“Làng chài” bên bờ sông Hàn

Thứ tư, 22/01/2020 21:15 GMT+7

Biên phòng – Nằm sát bên bờ sông Hàn, Khu dân cư làng cá Địa Bảo (phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng) là thế giới thu nhỏ của ngư dân Đà Nẵng mà ở đó, mỗi gia đình là một mảnh ghép, phản ánh chân thực đời sống của những người dân vốn sống dựa vào biển. Qua thời gian, thành phố ngày càng phát triển, cuộc sống có nhiều đổi thay, nhưng không vì thế mà làm mất đi tinh thần cộng đồng vốn đã hình thành từ rất lâu của những con người mộc mạc, chân chất này.

d6e8_17a

Người dân ở Khu dân cư làng cá Địa Bảo gỡ lưới sau mỗi chuyến đi biển về. Ảnh: Trúc Hà Tiếp tục đọc ““Làng chài” bên bờ sông Hàn”

Việt Nam begins to realise marine aquaculture potential

vietnamnews – Update: October, 19/2019 – 08:13
Breeding fish in floating cages in Vũng Tàu City’s Long Sơn Commune. – VNA/VNS Photo Hoàng Nhị

HCM CITY – Coastal aquaculture is being developed in many localities but the output is very small compared to the country’s potential, experts have said.

The marine aquaculture area and output increased by 20 per cent every year since 2010 to 258,000ha and 431,600 tonnes last year.

The most popular species are fish, bivalve molluscs and crustacean species besides seaweed. Tiếp tục đọc “Việt Nam begins to realise marine aquaculture potential”

Vùng bãi ngang, những mảng màu sáng – tối: 5 bài

Bến cá Ngư Lộc sau một chuyến vươn khơi.

***

Vùng bãi ngang, những mảng màu sáng – tối

10/06/2019, 06:45 (GMT+7)

LTS: Cùng với Nghi Sơn, Vũng Áng, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng… thu hút hàng ngàn nhà đầu tư vào khai thác tiềm năng lợi thế thì vùng biển Bắc Trung bộ vẫn còn đó những gam màu tối.

Biết bao nông dân, doanh nghiệp đổ mồ hôi sôi nước mắt cho những ý tưởng làm giàu nhưng bất thành. Họ thiếu hụt về tài chính, tri thức, định hướng, hay sự hoành hành của thiên tai và cả nhân tai. May mắn lắm, một vài nơi có được của ăn của để nhưng ánh hào quang ấy cũng chỉ lấp lánh trước viễn cảnh bấp bênh.

Loạt bài viết này chỉ ra thực trạng và đặt ra những câu hỏi, giải pháp nào để vùng bãi ngang này được quan tâm xác đáng, phát triển mạnh như tiềm năng vốn có của nó.

Tiếp tục đọc “Vùng bãi ngang, những mảng màu sáng – tối: 5 bài”

Đẩy mạnh nuôi tôm bền vững ở Việt Nam

English: Pushing Vietnam’s shrimp industry toward sustainability

  • Nuôi trồng tôm là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất Việt Nam, và chính phủ đang thúc việc mở rộng ngành công nghiệp này bằng các kế hoạch [được thông qua] năm ngoái để đẩy mạnh giá trị xuất khẩu từ 3 tỷ đô năm 2016 đến 10 tỷ đô năm 2025.
  • Tuy nhiên, các vấn đề môi trường quan trọng liên quan đến cách thức nuôi trồng hiện giờ sẽ gây ra suy thoái rừng, sói mòn, sụt lở đất và xâm nhập mặn đe dọa tính ổn định của cả vùng Mekong
  • Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế đang hoạt động dnâng cao phương thức nuôi trồng tôm ở nước này, với trọng tâm là nông dân quy mô nhỏ
  • Tuy nhiên, thực tế cho thấy hầu tết nông dân đều e ngại thay đổi

LƯU VỰC SÔNG MEKONG, Việt Nam – Ông Nguyễn Mạnh Hùng, một nông dân nuôi tôm đã mất trắng ao tôm vào năm 2016 sau một chuỗi thiên tai hạn hán và ngập lụt. Ông Hùng và gia đình sống dựa vào đất trong suốt 27 năm qua, cùng ba con, nên mất mát này gây chấn động lớn tới gia đình ông.

“[Đầu tiên], đất trở nên xấu đi, hạn hán. Anh có thể nhìn vào đất và thấy những khối trắng”, ông Hùng nói với phóng viên Mongabay. “Chẳng có thứ gì có thể sống trên đất này, nước cũng hiếm”.

