Tầm vóc Lê Hoàn – Kỳ 2, 3

  • Kỳ 1 : Mệnh nước
  • Kỳ 2: Định yên bờ cõi
  • Kỳ 3: Dựng Hùng triều ngọc phả, ra oai với nhà Tống

***

01:05 PM – 21/09/2014

(TNO) “Vua (Lê Đại Hành) đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục phiên di bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu tất thắng của vua tôi bọn họ, có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy” – sử thần Ngô Sĩ Liên.

Hình ảnh Lê Hoàn trong sách giáo khoa và trên sân khấu cải lương
Hình ảnh Thập đạo tướng quân Lê Hoàn trong sách giáo khoa – Ảnh tư liệu

Lên ngôi không bao lâu, Lê Hoàn đã phải ra trận. “Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông Chi Lăng. Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo, đem chém. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thủy thua trận, dẫn quân về. Vua đem các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chất đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư. Từ đó trong nước rất yên” (Đại Việt sử ký toàn thưĐVSKTT).

Đây là trận thắng đầu tiên của cuộc chiến tranh vệ quốc giữa một nước Việt độc lập nhưng bé nhỏ và non trẻ chống lại cuộc xâm lăng của một nhà nước Trung Hoa thống nhất, thắng lợi mà sử gia Lê Văn Hưu cho rằng “dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được”.

Chiến thắng lịch sử đó, cùng với những nỗ lực củng cố quốc lực của Lê Hoàn, đã giúp cho đất nước giữ được nền hòa bình gần 100 năm. Đây là bài học quý giá cho công cuộc vệ quốc ngày nay của một nước Việt lớn hơn và dày dạn trận mạc hơn, trước mưu đồ không đổi của một nhà nước Trung Quốc hiện đại hùng mạnh nhất trong lịch sử của họ. Tiếc là ngày nay chúng ta biết quá ít chi tiết về cuộc chiến, mặc dù mấy chục năm gần đây các nhà nghiên cứu đã có nhiều nỗ lực tái hiện.

Sau khi thắng quân Tống, mặc dù biết rõ Chiêm Thành vẫn nuôi ảo mộng xâm chiếm nước ta nhưng Lê Hoàn vẫn tỏ ra hòa hiếu bằng cách cử sứ giả sang Chiêm. Do vua Chiêm bắt giữ sử giả với ý đồ gây chiến, ông tức giận sai đóng chiến thuyền, sửa sang binh khí, rồi thân chinh đi đánh Chiêm Thành, giết chết vua Chiêm, sang phẳng thành trì, đúng 1 năm mới kéo quân về nước. Từ đó Chiêm Thành mới không quấy nhiễu nữa. Ngoài ra, ông còn dễ dàng dẹp yên mọi âm mưu phiến loạn ở trong nước.

Xung quanh cuộc kháng chiến chống Tống có nhiều điều thú vị. Mặc dù tình thế rất ngặt nghèo gấp rút, nhưng Lê Hoàn đã chuẩn bị rất chu đáo, không chỉ về nhân tài vật lực mà còn về tư tưởng. Trong bộ tham mưu của Lê Hoàn, ta thấy có ba vị thiền sư nổi tiếng trong lịch sử: Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh.

Như trên đã nói, Lê Hoàn không nghĩ đến “nhà”, tức không lo làm sao cho họ Lê của ông “hưởng nước lâu dài” như các sử gia thường nhắc tới, mà chỉ lo cho sự tồn vong của đất nước. Bởi thế ông đã hỏi thiền sư Pháp Thuận rằng vận nước dài hay ngắn, làm thế nào để đất nước tồn tại dài lâu. Pháp Thuận đã trả lời ông bằng một bài thơ – bài Quốc tộ (Vận nước) nổi tiếng, là bài thơ có tác giả sớm nhất được biết trong văn học sử:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức binh đao

(Vận nước như mây cuốn
Trời nam mở thái bình
Vô vi trên điện các
Xứ xứ hết binh đao
– bản dịch của Lê Mạnh Thát)

Bài Quốc tộ được coi là “Tuyên ngôn hòa bình” của Lê Hoàn, một tuyên ngôn hòa bình giữa lúc đang có chiến tranh.

