọe nhau từng mớ cá vang lên inh ỏi.

Bến cá Ngư Lộc sau một chuyến vươn khơi.

Giữa bãi cát sục bùn, những bọc ni lông rác thải dồn ứ vào tận chân đê chắn sóng tấp thành đống như có từ thời rất xa xưa. Cứ hai người một gánh cá vừa mua được tập kết lên đê chuyển vào những xe máy gắn thùng phía sau chở đi đâu đó vào những ngõ hẻm.

Tiếng máy nổ xình xịch của các điểm cung cấp đá lạnh phục vụ những chuyến ra khơi vang lên dồn dập. Trên tuyến đê chắn sóng, nhiều điểm dựng thành những lều bạt tạm bợ để tập kết, sơ chế cá, tôm. Người làm công ở những điểm này chủ yếu là phụ nữ, trung niên, người già. Hải sản đa phần là tôm biển, cá mối, ghẹ nhỏ…, toàn loại rẻ tiền.

Ngay sát chân đê chắn sóng là những ngôi nhà 2 – 3 tầng, mặt tiền chỉ khoảng 2 – 3m. Xung quanh là các điểm sơ chế hải sản dàn ra cả mặt đường. Nước bẩn từ những điểm sơ chế hải sản chảy lênh láng. Mặc dù đã có đường trên đê nhưng con đường dân sinh dưới chân đê vẫn chật như nêm. Hai chiếc xe bốn bánh đi vào cùng thời điểm tránh nhau rõ khổ sở. Một chiếc lùi lại, nép vào sát một ngôi nhà bên cạnh chờ chiếc còn lại đi qua…

Trong căn nhà 2 tầng được xây dựng từ khá lâu ngay sát chân đê chắn sóng tại xã Ngư Lộc, ông Đồng Xuân Thảo, chủ con tàu 67 vỏ gỗ than thở: “Trông thế thôi, dân Ngư Lộc còn khổ lắm, còn nghèo và sẽ còn nghèo. Không riêng gì gia đình tôi, cả xã này hầu như nhà nào cũng xây 2 – 3 tầng. Số nhà cấp 4 chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nhưng nếu nhìn vào đó để nói rằng người dân Ngư Lộc giàu có thì quả là một sai lầm rất lớn”.

Những căn nhà tầng mọc lên không che lấp được sự khó khăn của Ngư Lộc.

Nén tiếng thở dài, ông Thảo tiếp lời: “Ở cái vùng đất chật người đông này, nếu không có đất đai gia tiên để lại thì tìm mua được 20 – 30m2 đất dựng nhà đã là giỏi lắm. Chừng ấy đất, 5 – 6 con người không đủ chui rúc nên phải làm nhà 2 – 3 tầng. Nhưng ở xứ này, nhà nào còn cầm trong tay sổ đỏ thì mới gọi là giàu. Tiếc rằng, số đó chẳng được là bao. Tôi thì không những cắm sổ đỏ của gia đình mà còn phải mượn thêm mấy sổ nữa để ném vào ngân hàng vay tiền. Đến nay thì không biết đào ra đâu mà trả”.

Ấy là ông Thảo đang giãi bày về câu chuyện đất chật, người đông cũng như nợ nần của người dân Ngư Lộc. Sự thật này được ông Nguyễn Hải Năm, Phó Chủ tịch UBND xã Ngư Lộc xác nhận: “Nhìn nhà cao tầng thế thôi chứ Ngư Lộc còn nghèo lắm. Có lẽ không đâu như nơi này, mật độ dân số lên tới 15.000 người/km2. Vì thế, dù là nông thôn miền biển nhưng có những gia đình phải mua mỗi m2 lên đến trên 30 triệu đồng. Theo thống kê thì hiện tổng dư nợ ngân hàng của toàn xã là 650 tỷ đồng. Với dân số hiện tại 18.000 nhân khẩu thì bình quân mỗi người dân có một khoản nợ ngân hàng trên 36 triệu đồng”.

Vẫn chưa qua cơn bĩ cực

Ông Năm lý giải, người vùng biển Ngư Lộc còn nghèo bởi một nhẽ, trong số 369 phương tiện đánh bắt hiện nay thì đa phần là tàu công suất nhỏ, việc ra khơi đánh bắt gặp nhiều khó khăn trong khi có tới 60% dân số sống bằng nghề đánh bắt, khai thác ngoài biển. Ngư Lộc không có bãi, đầm phá thuận lợi cho nuôi biển. Trên biển đã thế, do đất đai chật chội, trên bờ hiện không có đơn vị chế biến hải sản nào. Hải sản ngư dân đánh bắt được đa phần các tư thương thu mua với giá thấp.

Hải sản đánh bắt đa phần có giá trị thấp.

Nhưng theo ông Đồng Xuân Thảo, con số thống kê về nợ nần trên vẫn chưa phản ánh hết cơn bĩ cực của ngư dân. Nợ ngân hàng là con số có thể thống kê được. Bản thân gia đình ông cũng vậy, để có con tàu vỏ gỗ trên 10 tỷ đồng, ông vay ngân hàng 9 tỷ. Số còn lại phải đi vay nóng, vay với lãi suất 2 nghìn đồng/ngày/1 triệu đồng. Năm đầu tiên còn làm ăn được nhưng vài năm nay, trữ lượng cá giảm hẳn, mỗi chuyến vươn khơi lại không đủ chi phí.

Trước đây, lượng cá đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chiếm khoảng 30 – 40% thì nay chỉ còn 5 – 10%. Giá dầu tăng lên, nhân công khan hiếm tăng giá ngày công lao động; dịch vụ hậu cần cũng tăng theo. Nhưng theo kinh nghiệm của ngư dân, nếu nằm bờ thì tàu và ngư lưới cụ cũng sẽ hỏng hết. Vậy là lại phải chạy đi vay nóng lãi suất cao để bù chi phí.

Nhận thấy nhu cầu bức thiết về tiền vốn làm ăn của ngư dân, một số người đã đứng ra gom tiền cho vay với lãi suất cao. Khi những con tàu làm ăn bết bát không thể trả nợ, những đối tượng cho vay này vì sợ bị siết nợ đành phải bỏ quê ra đi trong im lặng và sợ hãi. Vì thế, chuyện những cặp vợ chồng đã phải bán xới, bặt vô âm tín ở xã vùng biển này không hiếm.

“Bình quân mỗi tháng, cả gốc lẫn lãi tôi phải trả gần 170 triệu đồng cho ngân hàng nhưng đã 2 năm nay làm ăn bết bát, ngân hàng cử người xuống đốc thúc thường xuyên vẫn không có để trả. Tình trạng 7 con tàu 67 còn lại của xã cũng chẳng sáng sủa gì. Tàu 67 đã thế, những tàu công suất nhỏ càng thê thảm, nhiều hộ phải cải hoán hoặc chuyển đổi sang nghề dã”, ông Thảo bày tỏ.

