Đẩy mạnh nuôi tôm bền vững ở Việt Nam

English: Pushing Vietnam’s shrimp industry toward sustainability

  • Nuôi trồng tôm là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất Việt Nam, và chính phủ đang thúc việc mở rộng ngành công nghiệp này bằng các kế hoạch [được thông qua] năm ngoái để đẩy mạnh giá trị xuất khẩu từ 3 tỷ đô năm 2016 đến 10 tỷ đô năm 2025.
  • Tuy nhiên, các vấn đề môi trường quan trọng liên quan đến cách thức nuôi trồng hiện giờ sẽ gây ra suy thoái rừng, sói mòn, sụt lở đất và xâm nhập mặn đe dọa tính ổn định của cả vùng Mekong
  • Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế đang hoạt động dnâng cao phương thức nuôi trồng tôm ở nước này, với trọng tâm là nông dân quy mô nhỏ
  • Tuy nhiên, thực tế cho thấy hầu tết nông dân đều e ngại thay đổi

LƯU VỰC SÔNG MEKONG, Việt Nam – Ông Nguyễn Mạnh Hùng, một nông dân nuôi tôm đã mất trắng ao tôm vào năm 2016 sau một chuỗi thiên tai hạn hán và ngập lụt. Ông Hùng và gia đình sống dựa vào đất trong suốt 27 năm qua, cùng ba con, nên mất mát này gây chấn động lớn tới gia đình ông.

“[Đầu tiên], đất trở nên xấu đi, hạn hán. Anh có thể nhìn vào đất và thấy những khối trắng”, ông Hùng nói với phóng viên Mongabay. “Chẳng có thứ gì có thể sống trên đất này, nước cũng hiếm”.

Giống như rất nhiều nông dân nuôi tôm quy mô nhỏ ở vùng này, ông Hùng đã sử dụng phương pháp thâm canh nhằm đạt được sản lượng cao. Ở mô hình canh tác này, nông dân giải tỏa đất càng nhiều càng tốt để làm ao tôm, thường có bạt lót ở lòng ao.

“Hồi xưa chúng tôi nuôi tôm trong ao, đào bằng tay, sau đó khi có tiền chúng tôi chuyển sang đào bằng máy”. Ông Hùng nhớ lại. “Anh phải đốn cây để làm ao: một ao chính lớn, một ao để chế biến và ba ao nhỏ bên cạnh”.

Tuy nhiên không có cây để giữ dinh dưỡng trong đất hoặc ngăn chặn nước mặn xâm nhập, trang trại tôm của ông Hùng bị chính những rủi ro đó đe dọa. Cùng với hạn hán, một loạt những trận lụt lớn vào năm 2002, 2008, và 2016 đã rửa trôi trầm tích dưới lòng ao, và đất của ông Hùng cuối cùng bị thoái hóa quá nghiêm trọng khiến ông không thể sử dụng được nữa. Sau nhiều năm vay mướn tiền bạc, mất mùa và mất trắng toàn trang trại, giờ đây gia đình ông Hùng nợ ngân hàng trên 1 tỷ đô, ông nói.

A young farmer inspects his shrimp on an intensive shrimp farm in Long An Province, Vietnam. Image by Zoe Osborne for Mongabay.

Ảnh: Một nông dân trẻ đang kiểm tra tôm ở trang trại thâm canh tôm ở tỉnh Long An, Việt Nam. Ảnh của Zoe Osborne

Tình trạng của ông Hùng quá quen thuộc ở Việt Nam. Tuy nhiên nuôi trồng tôm vẫn phổ biến ở đây, vì mặc dù rủi ro cao, nhưng tiềm năng thu nhập cũng rất cao. Điều này đúng ở cấp độ quốc gia. Ngành tôm là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất Việt Nam, và chính phủ đang thúc đẩy mở rộng ngành công nghiệp này, bằng cách công bố các kế hoạch vào năm ngoái nhằm thúc đẩy giá trị xuất khẩu từ 3 tỷ đô năm 2016 lên tới 10 tỷ đô năm 2025.

 

Tuy nhiên phương thức canh tác hiện tại gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng về môi trường. Thoái hóa rừng, xói mòn, tình trạng sụt lún nhanh và mức độ mặn tăng đang đe dọa tính ổn định của cả vùng Mekong, và mặc dù nuôi trồng tôm không phải là nguyên nhân chính, nhưng cũng là một tác nhân quan trọng của vấn đề kể trên.

