Lao Bảo – thành phố của một nửa dòng Sê Pôn – 3 kỳ

***

BÚT KÝ – PHÓNG SỰ DỰ THI VỀ 50 NĂM CHIẾN THẮNG KHE SANH:

Lao Bảo – thành phố của một nửa dòng Sê Pôn

Thị trấn Lao Bảo bây giờ nhìn từ trên cao. Ảnh: HT.
Thị trấn Lao Bảo bây giờ nhìn từ trên cao. Ảnh: HT.

 

Từ bước chân đầu tiên của đội quân Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho đến khi nhà tù khét tiếng do Pháp dựng lên, Lao Bảo được biết đến như chốn thâm sơn cùng cốc; chốn rừng thiêng nước độc mà con người đặt chân đến đó được xem như một đi không trở lại.

Bởi thế, tờ Đông Pháp thời báo số 755 ra ngày 11.8.1928 có bài bàn về “Hai ông Bửu Đình và Hồ Đắc Hiến ở Lao Bảo được dời vô Côn Lôn (Côn Đảo)” của Phan Khôi trong đó ông cắt nghĩa hai chữ “bị’ hay ‘được’. “Hai ông Bửu Đình và Hồ Đắc Hiến ở Lao Bảo được dời vô Côn Lôn chứ không phải bị dời vô Côn Lôn”. Bởi vì đày đi Lao Bảo là nơi gần hơn song không có ngày về, còn Côn Lôn là nơi xa hơn nhưng còn có ngày về.

Cái chốn khắc nghiệt tưởng chừng như bị thượng đế bỏ quên, đầy “ma ám” và lắm huyền tích thêu dệt dù nó chỉ cách đường Một chưa đầy trăm cây số. Cho đến một ngày sau khi tiếng súng vừa dứt, những nam thanh nữ tú, gia đình nhiều con cái của các xã ở vùng đồng bằng huyện Triệu Phong với hành trang là lòng nhiệt huyết và niềm vui nước nhà thống nhất đã chung lưng đấu cật biến nơi bạt ngàn lau sậy, hoang liêu  thành “đô thị vàng” sau gần nửa thế kỷ.

Nhặt bom trên những luống cày

Ngồi bên quán trà trên con đường mang tên nhà chí sỹ Lê Thế Tiết, người bị giam cầm tại nhà tù Lao Bảo trong những năm 1930 và hi sinh tại nơi này vào năm 1940, ông Đặng Quang Giải (70 tuổi ở khóm Cao Việt, thị trấn Lao Bảo) sờ lên vết sẹo ở ngực phải bồi hồi nhớ về những ngày đi “xăm bom”, vỡ đất.

Đó là mùa hè năm 1975, những thanh niên xã Triệu Phước (huyện Triệu Phong) theo tiếng gọi của Đảng xung phong đi kinh tế mới ở vùng lam sơn chướng khí Lao Bảo. Hào khí hừng hực khắp thôn xóm, cứ mong đến ngày đi tới vùng đất hứa ở nơi biên ải.

“Lúc chúng tôi đặt chân đến đây chỉ có vài ngôi nhà của người Vân Kiều sống lẻ loi, lưa thưa trải dài dọc sông Sê Pôn. Có lẽ hố bom nhiều hơn những nóc nhà. Khắp nơi bạt ngàn lau lách và cây cổ thụ. Đêm ngủ tạm nhà dân bản còn nghe rất rõ tiếng thú đi ngoài cửa sổ”, ông Giải cho hay.

Để có những thước đất canh tác đầu tiên, người dân cùng bộ đội, dân quân du kích đã cùng đi “xăm bom”. Mỗi người cầm một chiếc gậy, có đầu nhọn làm bằng kim loại. Cứ thế dàn hàng ngang. Mỗi hàng chừng chục người. Cứ thế mà bước đi, vừa đi vừa chọc cây gậy xuống đất. Nếu gặp kim loại thì đánh dấu để đào.

Thường thì bên cạnh những khu đất vừa xăm xong sẽ có một đống bom, đạn các loại ở bên cạnh. Đất vừa xăm xong sẽ giao lại cho các hộ gia đình canh tác. Có khi trên những luống cày đầu tiên bom lại trồi lên. Và cứ thế, người dân vẫn điềm nhiên, vô tư nhặt lên như nhặt một củ khoai vùi trong đất.