Theo người dân ở đây, cách đây 4 – 5 năm, toàn xã có gần 500 chiếc thuyền khai thác. Dù là khai thác vùng lộng nhưng vẫn kiếm đủ miếng cơm, manh áo hàng ngày.

Nay toàn xã chỉ còn trên dưới 369 chiếc tàu đánh cá chủ yếu đánh cá trong lộng. Nhiều chủ tàu, hoặc phải chuyển đổi nghề hoặc phải bán chạy tàu vì không thể trụ vững trước thực trạng hiệu quả khai thác ngày càng thấp trong khi chi phí đầu vào không ngừng tăng lên.

Một thực tế là hiện nay, nguồn lao động phục vụ nghề đi biển đang thiếu trầm trọng. Vì vậy, thay vì những thanh niên trai tráng đứng đầu sóng ngọn gió thì có những cụ ông 60 – 70 tuổi vẫn làm thuyền viên trên những chuyến vươn khơi.

Chỉ một ít thanh niên, do không được học hành đến nơi đến chốn, không có công ăn việc làm mới chịu đi biển.

Ông Đồng Xuân Thảo kể về cơn bĩ cực của người dân Ngư Lộc.

Theo thống kê, Ngư Lộc hiện có 2.000 lao động đi làm ăn xa, trong đó có khoảng 100 người xuất khẩu lao động. Cứ như lời của cán bộ xã Ngư Lộc thì xem ra làn sóng chảy máu lao động vẫn chưa dừng lại.

“Năm 2018 còn có 60 tàu câu mực nhưng nay, kể cả 8 con tàu 67 thì toàn xã chỉ còn 20 tàu câu. Tàu câu tốn lao động, tốn chi phí nên có hộ vừa mới đóng tàu trị giá trên 1,6 tỷ đồng đã phải bán lại với giá chưa đến 1 tỷ đồng. Có hộ thì cải hoán, đổi thành nghề dã. Biết đi dã là vi phạm pháp luật đấy nhưng cũng vì miếng cơm manh áo cả thôi”, một ngư dân thành thật chia sẻ.

Những câu chuyện ngư dân tâm sự khiến cho những số liệu về giảm nghèo, hộ cận nghèo; sản lượng và giá trị đánh bắt tăng hằng năm… mà ông Phó Chủ tịch xã Ngư Lộc cung cấp bỗng nhòe đi trong suy nghĩ của chúng tôi.

“Từ bao đời nay, người dân Ngư Lộc độc nghề đi biển, không có nghề phụ. Trong khi đó phương tiện đánh bắt lại lạc hậu, công suất thấp. Bối cảnh này, nếu không có các chính sách tạo công ăn việc làm cho người dân thì cuộc sống của họ sẽ còn nhiều khó khăn. Việc xây dựng các khu chế biến tập trung vừa để nâng cao giá trị hải sản đánh bắt vừa tạo thêm công ăn việc ổn định là rất cần thiết lúc này”, ông Nguyễn Hải Năm, Phó Chủ tịch UBND xã Ngư Lộc.
VÕ VĂN DŨNG
***

Vùng bãi ngang, những mảng màu sáng – tối: Bài 2 – Mơ về canh bạc tất tay

11/06/2019, 10:09 (GMT+7)

Đầm tôm xã Đa Lộc (Hậu Lộc, Thanh Hóa) những ngày cuối tháng 5 tĩnh lặng đến lạ. Đang vào vụ nuôi chính, những chiếc mô tơ quạt ô xy lẽ ra phải chạy hết tốc lực bọt tung trắng xóa thì nay nằm im dưới nắng thiêu đốt.

Nắng đến mức người với người gặp nhau chẳng thèm bắt chuyện. Vậy mà khi nhắc đến những canh bạc đầm tôm thì cứ thế, người nuôi tôm tuôn ào ào. Nhiều người đã khánh kiệt nhưng vẫn mơ về canh bạc tất tay để gỡ gạc…

Mỗi vụ tôm qua, lại thêm cục nợ

Đã từng có thời, nhiều “ông lớn” tại huyện Hậu Lộc đổ về xã Đa Lộc mua đất nuôi tôm. Những cú vung tay mạnh bạo đã biến vùng nuôi tôm Đa Lộc trở nên nhộn nhịp. Ngày ấy, chỉ cách đây 3 – 4 năm thôi, khu nuôi tôm tại Đa Lộc sôi động lắm! Người ra, kẻ vào, máy móc hoạt động rền vang cả một góc trời. Những đầm tôm được trải bạt đen Thái Lan; những chòi canh tôm lúc nào cũng nhộn nhịp người ăn, kẻ làm.

13-26-01_ong_phu_nguyen_chu_tich_ubnd_x_d_loc
Ông Vũ Xuân Phú, nguyên Chủ tịch UBND xã Đa Lộc, hi vọng Nhà nước sớm đầu tư hạ tầng vùng nuôi tôm Đa Lộc.

Nhưng đó là câu chuyện của 3 – 4 năm trước bởi giờ đây, vùng đất này đã chứng kiến có không ít người dứt áo ra đi. Vùng nuôi tôm Đa Lộc trở nên đìu hiu, vắng lạnh. Kẻ ở lại thì ngày càng khánh kiệt nhưng vẫn cố dùng chút sức lực yếu ớt để mong thắng ván bài cuối. Thế nhưng, sức đã cùng, lực đã kiệt.

Con đường dẫn từ trung tâm xã Đa Lộc ra vùng nuôi tôm Đông Hòa – Yên Đông đã được trải bê tông phẳng lỳ. Đứng trên đê quai trục 8 có thể thấy toàn cảnh một vùng nuôi tôm rộng lớn, đầy tiềm năng của xã bãi ngang này. Người dẫn đường chua xót: “Không hiểu sao, vùng nuôi tôm này cứ thất bát triền miên. Được mùa tôm, đau mùa lúa đã đành. Ở đây, tôm, lúa đều mất cả”.

Người dẫn đường đưa chúng tôi đến cánh đồng lúa ngay phía dưới đầm tôm rồi trầm ngâm: “Đó! Nước mặn từ các đầm tôm thẩm thấu, từ các cống dẫn mặn vào đầm nuôi rò rỉ ra những ruộng lúa khiến ruộng đồng gần như mất trắng. Vừa rồi nghe nói một số chủ đầm phải chấp nhận đền bù cho người trồng lúa đấy”.

Chòi canh tôm của ông Vũ Đức Diện, thôn Yên Hòa nằm giữa 8 đầm tôm lớn nhỏ. Là người có thâm niên nuôi tôm gần 15 năm nay nhưng chưa bao giờ ông Diện thấy nghề nuôi tôm tại Đa Lộc lại thê thảm như bây giờ. Khi hầu hết còn nuôi tôm sú quảng canh, dù hiệu quả kinh tế thấp nhưng chưa bao giờ người nuôi rơi vào cảnh nợ nần chồng chất. Còn khi nhà nhà, người người chạy theo nuôi tôm thẻ chân trắng công nghiệp, những vụ tôm thắng lợi cứ thưa dần; những vụ tôm thất bát lại tăng theo cấp số nhân.