Do đó, chính phủ Việt Nam và rất nhiều các tổ chức quốc tế đang làm việc cùng nhau nhằm cải thiện phương thức nuôi trồng tôm ở nước này, với trọng tâm là các nông dân quy mô nhỏ như ông Hùng. Họ đang đề ra nhiều mục tiêu mới cho nuôi trồng thủy sản bền vững cùng với các ưu đãi cho nông dân nhằm đạt được mục tiêu này, nhưng thực tế cho thấy phần lớn nông dân e ngại thay đổi.

Duong Le, an intensive shrimp farmer in Long An province, Vietnam, with the feed and medical supplements he uses to keep his shrimp healthy. Image by Zoe Osborne for Mongabay.

Ảnh: Ông Dương Lê, một nông dân thâm canh tôm ở tỉnh Long An, Việt Nam, với thức ăn và thuốc mà ông dùng để giữ tôm khỏe mạnh. Ảnh của Zoe Osborne

Nông dân chịu sức ép khi vùng đồng bằng sông Mekong bị thiệt hại

Mặc dù các trang trại thâm canh tôm chiếm ít hơn 10% của 620,000 hecta (1.5 triệu mẫu tây) sản xuất tôm, các trạng trại này đóng góp khoảng 80% tổng sản lượng tôm của cả nước. Phương thức có tên trang trại nuôi tôm quảng canh cải tiến cũng do các nông hộ thực hiện, nhưng với chi phí đầu vào và sản lượng thấp hơn, lại tốn diện tích hơn rất nhiều: khoảng một nửa đất sản xuất tôm của cả nước (337,000 hecta hoặc 833,000 mẫu tây). Cả hai phương thức này đòi hỏi giải tỏa rừng ngập mặn trên diện rộng, cải tạo đất toàn diện, và sử dụng rất nhiều thức ăn nhân tạo và hóa chất, nên cần có biện pháp cải thiện cả hai phương pháp này.

Đầu tiên và quan trọng nhất, những trang trại tôm này là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới thoái hóa rừng. Trong một trang trại nuôi tôm quy mô nhỏ, mỗi đơn vị diện tích rừng ngập mặn và các loại cây khác bị giải tỏa cho sản xuất tôm, dần dần sẽ dẫn đến một dải bờ biển rộng lớn có nguy cơ xói mòn cao. Đây là vấn đề nghiêm trọng ở một khu vực rất gần với mực nước biển, đe dọa tương lai của cả vùng sản xuất tôm và vùng sinh thái rộng lớn, theo ông Andrew Wyatt, giám đốc chương trình về lưu vực sông Mekong của tổ chức phi chính phủ đóng tại Anh, có tên Công đoàn quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN).

“Rất nhiều bờ biển [của Việt Nam] rất dễ bị tổn thương do không có cây xanh bao phủ”. Ông Wyatt trao đổi với Mongabay. “Rừng ngập mặn [ven biển] rồi sẽ biến mất hoàn toàn …. Và rồi sau đó tất cả đất canh tác tôm đằng sau dãy rừng này sẽ hoàn toàn bị phơi nhiễm với thiên tai như bão và gió.

Một vấn đề lớn khác của những phương thức canh tác tôm này là ảnh hưởng của chúng tới sụt lún đất. Nhằm duy trì chất lượng nước và độ mặn của ao, nông dân liên tục bơm nước ngầm khiến cho mực nước sông Mekong giảm xuống, theo ông Wyatt. Từ đó, mực nước biển có điều kiện xâm nhập sâu vào khu vực đồng bằng, đe dọa nguồn cung thực phẩm của Việt Nam và nền kinh tế nói chung. Lưu vực đồng bằng sông Cửu Long sản xuất một nửa lương thực của nước này, và 70% sản lượng gạo được xuất khẩu, và một trong những vùng có năng suất sản xuất cao nhất và đông dân cư nhất Việt Nam. Nhưng khi mức độ mặn tăng lên, năng suất gạo và kể cả tôm bị suy giảm.

Tôm có mức chịu mặn tối đa”. Ông Wyatt nói. “Trong điều kiện khí hậu cực đoan….độ mặn của nước sông nơi những vùng thâm canh tôm có thể vượt mức tối đa cho phép”.