“Như mọi ngày, tôi cuốc đất để trồng sắn ở khoảnh đất bên nhà. Mới cuốc được vài nhát thì một tiếng nổ long trời. Một quả bom bi vừa nổ chát chúa, mảnh của nó găm vào ngực phải của tôi phía gần bả vai. Sức ép của quả bom làm cho mắt trái của tôi mờ hẳn. 3 tháng nằm bệnh viện và nhiều năm sau tôi mới phục hồi và cầm cuốc làm việc”, ông cho biết.

Ông Đặng Quang Giải kể lại những năm đầu lên vùng kinh tế mới. Ảnh: YMS.
Ông Đặng Quang Giải kể lại những năm đầu lên vùng kinh tế mới. Ảnh: YMS.

Với cách rà phá bom mìn bằng gậy xăm xuống đất như thể mò kim đáy bể. Để có “đất sạch” thì ít nhiều phải trải qua vài ba mùa vụ, khi đất được cày xới nhiều lần. Mỗi lần cày là một lần phát hiện bom mới. Nhưng để có mỗi mét vuông đất sạch thì máu, xương phải đổ xuống. Trong lịch sử khai hoang mở cõi và cải hóa đất đai, có lẽ sự gan lỳ, dũng cảm của những người Quảng Trị đã làm cho đất trời lung lay?

Những ngày vỡ đất khai hoang, tiếng bom nổ diễn ra như cơm bữa. Sau những tiếng nổ kinh hoàng đó là những tang thương. Người ta bỏ cuốc, bỏ cày lao theo tiếng nổ ấy để nhận diện xem có phải là người thân của mình hay không.

Ở cái xóm kinh tế mới có vẻn vẹn hơn hai chục ngôi nhà, cùng nhau tha phương từ làng quê, tối sớm có nhau; chia nhau củ sắn, miếng khoai thì cái tình thân ở chốn hoang sơn này có thua gì máu mủ!

Những con người không may mắn đã vĩnh viễn nằm xuống trên những luống cày của vùng đất hứa mà chưa kịp nhận thấy màu xanh của thành quả ở vùng kinh tế mới Lao Bảo này rất nhiều. Như ông Nguyễn Đức Viện ở khóm Cao Việt, bà Trần Thị Tâm ở khóm Duy Tân, ông Nguyễn Văn Du ở khóm An Hà…

Làm thuê cho… đồng bào thiểu số

Khi lương thực nhà nước cấp 3 tháng đã hết. Cái đói ập đến sau khi những cây sắn, cây khoai chỉ vừa kịp bén đất nảy mầm. Những năm khai hoang vùng đất hứa, người Pa Cô, Vân Kiều ở vùng đất Lao Bảo như bản Khe Đá, Ka Tăng, Ka Túp được xem như “địa chủ” trên những rẻo núi cao. Họ đã định cư ở đây hàng trăm năm. Người đồng bào quen sống với núi đá, hơi sương, sốt rét… nên đời sống của họ dù không giàu có nhưng cũng không đứt bữa như người anh em dưới xuôi lên.

Một điều có thể nói là “may mắn” cho người Vân Kiều khi nền kinh tế tập thể – hợp tác xã ở vùng kinh tế mới Lao Bảo diễn ra thì họ không tham gia (có thể do một số lý do nào đó) nên gạo sắn dư dã, có cái cất trữ. Do đó, người dân ở các tập đoàn sản xuất khi hoàn thành phần việc của mình mà muốn có thêm thu nhập thì phải đi làm chui cho người Vân Kiều.

Thậm chí, có gia đình phải lội sông Sê Pôn qua tận Lào để phát rẫy, dọn cây nhằm kiếm cơm ăn qua ngày đoạn tháng, cầm hơi đợi những chuyến “viện trợ” từ người thân ở đồng bằng lên thăm.

“Các thôn như Tân Kim, Duy Tân thì lên rẫy làm thuê cho các hộ ở bản Ka Túp; thôn Cao Việt thì làm ở bản Ka Tăng, Khe Đá. Cứ một ngày công là một giăng lúa (1 giăng khoảng 30 lon lúa). Nếu không lấy lúa thì có thể lấy sắn, lấy khoai.” – ông Giải cho biết.

Chính vòng tay đùm bọc của người đồng bào ở núi cao đã giúp người miền xuôi qua cơn bĩ cực. Những đùm lúa, đùm khoai và rau rừng có khi như “cho vay” một cách vô điều kiện từ tấm lòng trong sáng như nước sông Sê Pôn.