Lịch sử còn một bài thơ Thần được coi là “Tuyên ngôn độc lập” lần đầu tiên của nước ta, là bài Nam quốc sơn hà được ĐVSKTT ghi là xuất hiện trong thời gian Lý Thường Kiệt đánh Tống. Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu sau khi khảo sát các tài liệu có liên quan, đã đề nghị “trả” bài thơ này về cho thời kỳ Lê Hoàn (*).

Quả vậy, Ngô Sĩ Liên ghi bài thơ này vào ĐVSKTT với lời dẫn từ nguồn “thế truyền” (lời truyền trong dân gian), nhưng nguồn thông tin đầu tiên về bài thơ đã xuất hiện trong Lĩnh Nam chích quái (cũng là cuốn sách cổ nhất viết vào thời Trần còn truyền bản), trong đó ghi câu chuyện vua Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng đóng quân giữ lũy ở sông Đồ Lỗ để chống quân Tống, cũng là chuyện anh em Trương Hống, Trương Hát hóa thần ứng mộng về hỗ trợ vua đánh giặc, sau đó thần xuất hiện đọc bài thơ Nam quốc sơn hà, khiến cho quân Tống “đại bại rút lui”.

Hai cuốn sử viết bằng quốc âm vào thế kỷ thứ 16 và 17 là Việt sử diễn âmThiên Nam ngữ lục cũng ghi nhận như vậy. Do đó có thể Ngô Sĩ Liên đã nhầm lẫn.

Giáo sư Lê Mạnh Thát khẳng định bài thơ Thần chắc chắn xuất hiện vào thời Lê Đại Hành trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 981, nhưng theo ông, dù là thơ Thần đi chăng nữa cũng nhất định phải do con người làm ra, vậy ai có khả năng làm ra bài thơ đó?

Trong bộ tham mưu của Lê Hoàn không ai gần gũi vua hơn thiền sư Pháp Thuận, người viết bài thơ Quốc tộ, đồng thời cũng là người giúp vua soạn các văn bản ngoại giao. Đối chiếu với hệ tư tưởng chính trị thời Lê Hoàn và bài thơ Quốc tộ, Giáo sư Thát cho rằng có khả năng chính vua Lê Đại Hành đã đề nghị thiền sư Pháp Thuận viết bài thơ trên để khẳng định chủ quyền nhằm động viên tinh thần quân sĩ và dân chúng ra sức giữ nước.

Điểm cuốn hút nữa, theo Thiền uyển tập anh (một trong những cuốn sách cổ nhất viết vào thời Trần còn truyền bản), trước khi xuất binh Lê Hoàn đã nhờ thiền sư Khuông Việt đến đền thờ Tì Sa Môn Thiên Vương ở núi Vệ Linh để cầu nguyện.

“Quân giặc kinh hãi, bèn rút về giữ sông Hữu Ninh. Lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ”. Ta nên bỏ qua điều linh thiêng ghi trong sách, mà cần biết núi Vệ Linh, cũng có tên là núi Sóc (Sóc Sơn, Hà Nội), chính là nơi tương truyền Phù Đổng thiên vương sau khi đánh xong giặc Ân đã bay lên trời.

Tì Sa Môn thiên vương hay Sóc thiên vương, theo Giáo sư Lê Mạnh Thát, chính là Phù Đổng thiên vương. Mọi người Việt Nam ngày nay đều biết truyện thần thoại Phù Đổng thiên vương thể hiện sức mạnh kỳ diệu toàn dân đánh giặc. Truyện được Ngô Sĩ Liên đưa vào ĐVSKTT, trước đó xuất hiện sớm nhất trong Việt điện u linh tập Lĩnh nam chích quái.