Duong Le feeds shrimp on his intensive shrimp farm in Long An Province, Vietnam. Image by Zoe Osborne for Mongabay.

Ảnh: Ông Dương Lê cho tôm ăn ở trang trại thâm canh tôm của ông ở tỉnh Long An, Việt Nam. Ảnh của Zoe Osborne

Trang trại thâm canh tôm thẻ chân trắng của ông Dương Lê ở tỉnh Long An, ở phía bắc đồng bằng sông Cửu Long. Ông cho biết mặc dù ông không bị mất đất do xói mòn, mức độ mặn của trang trại của ông đã tăng lên trong những năm qua. Nhằm đối phó với mức độ mặn tăng lên, ông giờ phải bơm thậm chí nhiều nước ngầm vào ao hơn tất cả những lần trước đây.

Tháng 9 vừa qua, tại hội thảo kéo dài hai ngày tham gia bởi những quan chức hàng đầu Việt Nam, Trần Thức, Phó Chủ tịch ban tư vấn về biến đổi khí hậu của chính phủ, cho rằng sụt lún là một trong những mối đe dọa cấp bách nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Các nhà chức trách cho biết khu vực này đã lún 5-10 cm (2-4 inch) từ khoảng 2010-2015, và tiếp tục bị sụt lún từ từ. Cộng thêm suy thoái đang diễn ở khoảng 300 héc ta (741 mẫu tây) đất hàng năm kể từ năm 2005 – và chính phủ cảnh báo rằng khu vực đồng bằng sông Cửu Long có thể biến mất hoàn toàn trong vòng 100 năm tới nếu không có biện pháp mạnh mẽ nào được áp dụng ngay bây giờ.

Một vấn đề nữa đối với các trang trại trồng tôm là ô nhiễm. Hầu hết nông dân trồng tôm ở Việt Nam dựa rất nhiều vào hóa chất, thuốc và thực phẩm bổ sung để giữ cho tôm khỏe mạnh, hầu hết những chất này sẽ được thải ra nguồn nước chung cùng với nước ao.

“Khi tôi bắt đầu mùa vụ mới, đầu tiên tôi rửa nước, sao đó thả tôm giống và cho ăn chất dinh dưỡng và thuốc cứ vài ngày một lần”, ông Lê nói. “Khi tôm lớn, tôi phải cho ăn thường xuyên hơn – hàng ngày, cả ngày lẫn đêm nếu cần”.

Ông Lê thả dung dịch chất hóa học vào ao hai lần mỗi vụ để làm sạch nước, và giúp tôm tránh khỏi dịch bệnh. “Cái này tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên có thể tạo ra các yếu tố khiến tôm bị bệnh”, ông nói. “Tôm có thể bị đốm trắng, hoặc đôi khi gan bị bệnh khiến cho đầu tôm không phát triển mà chỉ có thân tôm lớn lên, đầu tôm nhỏ dần đi dẫn đến tôm bị chết”.

Ông Lê không bao giờ để đất nghỉ ngơi để xử lý ao nhằm giảm hóa chất và chất dinh dưỡng trong nước trước khi thải ra nguồn nước chung. Bởi vì nó không sinh ra lợi nhuận. “Khi tôi thu hoạch tôm, tôi thải nước cũ ra sông và bơm nước mới vào. Sau đó tôi xử lý nước và bắt đầu vụ mới” ông nói.

Nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa thâm canh tôm và ô nhiễm hữu cơ ở các đường thủy lân cận. Trang tin điện tử Vietnamnet cho biết vì hầu hết các trang trại thâm canh thải nước ao mà không qua xử lý, nước mà nông dân bơm mới vào ao cũng không sạch. Điều này khiến cho lượng hóa chất được sử dụng tăng lên nhằm loại bỏ vật chất hữu cơ ra khỏi nước, khiến cho nước càng ô nhiễm hơn và gây ra một chu trình luẩn quẩn.

Rất nhiều nông dân đơn giản là không nhận thức được tác hại do trang trại của họ có thể gây ra. Khi được hỏi có xem xét tác động môi trường của trang trại của mình không, ông Lê cho rằng các nhà máy đóng tại thượng nguồn khu vực trang trại của ông là tác nhân gây ảnh hưởng chứ không phải ông.