Giống như rất nhiều nông dân nuôi tôm quy mô nhỏ ở vùng này, ông Hùng đã sử dụng phương pháp thâm canh nhằm đạt được sản lượng cao. Ở mô hình canh tác này, nông dân giải tỏa đất càng nhiều càng tốt để làm ao tôm, thường có bạt lót ở lòng ao.

“Hồi xưa chúng tôi nuôi tôm trong ao, đào bằng tay, sau đó khi có tiền chúng tôi chuyển sang đào bằng máy”. Ông Hùng nhớ lại. “Anh phải đốn cây để làm ao: một ao chính lớn, một ao để chế biến và ba ao nhỏ bên cạnh”. Tiếp tục đọc “Đẩy mạnh nuôi tôm bền vững ở Việt Nam”

Biến động bờ biển Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau qua phân tích ảnh vệ tinh (1973-2014)

ĐMT – ON 

Manon Besset, Edward J. Anthony, Guillaume Brunier et Philippe Dussouillez

  1. Giới thiệu

Đồng bằng sông Cửu Long (hình 1) được coi là đồng bằng lớn thứ ba trên thế giới với diện tích gần 100.000 km² (Coleman và Huh, 2004). Với 18 triệu dân, ĐBSCL thâm canh nông nghiệp gồm ruộng lúa, cây ăn quả cũng như nuôi tôm và cá, từng loại chiếm 60%, 70% và 60% tổng sản lượng của Việt Nam (Uỷ ban sông Mekong, 2010 ). ĐBSCL được mô tả như vựa lúa của Đông Nam Á, được nối với một con sông với chiều dài 4.750 km và lưu vực thoát nước khoảng 832.000 km² (Milliman và Ren, 1995). Lưu lượng nước trung bình ước tính của sông Mekong khoảng 14.500 m³/s (Uỷ ban Sông Mekong, 2010). Chế độ thuỷ văn hàng năm theo mùa với một mùa lũ (tháng 5 đến tháng 10), trong đó trầm tích của sông được đưa đến đồng bằng và bờ biển. Ước tính tải lượng trầm tích hàng năm của sông Mekong tại Kratie, Campuchia, chỉ ở thượng nguồn đồng bằng (hình 1), dao động từ 50 đến 160 Mt. Gió mùa Ấn Độ cũng tương ứng với sóng năng lượng thấp từ phía tây nam gây suy yếu dòng dọc bờ về phía Đông Bắc. Trong mùa này, lượng bùn cao từ sông Mekong chủ yếu lắng đọng trong khu vực gần bờ biển của các cửa sông phân lưu (Wolanski et al, 1998;.. Unverricht et al, 2013), khác với với mùa khô, lượng bùn mang tới do sóng mạnh bởi gió Đông Bắc Thái Bình Dương (hình 1). Trầm tích vận chuyển dọc theo phía tây nam từ cửa sông bởi những đợt gió tín phong, sức gió và thủy triều. Dải triều giảm từ khoảng 3m vào mùa xuân dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa xuống dưới 1m ở Vịnh Thái Lan, cũng như vùng biển được che chắn từ các sóng theo mùa Thái Bình Dương có năng lượng cao hơn.

Vùng ĐBSCL phát triển nhanh để hình thành đường bờ dài 700 km ở Biển Đông từ 5,3 đến 3,5 ngàn năm với tốc độ bồi tụ lên đến 16 m/năm (Tạ et al., 2002). Khi tiếp xúc với sóng biển ngày càng tăng, tỷ lệ này giảm xuống dưới 10 m/năm ở cửa sông. Tuy vậy, tỷ lệ này vẫn ở mức cao lên đến 26 m/năm trong khu vực Cà Mau ở phía tây nam (Ta và cộng sự, 2002). Sự chênh lệch về tỷ lệ này là do hình thái lệch của đồng bằng về phía tây nam (hình 1). Sự khác biệt này cũng  phản ánh sự biến đồi kích thước hạt, từ cát ưu thế ở cửa sông, nơi bị chi phối bởi các giồng cát (Tamura et al., 2012), đến bùn ưu thế khu vực phía tây trong quá khứ là rừng ngập mặn.

Hình 1: Khu vực nghiên cứu. A: Lưu vực sông Mekong và phần nội địa với sáu lưu vực sông. B: Vùng ĐBSCL Việt Nam. Đồng bằng và một phần mạng lưới kênh rạch và đê. C: Sóng Biển Đông. (Dữ liệu Wavewatch III từ Trung tâm Dự báo Môi trường Quốc gia (NCEP) Tiếp tục đọc “Biến động bờ biển Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau qua phân tích ảnh vệ tinh (1973-2014)”