Của nả trong nhà những ông chủ đầm cứ đội nón ra đi theo con tôm thẻ. Những sổ đỏ của gia đình, người thân bị ném thẳng vào ngân hàng không đoán biết ngày trở lại. Những khoản tiền vay nóng với lãi suất “cắt cổ” cũng cứ mặc cho lãi mẹ đẻ lãi con…

Mỗi vụ tôm qua, nhà ông Diện lại thêm cục nợ.
“Bây giờ ngộ ra thì đã muộn và không đủ lực để đầu tư thêm về hạ tầng nuôi nữa. Của nả đã đi theo con tôm hết rồi, đến cả tiền thức ăn cho tôm cũng phải đi giật nóng thì còn nghĩ gì đến cải tạo, nâng đáy đầm nuôi tôm trên cát? Thôi thì cứ chạy theo lao, ông trời thương được chừng nào hay chừng đó”, ông Sáu chủ một đầm tôm Đa Lộc chua xót.

Không thể vay được những khoản tiền lớn nữa thì phải đi gom, đi vay từ những đồng tiền nhỏ. Đấy là cách mà nhiều người nuôi tôm Đa Lộc hiện nay đang cầm cự. Với họ, chỉ con tôm mới trả hết nợ cho con tôm.

Chính vì thế, nhiều gia đình bỏ bẵng nhà cửa; vợ chồng, con cái đều tập trung về đầm tôm quyết đánh cược với ông trời canh bạc tất tay. Nhưng những vụ tôm thất bát thì vẫn chưa có điểm dừng.

“Không còn vốn liếng nên vụ 1 năm nay, tôi chỉ thả 3 đầm nuôi với số lượng 54 vạn con giống. Đáng lẽ thời điểm này, các quạt ô xy phải hoạt động hết công suất nhưng anh nhìn xem, chúng vẫn nằm yên một chỗ.

Hai đầm đã mất trắng rồi, giờ chỉ còn 1 đầm, con tôm đã to bằng đầu thuốc lá; cầu trời khấn phật cho chúng không có dịch bệnh gì. Đó là hi vọng nhỏ nhoi để tôi vớt vát cho vụ tôm này và có đồng vốn thả tôm vụ tiếp theo trả bớt nợ nần”, ông Diện than thở.

Ở vùng đất này, nếu nói nhờ nuôi tôm để có nhà lầu, xe hơi thì gần như không có. Nhưng chuyện vì nuôi tôm mà phải bán đất, bán nhà thì không hiếm.

Sau 3 năm nuôi tôm công nghiệp, dù đã phải bán tháo 2 lô đất ở để trả nợ nóng thế nhưng ông Diện vẫn còn ngập trong đống nợ.

Vậy mà món nợ ngân hàng và vay nóng còn lại 1,4 tỷ đồng vẫn chưa biết ngày nào trả được. “Đó là những gì tôi nhận được sau bao năm dãi nắng dầm sương với con tôm”, ông Diện chua xót rồi thở dài, nếu trả sòng phẳng, riêng số tiền vay nóng, mỗi ngày cũng phải trả 1,8 triệu đồng tiền lãi. Nhưng chỉ có con tôm mới trả nợ được cho nó, nếu đi làm thuê, làm mướn, tháng 5 – 6 triệu thì chưa đủ để trả lãi hàng tháng chứ chưa nói gốc. Đành làm liều…

Nhắm mắt theo lao

Trong một chòi canh tôm tại xã Đa Lộc, chúng tôi được ngồi nghe những ông chủ đầm bàn tán về câu chuyện nuôi tôm thất bát tại xã bãi ngang này. Theo những ngươi nôi tôm ở Đa Lộc, không phải tất cả những ông chủ nuôi tôm đều thất bại nhưng tỷ lệ thành công chỉ đạt mức dưới 20%.

Vì thế, ở Đa Lộc, chuyện những ông chủ đầm tôm bán nhà, bán đất nhưng vẫn ôm nợ 2 – 3 tỷ là chuyện không hiếm. Rồi người dân Đa Lộc tiếc nuối, nếu không vì con tôm, nhiều hộ đã có thể xây được nhà cao, cửa rộng. Nhiều nhà cầm trong tay 400 – 500 triệu định xây nhà nhưng cứ ngỡ nuôi tôm “bở ăn” nên nhắm mắt đầu tư. Kết quả là mất cả chì lẫn chài.

Cũng như nhiều hộ nuôi khác, từ nhiều năm nay, căn nhà chính to rộng của vợ chồng, con cái ông Nguyễn Văn Hữu cửa đóng then cài. Cả gia đình ông tập trung nhân lực ra đầm tôm để mong trở thành tỷ phú. Thế nhưng, mỗi vụ tôm qua, nhà ông lại ôm thêm cục nợ.

“Tôi cũng đã nuôi tôm được gần 20 năm nay rồi. Nhưng 5 – 6 năm nay khi chuyển sang nuôi tôm thâm canh thì hầu như năm nào cũng mất đau. Tôi đã đầu tư gần chục tỷ đồng vào những đầm tôm nhưng qua nhiều năm nuôi, số nợ cứ tăng dần trong khi con tôm ở vùng đất này có lẽ đã hết thời”, ông Hữu phân trần.

Theo phân tích của ông Hữu, nguồn nước nuôi tôm được lấy từ điểm tiếp giáp giữa hạ nguồn sông Mã đổ ra biển. Đây là điểm tàu thuyền thường xuyên qua lại, cư dân lại sống vây quanh. Vì thế, nguồn nước bị ô nhiễm, dù các chủ đầm tôm rất có ý thức lắng lọc, xử lý nhưng vẫn không đảm bảo.

Hạ nguồn sông Mã bị ô nhiễm nên nước nuôi tôm không đảm bảo.

Từ những đầm tôm này, muốn lấy nước từ ngoài biển để giảm thiểu ô nhiễm thì quãng đường phải dài 5 – 7 km. Trong khi đó, hệ thống kênh dẫn không có nên chúng tôi đành phải sử dụng nước hạ nguồn sông Mã. Muốn đầu tư hệ thống kênh này có lẽ phải mất hàng trăm tỷ đồng. Số tiền đó, người nuôi tôm không thể kham nổi nên đành phải để mặc rủi ro ông trời định đoạt.

Cũng theo ông Hữu, trước đây, khi nuôi tôm quảng canh, người dân phải thuê máy về múc ao xuống sâu. Sau đó, bước vào nuôi thâm canh công nghiệp, với ao nuôi cũ, được vài vụ đầu thắng lợi người dân lại không cải tạo ao nuôi nên đó cũng là một phần của thất bại.