Đáng lưu ý, theo Việt điện u linh tập, Phù Đổng thiên vương “hiển thánh” trước thiền sư Đa Bảo, mà Đa Bảo thì trụ trì chùa Kiến Sơ (Hà Nội) trong khoảng những ngăm 980 – 985, thời kỳ đầu vua Lê Đại Hành. Bên cạnh chùa Kiến Sơ hiện nay vẫn còn đền thờ Phù Đổng.

Như vậy có thể thấy, truyền thuyết về Phù Đổng thiên vương có thể có từ trước, nhưng đến cuộc chiến tranh vệ quốc năm 891, mới được dựng thành một câu chuyện hoàn chỉnh, có khung thời gian, có đền thờ, nơi đức Phù Đổng sinh ra và nơi ngài về trời.

Điều này có ý nghĩa gì? Nó cho thấy Lê Hoàn là ông vua đầu tiên biết sử dụng sức mạnh của hùng thiêng sông núi để huy động toàn dân đánh giặc, đồng thời cũng cho thấy không chỉ có tướng sĩ của triều đình mà có cả đông đảo người dân tham gia chiến tranh vệ quốc, mặc dù sử sách không nhắc tới…

Hoàng Hải Vân

(*) Tham khảo thêm: Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn, NXB Hà Nội, 2005.

***

Tầm vóc Lê Hoàn – Kỳ 3: Dựng Hùng triều ngọc phả, ra oai với nhà Tống

07:00 AM – 22/09/2014

(TNO) Kỳ trước chúng tôi có nhắc tới “khung thời gian” của truyền thuyết Phù Đổng thiên vương. Điều này liên quan đến truyền thuyết về thời đại Hùng Vương.

 

Tầm vóc Lê Hoàn - Kỳ 3: Dựng Hùng triều ngọc phả, ra oai với nhà Tống - ảnh 1

Đài tưởng niệm kênh nhà Lê tại xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc, Nghệ An – Ảnh: Khánh Hoan

Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và các vua Hùng chắc chắn đã có từ khi người Việt ta lập quốc, nhưng phải đến thời Trần mới được ghi trong “Lĩnh Nam chích quái”, sau đó đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) với 18 đời Hùng Vương.

Bối cảnh thời gian của câu chuyện Phù Đổng thiên vương được diễn ra vào đời Hùng Vương thứ 6, nghĩa là nó phải có sau hoặc ít nhất là đồng thời khi có bản Ngọc phả các vua Hùng. Hiện nay chúng ta đang tàng trữ được 4 bản Hùng triều ngọc phả, bản thứ nhất được chép năm Thiên phúc nguyên niên (980) thời vua Lê Đại Hành, bản thứ hai chép thời vua Lê Thánh Tôn (1475), bản thứ ba chép thời vua Lê Kính Tông (1601) và bản thứ tư chép thời vua Khải Định (1919).

Như vậy Lê Đại Hành là ông vua đầu tiên dựng Hùng triều ngọc phả, đồng thời với tôn vinh Phù Đổng thiên vương từ một thổ thần làng Phù Đổng lên hàng quốc thần, ngay khi mới lên ngôi và đang chuẩn bị đánh Tống.

Việc dựng lại Hùng triều ngọc phả để khẳng định nguồn gốc dân tộc, khẳng định nước ta là một nước văn minh có chủ quyền từ rất lâu đời, nhất là khi cả nước đang đương đầu với ngoại xâm, là vô cùng quan trọng, vừa để xóa tan tâm lý nhược tiểu, nâng cao tầm vóc dân tộc, vừa để đáp trả thái độ xấc xược của nhà Tống coi nước ta là lãnh thổ phụ thuộc, coi dân ta là một đám man di mọi rợ cần được khai hóa. Đáp trả bằng một nền văn minh đồng thời đáp trả bằng mưu lược, sức mạnh và vũ khí.

Giữa những năm 1960, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra khốc liệt, chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trực tiếp chỉ đạo một cuộc khảo sát quy mô chưa từng thấy nhằm tái dựng diện mạo thời đại Hùng Vương, với tinh thần “bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”, chính là sự tiếp nối việc làm có ý nghĩa mà vua Lê Đại Hành đã tiến hành từ ngàn năm trước.