Water aerators on an intensive shrimp farm in Long An Province, Vietnam. Image by Zoe Osborne for Mongabay.

Ảnh: Máy sục khí ở một trang trại thâm canh tôm ở Long An, Việt Nam. Ảnh của Zoe Osborne

Nông dân quy mô nhỏ chuyển đổi sang mô hình canh tác kết hợp một cách chậm chạm

Đối mặt với nguy cơ đồng bằng sông Cửu Long bị suy thoái, và thách thức phải làm việc với hàng ngàn nông dân nhỏ như ông Hùng và ông Lê, chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế, như IUCN và World Bank, đang vật lộn với cách thức thay đổi ngành nuôi tôm.

Tháng 10 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký một cam kết quan trọng có tên Quyết định 120 hướng tới mô hình phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long. Quyết định này đưa ra các mục tiêu môi trường cụ thể đối với ngành thủy sản của vùng, theo ông Wyatt. Và nhiều sự án đã được triển khai nhằm hiện thực hóa các mục tiêu này.

Một dự án có tên Rừng ngặp mặn và Thị trường (MAM) khởi động năm 2013 do IUCN thực hiện và chủ yếu do ông Wyatt quản lý. Chương trình giúp chuyển đổi phương thức canh tác tôm thâm canh và quảng canh cải tiến sang phương thức chú trọng đến môi trường có tên nuôi trồng tôm kết hợp cho phép tôm và rừng ngập mặn cùng nhau sinh trưởng.

MAM cung cấp ưu đãi cho nông dân nhằm tăng diện tích cây cối ở trang trại của họ và duy trì diện tích cây trồng hiện thời. Dự án MAM yêu cầu nông dân nuôi tôm ở hệ thống đường thủy có rừng ngập mặn, xa khỏi hệ thống đường thủy chính của sông Mekong. Tôm sinh trưởng trong môi trường tự nhiên, không có hóa chất và thường sinh trưởng cùng với các loài có giá trị kinh tế khác, như ngao, sò và hàu. Nông dân được tập huấn để đạt được tiêu chuẩn của chương trình, tôm của họ cuối cùng được chứng nhận hữu cơ Naturland, một tiêu chuẩn của Đức được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu. Trên 2000 nông dân đã đạt được giấy chứng nhận Naturland này sau giai đoạn một của dự án MAM vào năm 2016. Dự án mong muốn sẽ tập huấn và chứng nhận 3000 nông dân nữa đến cuối năm 2019.

Hệ thống canh tác kết hợp tôm và rừng ngập mặn không đòi hỏi phải sử dụng nước ngầm do cây bao phủ xung quanh mỗi ao nhằm duy trì độ mặn. Hệ thống này cũng giúp giữ lại các trầm tích, bảo vệ trang trại khỏi thoái hóa và bảo vệ bờ biển đặc biệt yếu này.

“Bờ biển này, trong vòng 50 năm tới sẽ biến mất. Nó sẽ bị sói mòn hoàn toàn”, ông Wyatt nói. “Do đó [các nông dân quy mô nhỏ] sẽ không có lựa chọn. Hoặc họ tiếp tục những việc họ đang làm và họ sẽ mất đất vì đất sẽ bị sụt lún và bởi vì nước biển dâng, hoặc họ phải chuyển sang hệ thống nuôi trồng tôm kết hợp với rừng ngập mặn”.

Do bị mất trắng nhưng phải lo cho gia đình, ông Hùng tham gia dự án MAM sau trận lụt 2016. Chính phủ cấp cho ông mảnh đất mới trong khuôn khổ chương trình bảo tồn yêu cầu bất kỳ hình thức canh tác nào cũng phải đạt được các tiêu chuẩn bôi trường, và cấm đốn hạ cây.

Nhưng theo ông Wyatt, rất hiếm khi nông dân quy mô nhỏ thực hiện những thay đổi lớn trừ khi họ phải trải qua cú sốc cực lớn. Do những khó khăn về kinh tế, rất nhiều nông dân nuôi tôm vẫn chọn cách thức thâm canh do năng suất cao hơn. Việt Nam tính đến nay đã có khoảng 50,000 héc ta (124,000 mẫu tây) đang áp dụng phương thức canh tác kết hợp rừng ngập mặn – tôm.