Chúng tôi đang đi giữa những vùng nuôi trồng thủy sản được quy hoạch hẳn hỏi của huyện Hậu Lộc. Nhưng điều đáng nói hơn, vài năm lại đây, tình trạng nuôi trồng thủy sản tại các xã bãi ngang, vùng biển của tỉnh Thanh Hóa ngày càng nở rộ. Vài vụ nuôi đầu thắng lợi như liều doping kích thích người dân bỏ nhà, bỏ cửa chạy theo con tôm. Thế nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang, nhiều vùng nuôi ngoài quy hoạch tại Hoằng Hóa, Tĩnh Gia… cũng lâm vào cảnh bi đát không kém.

Ông Vũ Xuân Phú, nguyên Chủ tịch UBND xã Đa Lộc, người đã có nhiều năm tháng cùng nhân dân quai đê, lấn biển cho biết, trước đây, Nhà nước đã quy hoạch vùng nuôi tôm, lấy nước từ hạ lưu sông Mã. Nhưng vùng nuôi này đa phần thất bại, có lẽ do nguồn nước ô nhiễm, tôm chết nhiều lắm. Nghe nói Nhà nước đang có dự án xây dựng đập tràn ngăn mặn, người nuôi tôm lấy nước chủ động hơn nhưng không biết lúc nào mới triển khai?
VÕ VĂN DŨNG
***

Vùng bãi ngang, những mảng màu sáng – tối: Bài 3 – Đổi thay vùng cói

12/06/2019, 14:06 (GMT+7)

Cùng là vùng bãi ngang, nếu như ở nhiều địa phương, người dân nhắm mắt “đốt tiền” vào những “canh bạc” tất tay chạy đua với con tôm thì một số nơi đã bắt đầu có những cách làm và tư duy mới. Đi bằng “hai chân”, vừa duy trì nền tảng kinh tế truyền thống vừa mở ra hi vọng.

Thăng trầm vùng cói

Xã Nga Tân (Nga Sơn, Thanh Hóa) được thành lập năm 1965 theo chủ trương khai hoang lấn biển từ người dân các xã Nga Hưng, Nga Trung, Nga Mỹ… về vùng đất này. Những người cao niên tại Nga Tân cho biết, thời điểm di dân vào xây dựng kinh tế mới, đây hoàn toàn là vùng đầm lầy hoang hóa, nhiễm mặn trầm trọng do đất đai nông trường Bình Minh không khai thác, sử dụng hết.

Vùng cói thăng trầm nhưng vẫn đủ nuôi sống người dân bãi ngang Nga Sơn.

Sau khi được cấp 1.000m2 đất/hộ, do địa hình thấp, các gia đình khi di dời đến đây đều phải đào một ao trong vườn, lấy đất nâng nền nhà. Vì thế, hiện nay, hầu như trong vườn nhà nào ở Nga Tân cũng đều có một cái ao như là dấu tích của một thuở lập địa.

Thời điểm gia đình di cư đến vùng đất này, ông Nguyễn Tiến Liên, nay là Chủ tịch UBND xã Nga Tân vẫn còn là thế hệ măng non. Ông Liên nhớ như in cuộc sống trên vùng đất mới. Lúc đó, nước ngọt không có, mỗi hộ đều phải có một bể nước mưa dùng. Nhưng làm gì có bể to trữ nước, bể nhỏ dùng dè sẻn cũng chỉ được 1 – 2 tuần là hết.

Vì thế, dù là vùng đất trũng nhưng người dân Nga Tân quanh năm mong ngóng mưa bởi nếu hết nước mưa lại phải đi 4 – 5km vào các làng xa biển để xin nước ngọt. Giờ thì có giếng khoan lấy nước sinh hoạt hàng ngày, còn nước ăn uống thì đã có chương trình nước sạch với hơn 70% dân số được thụ hưởng.

Thời điểm đó, cả nước đang làm ăn theo mô hình hợp tác xã kiểu cũ, xã viên được tính công điểm. Xã có trên 300ha đất nông nghiệp thì 100% là đồng sâu trũng chỉ có thể độc canh cây cói. May mắn là thời gian đó, sản phẩm làng cói các xã bãi ngang như Nga Tân, Nga Tiến, Nga Thủy… đều xuất khẩu sang các nước Đông Âu.

Cho nên, với công điểm cao, hàng tháng, bình quân mỗi nhân khẩu tại Nga Tân được cấp 17 kg lương thực các loại. Đó được coi là thời kỳ hoàng kim nhất của người trồng cói vùng bãi ngang Nga Tân nói riêng và Nga Sơn nói chung. Các hợp tác xã vùng bãi ngang Nga Sơn thời điểm này làm ăn khấm khá, chuyện mua sắm ô tô vận tải hàng hóa không phải là hiếm.

Nhưng đến những năm 90 của thế kỷ trước, khi Đông Âu tan rã, việc xuất khẩu sản phẩm cói gần như bị đóng băng. Thiếu cái ăn, cái mặc, nhiều hộ dân Nga Tân đã rời bỏ vùng đất này để trở về quê cũ hoặc đi tứ xứ mưu sinh. Ruộng đồng bị bỏ bẵng, hoang hóa, thu nhập thấp, đời sống khó khăn, hầu như năm nào chính quyền cũng phải đi xin nguồn hỗ trợ của Nhà nước để duy trì hoạt động của bộ máy và chia sẻ khó khăn với người dân.

Đến năm 1993, thị trường cói có dấu hiệu phục hồi, nhu cầu các sản phẩm từ cói của Trung Quốc tăng cao. Thời điểm này, người dân lao vào chỉnh trang, cải tạo đồng ruộng. Nhưng cũng phải đến khoảng năm 2000 trở về sau, cây cói mới tìm lại được vị thế, có đóng góp tích cực vào tỷ trọng kinh tế.

Cây cói giúp người dân xã Nga Tân phát triển kinh tế.

Những năm gần đây, sự chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy kinh tế, không ít diện tích cói kém hiệu quả tại Nga Tân được chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Nga Tân bắt đầu bước sang thời kỳ kinh tế năng động, nhiều mô hình sản xuất, nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao được đầu tư xây dựng.

Xã Nga Tân hiện có 60 hộ nuôi trồng thủy sản gồm các đối tượng như tôm thẻ chân trắng, cá vược, cua, chăn nuôi trồng trọt tổng hợp. Mỗi năm Nga Tân cung ứng ra thị trường 350 – 400 tấn cói khô, thu về trên 70 – 80 tỷ đồng; 780 hộ dân làm dịch vụ thu mua, xe sợi cói cung ứng cho thị trường; 35 hộ làm nghề dệt chiếu truyền thống. Kinh tế, ngành nghề phát triển giúp thu nhập người dân tăng nhanh và đạt 40 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 4,96% (2010 là 31%).

Một người dân đang thu hoạch cói trên cánh đồng xã Nga Tân chia sẻ: “Cói cho thu hoạch 2 vụ, bình quân thu nhập 7 – 8 triệu đồng/sào/năm, không mất tiền giống, không mất công cày cấy. Nếu chăm bẵm tốt, làm cỏ, xới đồng thì cũng có thể cho thu nhập trên dưới 10 triệu đồng/sào/năm.