Dựng Hùng triều ngọc phả, Lê Hoàn có cơ sở tin chắc thời đại Hùng Vương là có thật. Ngày nay, bằng những tài liệu lịch sử kết hợp với khai quật khảo cổ học, khảo sát điền dã và nghiên cứu thư tịch, chúng ta xác quyết niềm tin đó, chứng minh triều đại Hùng Vương không chỉ là truyền thuyết mà là một triều đại hiện hữu trong lịch sử, với một nền văn minh không thua kém bất cứ dân tộc nào, với cương thổ được xác định “phía đông giáp Nam Hải (biển Đông), phía tây giáp Ba Thục, phía bắc tới Động Đình hồ, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành)”. 

Vì lẽ đó mà Lê Hoàn là ông vua tỏ rõ tư thế hiên ngang hiếm thấy trong quan hệ với Trung Quốc, trừ một bức thư giả làm thư của ấu chúa Đinh Toàn gửi cho vua Tống “xin nối ngôi cha, cầu nhà Tống ban chân mệnh” viết bằng lời lẽ nhu nhược nhằm “hoãn quân nhà Tống” như ĐVSKTT ghi nhận, đó là lúc vua Tống gửi thư đe dọa trước khi xuất binh “nếu quy phục thì ta tha cho, nếu trái lệnh thì ta quyết đánh”.

Thực ra Cảo và Tắc không tin chuyện ông bị ngã ngựa đau chân, vì theo Tống sử, trong bức thư tường thuật gửi cho vua Tống về chuyến đi này, Tống Cảo sau khi kể lại việc ông nói đau chân không lạy, còn nói thêm rằng ngay sau đó ông cởi giày đi chân trần xuống ao xăm cá để làm vui cho khách. Vua Tống làm lơ không ý kiến.

Sau khi thua trận, nhà Tống từ bỏ ý định xâm chiếm nước ta, thay đổi hẳn giọng lưỡi.

Trong chế sách phong Lê Hoàn làm “An Nam đô hộ Tĩnh hải quân tiết độ sứ” được phái bộ Lý Giác mang sang vào tháng 10 năm 986, vua Tống ca ngợi Lê Hoàn “tư cách gồm nghĩa dũng, bẩm tính vốn trung thuần, [17b] được lòng người trong nước”. Khi ấy, tức là 5 năm sau chiến tranh, Lê Hoàn mới trả tù binh, “đem bọn Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân trả cho về”. Trong bối cảnh thời đó và mãi cho đến thời Thanh – Nguyễn, việc sắc phong thực chất là công nhận chủ quyền.

Năm sau, phái bộ Lý Giác lại sang, vua sai thiền sư Pháp Thuận giả làm giang lệnh (người coi sông) ra đón, hai bên đối đáp văn thơ, khi về đến sứ quán Lý Giác gửi tặng một bài thơ, trong đó có hai câu “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu/Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu” (Ngoài trời còn có trời soi nữa/Sóng lặng khe đầm bóng nguyệt thâu). Thiền sư dâng bài thơ lên vua, vua gọi thiền sư Khuông Việt đến xem, Khuông Việt nói: “Thơ này tôn bệ hạ không khác gì vua Tống”.

Nhà Tống liên tục gia phong tước vị cho Lê Hoàn. Năm 990, lại sai Tống Cảo và Vương Thế Tắc mang chế sách sang phong thêm.

Vua sai Nha nội chỉ huy sứ là Đinh Thừa Chính đem 9 chiếc thuyền dẫn 300 người đến quân Thái Bình đón, theo cửa biển mà vào, nửa tháng đến sông Bạch Đằng, theo nước triều mà đi. Mùa thu, tháng 9, đến trạm Nại Chinh ở Trường Châu. Vua ra ngoài giao để đón, bày thủy quân và chiến cụ để khoe. Vua cầm cương ngựa cùng đi với sứ thần. Đến cửa Minh Đức, vua bưng chế thư để lên trên điện, không lạy, nói dối là năm vừa rồi đi đánh giặc Man, bị ngã ngựa đau chân. Cảo và Tắc tin là thực. Sau đó bày yến tiệc thết đãi. Vua bảo Cảo rằng: “Sau này có quốc thư thì cho giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phiền sứ thần đến tận đây nữa”. Cảo về tâu, vua Tống bằng lòng” (ĐVSKTT).