IUCN cho rằng phương thức nuôi tôm kết hợp là giải pháp thực tế nhất cho cả môi trường ở khu vực Đồng bằng sông Cửu long và ổn định tài chính dài hạn của các nông hộ quy mô nhỏ ở vùng này.

Mặc dù sản lượng kém hơn rất nhiều so với phương pháp nuôi trồng tôm truyền thống, tôm hữu cơ có thể được bán với giá cao hơn. Thêm vào đó, ở dự án MAM, nông dân không cần tốn công sức để giúp tôm sinh trưởng, và rủi ro bệnh dịch thấp, giúp giảm đầu tư xử lý nước, thuốc, kháng sinh và vitamins. “Phần lớn những gì chúng tôi thu được là lợi nhuận do chúng tôi không còn quá nhiều chi phí đầu vào”. Ông Hùng nói.

Sau khi bị mất trắng, chỉ tính ổn định của mô hình này đã đủ giữ ông Hùng gắn bó với dự án MAM. “Tôi biết chúng tôi sẽ không bị rơi vào tình trạng từ giàu có đến mất trắng chỉ trong một đêm nữa”. Ông nói. “Trước đó, sản lượng thì cao nhưng mọi thứ quá mong manh. Năm này anh có thể kiếm được rất nhiều tiền, nhưng năm tới anh lại mất trắng chỉ do độ mặn thay đổi vài độ hoặc trận gió lạc”.

An integrated mangrove-shrimp farm in Tra Vinh Province, Vietnam. Image by Jacob Weger.

Ảnh: Hệ thống canh tác kết hợp rừng ngập mặn – tôm ở Trà Vinh, Việt Nam. Ảnh của Jacob Weger

Siêu thâm canh đối với những trang trại lớn

Trong khi IUCN thúc đẩy phương pháp canh tác kết hợp phù hợp với nông hộ quy mô nhỏ, nhưng phương pháp này không phù hợp với tất cả các trang trại trong ngành nuôi tôm ở Việt Nam. Theo tổ chức này, phương pháp thâm canh tôm cũng có tương lai ở Việt Nam, nhưng chỉ ở quy mô lớn và công nghiệp, có cơ sở khép kín, và ở những vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long mà nhu cầu bao phủ rừng ngập mặn chưa quá cấp bách.

Công ty cổ phần Việt-Úc, công ty nuôi tôm có vốn đầu tư nước ngoài có cơ sở khắp Việt Nam, đang dẫn đầu thực hiện phương pháp có tên siêu thâm canh bằng cách di chuyển các ao tôm khỏi môi trường tự nhiên vào nhà kính dưới điều kiện kiểm soát gắt gao. “Chúng tôi nghĩ đây là cách duy nhất mà bạn có thể thâm canh tôm”. Ông Wyatt nói.

Theo báo điện tử Vietnamnet, sản lượng trên một héc ta của các trang trại này có thể cao hơn 10 đến 15 lần so với các trang trại thâm canh truyền thống có quy mô nhỏ, một yếu tố quan trọng trong mục tiêu của chính phủ là phát triển ngành tôm và tăng giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên vẫn tồn tại các rào cản cho mô hình này phát triển. Trong khi hầu hết các trang trại tôm của khu vực do các nông hộ quy mô nhỏ sở hữu, chỉ có vài trang trại lớn do nhà nước sở hữu hoặc các công ty tư nhân lớn dọc biển khu vực sông Mekong có giấy phép đầu tư từ 15-20 năm. Ông Wyatt nói ông muốn tìm cách thuyết phục những doanh nghiệp này chuyển đổi sang hình thức nuôi trồng tôm trong nhà kính.

Để phục vụ lợi ích của nhà nước và các đối tác tư nhân, ngành tôm Việt Nam đang hướng tới phương pháp sản xuất ổn định và bền vững, mặc dù chậm rãi. Theo ông Wyatt, sự thay đổi là cần thiết: Việt Nam hoặc phải thay đổi cách nuôi tôm, hoặc bị mất hàng trăm héc ta đất.

Mangrove seedlings sprout on the banks of an integrated mangrove-shrimp farm in Tra Vinh Province, Vietnam. Image by Jacob Weger.

Ảnh: Ươm giống cây ngập mặn ở trang trại kết hợp rừng ngập mặn – tôm ở tỉnh Trà Vinh, Việt Nam. Ảnh của Jacob Weger

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s