So với trồng lúa thì lãi hơn nhiều và mỗi lao động có thể trồng, chăm sóc, thu hoạch 3 – 4 sào cói. Nhưng trồng cói, để giàu thì phải làm nhiều còn làm ít thì cơ bản vẫn chỉ đủ ăn. Muốn giàu phải đầu tư nuôi tôm bền vững như mấy đầm tôm ở ngoài kia”.

Còn bà chủ đại lý thu mua cói Vân Hưởng tại Nga Tân cho hay, nhu cầu cói hiện nay đang rất lớn nhưng cũng khá bấp bênh. Khi Trung Quốc ngừng thu mua thì người trồng cói bị ảnh hưởng về giá cả. Nước bạn không đồng ý nhập khẩu chính ngạch khiến giá cả, nhu cầu cũng khó mà ổn định. Điều này không chỉ khiến thương lái mà cả người trồng cói dễ gặp rủi ro trong giao dịch.

Thay đổi để phát triển

Thời kỳ cây cói lấy lại vị thế cũng là lúc tình trạng xâm nhập mặn đang có dấu hiệu quay trở lại, nhiều diện tích cói bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm.

Trước tình hình đó, Nga Tân và một số xã bãi ngang Nga Sơn tiến hành chuyển đổi ruộng đất. Đến năm 2012, Huyện ủy Nga Sơn ra chủ trương khuyến khích dồn điền đổi thửa, xây dựng những cánh đồng cói lớn liền vùng liền thửa. Diện tích nhiễm mặn được UBND xã Nga Tân chuyển sang nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững. Hạ tầng vùng nuôi tôm được đầu tư xây dựng khá bài bản nên việc dẫn nước vào các khu nuôi tôm ngày càng thuận lợi.

Ông Mai Xuân Tạc, chủ một đầm tôm lớn tại Nga Tân cho biết, trước đây ông nhận khoán diện tích đất nuôi trồng thủy sản vùng bãi triều để nuôi tôm sú quảng canh.

Nhưng trước thực trạng nuôi tôm công nghiệp ngày càng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và với mục tiêu hướng tới nuôi tôm bền vững, an toàn sinh học ông Tạc đã đầu tư hàng chục tỷ đồng làm nhà mái nuôi tôm thẻ chân trắng. Hệ thống dẫn nước vào các đầm tôm được bê tông hóa hoàn toàn vừa đảm bảo khả năng cách ly dịch bệnh vừa thuận lợi trong việc dẫn, tiêu thoát nước.

Theo ông Tạc, nếu không chịu bứt phá mạnh dạn đổi mới thì vùng đất này mãi vẫn khó khăn. Trồng cói giờ cũng không còn đói khổ nhưng để thực sự tiến lên mạnh mẽ thì phải đầu tư hạ tầng nuôi trồng thủy sản.

Đổi mới tư duy và cách làm mới trong nuôi trồng thủy sản để thành công.

Hàng chục héc ta cói được chuyển sang nuôi tôm đã chứng minh được cách nghĩ, cách làm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nga Tân là đúng hướng trong phát triển kinh tế.

Cũng có nhiều vùng nuôi tôm tại Thanh Hóa phát triển mạnh nhưng muốn đạt hiệu quả kinh tế cao thì không thể dễ dãi như trước. Nuôi con tôm bây giờ không phải cứ thả ra là có thu nhập như trước mà phải chấp nhận đầu tư về công nghệ và phải xây dựng được mối liên kết cộng đồng trách nhiệm trong nuôi trồng.

Mô hình nuôi tôm ứng phó với biến đổi khí hậu là một điểm sáng trong mảng sáng đầy hi vọng ở Nga Tân. Tính đến nay, toàn xã đã chuyển đổi được 98ha ruộng cói nhiễm mặn sang nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt tổng hợp.

Theo ông Nguyễn Tiến Liên, Chủ tịch UBND xã Nga Tân, 300ha đất nông nghiệp trước đây của xã đều là đất trồng cói, không có đất màu, không có đất trồng lúa. Vì thế, từ năm 2013 đến nay Nga Tân đã chuyển đổi gần 100ha trồng cói sang nuôi trồng thủy sản. Hiệu quả kinh tế tăng lên rõ rệt, đời sống người dân được nâng lên, bộ mặt nông thôn bãi ngang khởi sắc. Xã đã đạt 16 tiêu chí NTM và sẽ đủ lực để về đích trong năm 2019 này.

Nga Thủy, một xã bãi ngang nằm cạnh Nga Tân có trên 300ha đất nông nghiệp.

Theo ông Nguyễn Văn Hưng, Chủ tịch UBND xã Nga Thủy, việc chuyển diện tích trồng cói kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản góp phần tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân.

Tuy nhiên, khó khăn của người dân Nga Thủy là hiện đang sử dụng nguồn nước vùng hạ lưu sông Mã, tỷ lệ thành công chưa cao. Ước muốn của người dân là có hạ tầng đảm bảo để sử dụng nguồn nước biển trong nuôi trồng thủy sản. Đây cũng là tình trạng chung của một số xã bãi ngang Nga Sơn hiện nay.

VÕ VĂN DŨNG
***

Vùng bãi ngang những mảng màu sáng – tối: Bài 4 – Ngỡ ngàng đất biển Quỳnh Phương

13/06/2019, 14:35 (GMT+7)

Nằm phía đông bắc của thị xã Hoàng Mai (Nghệ An), nhờ vận dụng hiệu quả các cơ chế chính sách của nhà nước phát huy tiềm năng kinh tế biển, diện mạo phường Quỳnh Phương những năm qua có bước chuyển mình rõ rệt.

Lộc biển giúp người dân có cuộc sống sung túc, đủ đầy hơn. Nhiều hộ sớm thoát khỏi vòng xoáy cơm áo gạo tiền và cho thấy sự bứt phá tích cực.

Ăn chắc mặc bền

Quỳnh Phương được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho dải biển trải dài tít tắp. Vùng biển nơi đây hội tụ quần thể phù du sinh vật đa dạng, kết nối với hệ thống sông Mai Giang tạo nên một ngư trường khai thác đầy tiềm năng.

Quỳnh Phương sở hữu phương tiện tàu cá hùng hậu.

Từ xa xưa ngư dân đã xác định vươn khơi bám biển làm trọng, một năm đều đặn 2 vụ. Mùa cá Nam kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, thời gian này thường xảy ra bão tố nên người dân chủ yếu khai thác trong vùng lộng. Đến mùa cá Bắc, tranh thủ trời êm bể lặng các hộ dong thuyền buồm tìm đến những bãi cá ngoài khơi xa.

Trước bà con chủ yếu dùng thuyền nhỏ, dài 6-10m, buồm nâu hình cánh én, có nhà sở hữu thuyền lớn dài 12m nhưng không nhiều. Công cụ đánh bắt thô sơ thành thử chỉ tận dụng được một phần nhỏ tiềm năng sẵn có, quanh năm suốt tháng lênh đênh bám biển không đủ trang trải cuộc sống. Về sau ít nhiều có sự chuyển biến nhưng chưa đáng kể, nhìn chung Quỳnh Phương vẫn còn bộn bề gian khó.