Ngoài làm thuê cho người đồng bào anh em, người dân kinh tế mới tìm mọi cách để bám trụ ở vùng đất này. Chính bom đạn, đói rét không làm họ nao núng mà còn giúp họ nghĩ ra những cách kiếm tiền, kiếm gạo bằng cách này hay cách khác. Khi nhưng rẫy sắn, nương khoai hay những tấm ruộng ít ỏi ở dọc khe suối chưa thu hoạch được, họ cùng nhau qua Lào, lùng sục trong những cánh rừng già dọc hai bên đường 9 để tìm xác máy bay. Vốn bản tính thông minh và lanh lợi họ mua vàng, nhôm từ xác máy bay gùi về Khe Sanh, Đông Hà bán. Lấy số tiền lời ấy, họ lại “bay” qua Lào cõng lương thực về chia nhau.

Có lẽ những chuyến giao dịch mua bán tự phát ấy đã mở đầu cho ngành xuất nhập khẩu của hai nước Việt – Lào thông qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo sau này?

(Còn nữa)

YÊN MÃ SƠN
***

Kỳ 2: Lao Bảo – Khúc khải hoàn của cỏ

Khu Thương mại Lao Bảo nằm ngay bên công viên văn hóa. Ảnh: VL.
Khu Thương mại Lao Bảo nằm ngay bên công viên văn hóa. Ảnh: VL.

 

Nhắc về những kỷ niệm tuổi thơ ở vùng biên ải, anh Nguyễn Phi Bảo cho biết, cũng như dưới đồng bằng, đất nước còn nghèo nên tuổi thơ những đứa trẻ nơi đâu cũng đói khổ. Nhớ nhất là theo chân ba mẹ đi cắt tranh sau hồi nhà để đánh tranh làm nhà mới. Cứ tay trái cầm nắm cây tranh, tay phải đưa liềm cắt.

Có lần cắt xong thả tranh xuống đất thì nửa con rắn lục xanh đuôi đỏ với cái đầu ngọ ngọe lẫn trong tranh. Hồi đó người dân bứt tranh, bứt cỏ thường bứt cả rắn đưa về nhà mà chẳng hay là chuyện quá bình thường.

Nhưng những điều đó chẳng làm người lớn bận tâm cho đến khi đám trẻ ngang lứa có món đồ chơi mới: Lượm những quả đạn, bom được người làm rẫy dồn lại dưới những gốc cây cổ thụ ra chơi vô tư, hồn nhiên xem chúng như những đồ vô hại. Cho đến một ngày làng dưới có dăm đứa trẻ cùng nhau đập đầu đạn. Một tiếng nổ xé trời vang lên, ngọn tre gãy ngã sập xuống.

Bên cạnh những hố bom chưa kịp lấp là những hố bom mới. Tiếng khóc vang lên. Sầu thương đến nỗi nhìn đâu đâu ở trên đỉnh núi, mây trắng cứ quằng ngang đỉnh như những chiếc khăn tang… “Chúng tôi đã lớn lên như thế: Khoai sắn, rắn lục đuôi đỏ lẫn trong cỏ, bom”, anh Bảo khắc khoải cho biết.

Căn cứ quân sự thành… công viên văn hóa

Dẫn chúng tôi ra Bồ Hồ, tên thường gọi của Công viên văn hóa trung tâm Lao Bảo, Phó Chủ tịch Nguyễn Phi Bảo chỉ tay về vị trí trụ sở làm việc của thị trấn: “Nơi đây hơn nửa thế kỷ trước là căn cứ pháo binh của Mỹ trong chiến dịch Lam Sơn 719. Ban đầu chúng đóng ở đồi 550, cạnh sông Sê Pôn để đánh sang Bản Đông (Lào)”.

Nơi đây là tọa độ lửa, là địa bàn trọng yếu của cuộc chiến đấu khốc liệt của quân dân ta ở Đường 9 Nam Lào. Đầu năm 1970, Bộ quốc phòng Mỹ vạch kế hoạch mang tên Dewey Canyon II, nhằm cắt đứt đường Hồ Chí Minh từ Lao Bảo đến Sê Pôn (Lào), chặn sự tiếp viện của miền Bắc vào chiến trường miền Nam.