Nghề sông nước nặng nhọc lại đối mặt với không ít rủi ro. Khi khoa học kỹ thuật chưa được ứng dụng rộng rãi, công tác dự báo còn lắm hạn chế nên sinh mệnh của ngư dân như thể mành chỉ treo chuông. Cánh đàn ông ăn sóng nói gió, thuộc ngư trường như lòng bàn tay cũng không dám chắc điều gì, hơn ai hết họ hiểu những mối lo tiềm ẩn có thể xảy đến bất kỳ lúc nào, nhưng vì gánh nặng mưu sinh buộc phải chấp nhận đánh đổi.

Biển cả bao la giúp ngư dân Quỳnh Phương có cơm ăn áo mặc nhưng cũng nhẫn tâm cướp đi bao phận người xấu số. Con mất cha, vợ mất chồng, em mất anh, nhiều gia đình chìm trong thương đau, những tiếng khóc nức nở nghẹn ngào bao trùm khắp vùng đất biển.

Qua thời gian địa phương từng bước cải tiến, nâng cấp phương tiện đánh bắt nhằm vượt qua nghịch cảnh. Gần đây, nhờ thụ hưởng những chính sách thiết thực của nhà nước nhiều gia đình đã mạnh dạn đầu tư thuyền to máy lớn vươn khơi.

Hiệu quả kinh tế cải thiện rõ rệt, mức độ rủi ro cũng giảm đi trông thấy: “Còn người là còn của, chung quy lại, mạng sống vẫn là thứ quan trọng nhất. Nếu quanh quẩn ven bờ may lắm chỉ đủ ăn thôi, muốn khấm khá phải đầu tư đóng mới tàu thuyền, phải cải hoán nâng công suất, phải mua sắm ngư cụ hiện đại để vươn ra khơi xa, đánh bắt những con cá lớn, có giá trị cao”, ngư dân Hoàng Văn Luận chia sẻ.

Lộc biển mang ấm no đến với người dân Quỳnh Phương.

Muốn làm ra thành quả đòi hỏi phải hình thành một chuỗi liên kết mang tính bền vững, mỗi người mỗi việc cần bổ trợ, phối hợp nhuần nhuyễn với nhau. Quá trình hoạt động, dựa vào mức độ quy mô sẽ tiến hành bố trí số lượng lao động phù hợp nhất, thông thường với những phương tiện công suất vừa cần tối thiểu 6-7 người, nhiều thuyền lớn tăng lên 12-13 người.

Thế mạnh của ngư dân Quỳnh Phương là vốn liếng kinh nghiệm đầy đặn, được truyền thụ lại từ các bậc cha ông đi trước. Một điều bất di bất dịch đặt ra, đã xác định gắn bó với nghề nhất định phải am hiểu tường tận các quy luật của biển cả, phải dự báo được tình hình thời tiết, nắm rõ con nước, vùng cá, có như vậy mới duy trì được sự chủ động trong mọi tình huống. Riết mãi rồi cũng thành quen, sau nhiều lần vươn khơi dân biển đúc kết:

Tháng năm trông tây, tháng mười trông đông.

Tháng giêng gió ngoài, tháng hai gió trong.

Tháng ba nồm đông, tháng tư bấc rải.

Tháng năm khuấy lại, tháng sáu nam trong.

Có sự nhanh nhạy trời phú, ngư dân Quỳnh Phương tiếp cận cực nhanh những kỹ năng đánh bắt hiện đại, nhờ đó chất lượng khai thác cải thiện thấy rõ. Phần đa thuyền buồm cất công ra khơi đều nặng lưới quay về, thu đen, thu trắng, ù, nục, sú, rìu, tôm hùm, tôm he, tôm sắt, mực ván, mực ống nhiều vô kể, tất cả như nói thay về một cuộc sống mới sung túc và đủ đầy.

Ngư dân Quỳnh Phương tiếp cận cực nhanh những kỹ năng đánh bắt hiện đại, nhờ đó chất lượng khai thác cải thiện thấy rõ.

Ông Đậu Như Danh, cán bộ địa chính – thú y phường Quỳnh Lương hồ hởi nói, đất đai sản xuất hạn hẹp nên địa phương định hướng tập trung khai thác nguồn lợi thủy sản làm hướng đi chính. Nghề biển hình thành đã lâu nhưng 3, 4 năm trở lại đây mới thực sự phát triển lớn mạnh. Đến nay toàn phường sở hữu 619 phương tiện khai thác các loại, đã thành lập được 41 tổ hợp tác. Địa bàn có 4.200 hộ dân, trong đó tỷ lệ bám biển chiếm đến 50%.

Ấm no nhờ lộc biển

Hoàng Văn Luận, Hoàng Đức Long, Nguyễn Phúc Sơn, Trần Văn Mai, Nguyễn Ngọc Cường, Nguyễn Hồng Sơn, Hồ Văn Sơn, Bùi Thái Chung, Bùi Văn Huấn… ông Đậu Như Danh kể vanh vách những chủ tàu hoạt động khai thác thủy sản có hiệu quả cho chúng tôi ghi. Đều như vắt chanh, những hộ trên hàng năm thu về 300 – 400 triệu đồng.

Điều đáng mừng là quyền lợi không chỉ gói gọn trong một số hộ cá thế mà lan tỏa rộng khắp, việc phát triển lớn mạnh nghề cá đã trực tiếp giúp người lao động địa phương có thêm công ăn việc làm, ổn định cuộc sống. Năm 2018 bình quân mỗi thuyền viên nhận trên 100 triệu đồng, ghi nhận 6 tháng đầu năm 2019 đạt mức 50 – 55 triệu đồng/người. Mức thu nhập quá ổn so với mặt bằng chung.

Người người bám biển, nhà nhà bám biển mưu sinh. Trai tráng sức dài vai rộng thì theo thuyền bè vươn khơi, cánh phụ nữ và người già cả cũng tranh thủ kiếm đồng ra đồng vào từ nghề vá lưới, ai nhanh tay nhanh mắt kiếm 150.000 – 200.000 đồng/ngày dễ như bỡn. Nhờ lộc biển cuộc sống của người dân thêm phần đủ đầy, gánh nặng về kinh tế ngày càng được xóa nhòa.

Thế hệ trẻ Quỳnh Phương thực sự mạnh bạo trong tư duy, họ sẵn sàng đầu tư làm ăn lớn không một chút đắn đo. Trường hợp của chàng trai trẻ Đậu Văn Thành là minh chứng, lênh đênh sóng nước từ thuở mười tám đôi mươi nom Thành rắn rỏi hơn hẳn so với bạn bè đồng trang lứa.

Chuyến gần nhất, tàu cá của anh Đậu Văn Thành thắng lớn.

Năm 2015 anh quyết định hùn vốn, mua lại tàu cá công suất 560 CV với giá 800 triệu đồng, cộng thêm tiền nâng cấp, hoàn thiện đồng bộ (làm lưới mới, thay tời, phân khoang…) tổng kinh phí lên đến hơn 2 tỷ đồng: “Giá trị tàu quá lớn, chi phí hoạt động lại tốn kém, nếu tự mình đứng ra cáng đáng thì không thể nào kham nổi. Liên kết là phương án phù hợp, vừa san sẻ được gánh nặng tài chính vừa quán xuyến tốt những vấn đề liên quan”, Thành bộc bạch.

Với đội ngũ sát cánh tâm đầu ý hợp, lại sở hữu kinh nghiệm dạn dày nên quá trình hoạt động khai thác mang lại nhiều kết quả tích cực. Liệu tính như thần, đã xác định vươn khơi là y như rằng thắng lớn. Riêng chuyến gần nhất tham gia đánh bắt gần địa phận đảo Bạch Long Vỹ được xem là chưa có tiền lệ ở đất biển Quỳnh Phương, sau 19 ngày ròng rã thành quả thu về là 12 tấn cá, chất kín đặc cả 600 khay.

Chuyến này mỗi thuyền viên chia nhau 21 triệu đồng, những chủ tàu như anh Thành bỏ túi gấp 2,5 lần, sự hoan hỉ hiện trên những khuôn mặt luôn nở nụ cười giòn.

Nhiều địa phương khác thường triển khai đánh bắt bề mặt tầng nổi, mỗi chuyến có thể thu về hàng trăm tấn hàng, dù vậy phương thức này không ổn định, chuyến được chuyến mất khả năng thua lỗ rất cao. Nhằm hướng đến sự bền vững dài lâu, đội ngũ phương tiện tàu cá Quỳnh Phương cơ bản chỉ tập trung khai thác khu vực tầng đáy, kéo dài từ vĩ tuyến 18 đến vĩ tuyến 21 thuộc địa phận Quảng Ninh. Nguồn lợi thu về đủ để ngư dân sống khỏe.
VIỆT KHÁNH
***

Vùng bãi ngang, những mảng màu sáng – tối: Bài 5 – Nhiều lỗ hổng trong chính sách lớn

14/06/2019, 13:30 (GMT+7)

Năm 2014, Nghị định 67/NĐ-CP của Chính phủ được triển khai đã nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các cấp, ngành, chính quyền địa phương và ngư dân. Thế nhưng, qua 5 năm kết quả thu về không được như kỳ vọng.

Nhiều tàu 67 hoạt động kém hiệu quả.

Tính đến thời điểm này, UBND tỉnh Nghệ An đã phê duyệt 110 tàu cá theo Nghị định (NĐ) 67, trong số này 104 phương tiện đã hạ thủy. Phân chia theo vật liệu có 90 tàu vỏ gỗ, 9 tàu vỏ thép và 5 tàu composit.

Dư nợ ngày càng nhiều

Những tưởng việc đầu tư thuyền to máy lớn sẽ mang lại hiệu quả vượt trội, nào ngờ tình hình diễn tiến theo chiều hướng hoàn toàn trái ngược. Xuất phát từ nhiều nguyên do, hiệu quả kinh tế thu về chưa tương xứng với nguồn kinh phí bỏ ra.

Qua theo dõi thực tế, thời gian qua ngành nghề khai thác gặp nhiều khó khăn do nguồn lợi trên biển suy giảm mạnh, sản lượng thu về thấp, trong khi chi phí đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất (nguyên liệu, nhân công…) tăng cao. Hàng loạt phương tiện gặp sự cố liên miên kéo theo số ngày “nằm bờ” ngang ngửa thời gian vươn khơi, lợi nhuận thu về không đáng kể nên dư nợ ngân hàng ngày càng phình to, dần dà dẫn đến tâm lý chán nản của các chủ tàu.

Những con số thống kê đã nói lên tất cả, tính đến cuối tháng 4/2019 có 81/104 tàu đã đến thời hạn trả nợ ngân hàng, đáng báo động khi một nửa số chủ tàu nói trên chưa có phương án trả nợ theo cam kết. Qua rà soát có 20 chủ tàu cố tình chây ỳ, nợ xấu đạt 163 tỷ/774 tỷ đồng dư nợ cho vay.

NĐ 67 là một chủ trương lớn, không chỉ góp phần hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất ngành nghề thủy sản mà còn gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Mang trên mình trọng trách lớn lao nhưng quá trình thực thi lại thiếu sự gắn kết cần thiết, giữa các bên liên quan (chính quyền, ngân hàng, bảo hiểm, ngư dân) chưa hình thành một khối thống nhất.

Thế nên khi xảy ra sự cố thì bên này đùn đẩy bên kia, mỗi bên đều khư khư bảo lưu quan điểm khiến quá trình xử lý mất nhiều thời gian và thiếu sự nhất quán.

Lo ngại hơn cả là thái độ của chủ tàu. Giá trị một con tàu rất lớn, bình quân trên dưới 10 tỷ đồng, có những chiếc vượt gấp đôi con số này.

Trường hợp tự cáng đáng được chỉ đếm trên đầu ngón tay, phần đa đều phải “cậy nhờ” đến ngân hàng. Lạ thay, dù chi ra cả núi tiền nhưng nhiều ngư dân lại thờ ơ, họ cơ bản đều mù mờ trong quá trình tiếp cận thông tin, điều này không chỉ phát sinh những khoản phí không đáng có mà còn gia tăng thêm mức độ rủi ro.

Như trường hợp của ông Trương Văn Thông và Trương Quang Hà (cùng trú tại thị xã Hoàng Mai). Khi nhận thấy quá trình đánh bắt không đạt kết quả như mong muốn đã quyết định thay đổi hình thức hoạt động, chuyển từ nghề lưới vây sang lưới chụp, đồng thời đầu tư thêm tiền của trang bị máy móc và nâng cấp hệ thống bóng đèn chiếu sáng.

Râu ông nọ cắm cằm bà kia khiến hệ thống thiếu sự đồng bộ, cộng thêm nhiều nguyên nhân khách quan khác nên kết quả thu về chẳng khá khẩm hơn là bao. Sự việc kéo dài đẩy họ vào tình cảnh khốn khó, đêm ngày ám ảnh trong vòng xoáy nợ nần.

Thông thường mỗi chuyến ra khơi kéo dài trên dưới chục ngày, trừ thời gian bảo dưỡng, chuẩn bị nguyên liệu thì mỗi tháng cần vươn khơi 2 lượt mới đảm bảo cho thu chi.

Xuyên suốt quá trình hoạt động nhiều chủ tàu thua lỗ thực sự, nhưng cũng có không ít trường hợp cố tình “tát nước theo mưa”, đáng nói việc này xuất phát từ chính kẽ hở của nghị định mà ra.