Trong cuộc tháo chạy rút lui của quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1971 trong trận Đường 9 Nam Lào, ngay sát khu vực biên giơi Việt – Lào gần cửa khẩu Lao Bảo, lực lượng của ta đã chặn đánh hơn 100 xe tăng, xe thiết giáp. Lực lượng tăng thiết giáp này đã mất 60% số xe tăng và một nửa số xe bọc thép, địch tháo chạy không còn tổ chức nên đã bỏ lại nguyên vẹn 54 khẩu lựu pháo 105mm và 28 khẩu pháo 155mm. Có thông tin rằng, do “tiếc của”, máy bay Mỹ quay lại ném bom phá hủy số vũ khí này.

Những ai lớn lên ở xứ này đều biết khu vực căn cứ là thiên đường của vỏ đạn. Những ngày nghỉ học đám trẻ đều ra đây lượm ống liều và thuốc bồi. Ông liều đổi cà-rem còn thuốc bồi bán cho những người nhen bếp nấu củi. Hố bom biến thành ruộng lúa. Lâu dần người dân ngăn đập để trữ nước và ngày nay thành hồ lớn là trung tâm của công viên.

Dự án công viên trung tâm thị trấn đã triển khai giai đoạn 2 với tuyến đường bao quanh bờ hồ, cây xanh rợp bóng mát cùng với hệ thống điện chiếu sáng quanh hồ đã làm cho bộ mặt vùng biên ải thay da đổi thịt.

“Chỉ vài tháng nữa thôi, trụ sở làm việc của thị trấn sẽ đưa vào sử dụng. Đây là trụ sở bề thế nhất so với các xã thị trấn dọc đường 9 này. Còn kia sẽ làm nhà văn hóa trung tâm và quảng trường”, anh Bảo cho hay.

Trước mặt trụ sở mới là con đường chạy thẳng sang đến Quốc môn cửa khẩu Lao Bảo. Tại đây, bộ mặt phố núi bề thế và hiện đại bởi những công trình dịch vụ thương mại; những nhà hàng tiệc cưới quy mô và sang trọng bậc nhất tỉnh, các căn biệt thự xây theo kiểu Thái… đã khiến những ai biết rõ “lai lịch” vùng này chưa đầy hai chục năm trước còn là lỗ chỗ hố bom, rừng rậm thì “ngả nón” thán phục quả không ngoa!

Trong tiến trình khai phá và kiến thiết vùng đất mới của lịch sử loài người, từ miền Tây hoang dã tận xứ Hoa Kỳ hay những công cuộc xây dựng thần kỳ của Thâm Quyến xứ Tàu có lẽ sẽ rất khập khiễng nếu lấy Lao Bảo ra mà so sánh. Nhưng sự kiến thiết từ hố bom, từ nền móng của nhà tù để lên phố lên phường thì đó có phải là sự kiến thiết nhân văn nhất mà nhân loại được biết?

Từ đường Nguyễn Huệ ở ven bờ hồ, hoa giấy mùa này đua nhau nở. Hoa mai Lào vàng ruộm cả một gốc trời. Những người lao công xén cỏ quanh mép hồ, họ trồng thêm cỏ ở một số nơi. Mùi thơm của cỏ ngai ngái xông lên trong tiết trời lập hạ.

Lạ thật, chỉ mấy chục năm trước cỏ mọc miên man tận tường nhà. Cỏ mọc chen sắn, lấp khoai. Cỏ cuốc chỗ này lên chỗ kia. Người ta chỉ muốn đẩy cỏ ra thật xa khỏi đời sống nông nghiệp của mình nhưng hôm nay cũng tại nơi này người ta vun vén cho cỏ mọc. Vẫn là cỏ, nhưng cỏ ngày xưa là cỏ của đói khổ, cỏ hôm nay là cỏ hoan lạc cho người lao động vinh quang ngã lưng nhìn lên trời an nhiên.

Ngoài kia là những cần thủ đang say sưa tận hưởng những giây phút thanh bình sau giờ làm việc. Người già cùng nhau đi bộ quanh hồ. Người trẻ ngồi ghé đá ngắm hoàng hôn rơi… Tất cả gợi lên đời sống thanh bình, no đủ.

(Còn nữa)

YÊN MÃ SƠN
***

Kỳ cuối: Lao Bảo – Phù sa từ phía Lào

Xe ôtô đậu chật kín ở một đám cưới được tổ chức tại phố núi Lao Bảo. Ảnh: HT.
Xe ôtô đậu chật kín ở một đám cưới được tổ chức tại phố núi Lao Bảo. Ảnh: HT.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s