Chi tiết hơn, tại khoản C điều 4 về chính sách tín dụng đề cập: “Đóng mới tàu khai thác hải sản xa bờ, trường hợp tàu vỏ thép, vỏ vật liệu mới có tổng công suất máy chính từ 400CV đến dưới 800CV, chủ tàu được vay vốn ngân hàng tối đa 90% tổng giá trị với lãi suất 7%/năm, trong đó chủ tàu trả 2%/năm, ngân sách nhà nước cấp bù 5%/năm.

Trường hợp tàu có tổng công suất máy chính từ 800CV trở lên, chủ tàu được vay vốn ngân hàng thương mại tối đa 95% tổng giá trị với lãi suất 7%/năm, phải trả 1%/năm, ngân sách nhà nước cấp bù 6%/năm. Đối với tàu vỏ gỗ, chủ tàu được vay vốn ngân hàng thương mại tối đa 70% tổng giá trị đầu tư, áp dụng lãi suất 7%/năm, chủ tàu trả 3%/năm, ngân sách nhà nước cấp bù 4%/năm”.

Nghị định cũng nói rõ: “chủ tàu được thế chấp giá trị tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản để bảo đảm khoản vay”.

Liên quan đến tình trạng chây ỳ, không hợp tác, tháng 4/2019 UBND tỉnh Nghệ An đề nghị TAND tỉnh chỉ đạo TAND các huyện, thị xã đẩy nhanh quá trình xét xử đối với các chủ tàu bị ngân hàng khởi kiện. Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu lợi dụng chính sách để trục lợi cần kịp thời tham mưu để xử lý theo quy định. Chỉ đạo vậy nhưng tình hình vẫn căng như dây đàn.

Những tưởng việc tạo điều kiện tối đa sẽ sớm cụ thể hóa được mục tiêu, nào ngờ đây là nguồn cơn nảy sinh hàng loạt vấn đề rắc rối: “Đành rằng chủ tàu phải có trách nhiệm chi trả, tuy nhiên việc được thế chấp lại giá trị tài sản cũng như khoản đối ứng quá thấp vô hình chung dẫn đến thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm của một số ngư dân”, một cán bộ ngân hàng bộc bạch.

Nỗi lòng người trong cuộc

Thông thường mỗi chuyến ra khơi kéo dài trên dưới chục ngày, trừ thời gian bảo dưỡng, chuẩn bị nguyên liệu thì mỗi tháng cần vươn khơi 2 lượt mới đảm bảo cho thu chi. Nhưng thực tế nhiều tàu cá hoạt động cắc bụp, qua rà soát có đến 45/104 đánh bắt không hiệu quả, cơ bản chỉ hòa và thua lỗ.

Hộ ông Trương Thanh Thủy (nghề lưới vây, chất liệu composite, công suất 822CV) có tàu xuất xưởng ngày 9/11/2016 nhưng sau 3 năm vẫn chưa một lần ra khơi, kéo theo tổng nợ quá hạn 1,5 tỷ đồng. Hay như tàu vỏ thép của ông Nguyễn Văn Lý, qua 2 năm rưỡi mới đi biển vỏn vẹn 17 chuyến, lúc này đang nợ quá hạn hơn 1,2 tỷ đồng. Tương tự là ông Nguyễn Văn Hà (17 chuyến, nợ trên 1 tỷ), hay các ông Nguyễn Do Thái (20 chuyến, nợ hơn 2,1 tỷ), Phạm Bá Thu (18 chuyến, nợ gần 1,6 tỷ), Hoàng Văn Hoa (14 chuyến, nợ hơn 2 tỷ)…

“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, trái khoáy nhất có lẽ là trường hợp của ông Nguyễn Xuân Yêm (xã Quỳnh Lập, thị xã Hoàng Mai). Năm 2016 ông cùng em trai (Nguyễn Phúc Lạc) bàn bạc, thống nhất đăng ký đóng mới tàu gỗ với kinh phí trên 9 tỷ đồng. Hạ thủy từ tháng 10/2016 nhưng vắt qua tận 2017 mới đi vào khai thác được chuyến đầu tiên, đây như thể điềm gở báo hiệu điều không may. Chỉ sau đó không lâu, ông Yêm mất đột ngột.

Bao nhiêu của nả, vốn liếng dồn hết vào canh bạc nay tin dữ thi nhau ập đến khiến niềm tin hao mòn trông thấy. Nhưng trót đâm lao đành phải theo lao, dù muốn hay không anh Nguyễn Phúc Bình, con trai cả của ông Yêm phải đứng ra thay cha mình cáng đáng trọng trách lớn lao. Nhưng xem chừng vận rủi vẫn chưa chịu buông tha, nội trong năm 2018 tàu cá liên tiếp gặp sự cố, nghiêm trọng hơn cả là lần sửa chữa máy phát điện và dàn bóng điện cao áp, kinh phí “ngốn” 800 triệu đồng.

Người thân nhà anh Nguyễn Phúc Bình đang lo ngay ngáy.

Ổn định chưa được bao lâu, tháng 3 vừa rồi bộ phận chân vịt lại trở chứng khiến gia đình mất đứt gần trăm triệu. Lợi nhuận thu về nhỏ giọt, trong khi các khoản chi tăng lên với tốc độ phi mã khiến ai nấy đều hoang mang tột độ.

“Kinh phí hoạt động rất tốn kém, mỗi chuyến đi dao động từ 100 – 150 triệu đồng. Mưa thuận gió hòa may ra còn tích cóp được đôi chút, chứ với tình trạng thu không bù chi như bấy lâu chẳng chóng thì chày tình hình sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát”, bà Trần Thị Lượng, vợ ông Lạc âu lo.

Bà Lượng quả quyết, khoản nợ quá hạn gần 400 triệu đồng 2 gia đình đang phải gồng gánh vẫn chưa thấm tháp vào đâu so với thực tế. Lẽ ra khi tàu thuyền gặp sự cố, phía bảo hiểm phải xắn tay xử lý kịp thời, đằng này họ dửng dưng mặc chúng tôi kêu than hết lần này lượt khác. Tiến thoái lưỡng nan, hết cách mới phải tính đến phương án vay nóng. Mà vay nóng thì cuộc sống thêm cơ cực.

Mỏi mòn ngóng đợi bảo hiểm

Nhiều ngư dân vô cùng bất an khi không được lựa chọn đơn vị bảo hiểm ưng ý. Việc công ty PJICO Nghệ An “độc quyền” bảo hiểm tàu cá 67 đã làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi chính đáng của các chủ tàu. Không ít phương tiện hư hỏng nhưng bảo hiểm lại thờ ơ.

Theo tổng hợp của Phòng Kinh tế – thị xã Hoàng Mai, các hộ Nguyễn Phúc Bình, Trương Văn Thông, Trương Quang Hà hay Lê Hội Đức đến nay vẫn mỏi mòn ngóng đợi dù sự cố xảy ra từ đời tám hoánh.

VIỆT KHÁNH
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s