Thực ra Cảo và Tắc không tin chuyện ông bị ngã ngựa đau chân, vì theo Tống sử, trong bức thư tường thuật gửi cho vua Tống về chuyến đi này, Tống Cảo sau khi kể lại việc ông nói đau chân không lạy, còn nói thêm rằng ngay sau đó ông cởi giày đi chân trần xuống ao xăm cá để làm vui cho khách. Vua Tống làm lơ không ý kiến.

Năm 996, khi quan trấn thủ địa phương báo với vua Tống “chiến thuyền Giao Chỉ hơn trăm chiếc” vào xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc (trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu), vua Tống không những làm lơ mà còn sai sứ giả là Lý Nhược Chuyết mang chiếu thư và đai ngọc sang ban cho Lê Hoàn.

Khi Nhược Chuyết đến, vua ra đón, lần này không cần nói dối mà “tỏ ý ngạo mạn không làm lễ”, bảo với sứ giả rằng: “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi đâu“. (ĐVSKTT).

Phiên Ngung là địa danh thuộc tỉnh Quảng Châu, còn Mân Việt là tỉnh Phúc Kiến ngày nay. Lê Hoàn thẳng thừng nhắc cho vua Tống biết những vùng đó là lãnh thổ cũ của các vua Hùng “phía tây giáp Tây Thục, phía bắc tới Động Đình Hồ”.

Trong lịch sử ngoại giao giữa các hoàng đế nước ta với các hoàng đế Trung Quốc, có lúc cứng có lúc mềm, tùy tình thế và tùy thực lực, mục đích là giữ cho được bờ cõi không để cho người ta xâm phạm. “Ra oai” với Trung Quốc được như Lê Hoàn không phải là chuyện dễ, đòi hỏi không chỉ ở tinh thần kiên cường ý chí bất khuất mà còn phải có thực lực.

Lê Hoàn ở ngôi 24 năm, trong 24 năm ngắn ngủi đó ông không chỉ đập tan một đội quân xâm lược sừng sỏ mà còn tăng cường quốc lực làm cho nước Việt ta mạnh lên, kiến tạo nền móng vững chắc làm nền tảng cho nền văn minh Lý – Trần rực rỡ sau đó.

Các sử gia phong kiến lấy làm khó hiểu khi thấy ông hết đánh đông dẹp bắc lại lo đào sông đắp đập mà không lo chuyện “hưởng nước lâu dài” cho con cháu, chỉ có bề tôi biết đánh giặc và biết lo cho nước mạnh mà không có được một bề tôi nho học để lo chuyện lễ nghi, đến nỗi dòng họ mất ngôi, bản thân thì 1000 năm vẫn chỉ được gọi là “Đại Hành” không có được một thụy hiệu (bất cứ ông vua nào mới chết chưa đưa vào lăng gọi là Đại Hành, sau đó phải đặt thụy hiệu, Lê Văn Hưu cho rằng Lê Hoàn không có bầy tôi nho học để đặt thụy hiệu)… (Còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

4 thoughts on “Tầm vóc Lê Hoàn – Kỳ 2, 3

    1. Tùng ơi, đây là kỳ 3 và 4 của chuỗi bài này.

      Chuỗi bài này không nói về chuyện Nhà Lê bị mất ngôi như thế nào. Mình cũng đang tìm hiểu vấn đề đó nên nếu Tùng có tài liệu nào hay hay, Tùng chia sẻ ở đây cho cả nhà cùng biết với nhé.

      Trong CVD, đề tài Nhà Lê bị mất ngôi thì chưa có bài cụ thể nhưng có 1 bài liên quan, mình gửi Tùng tham khảo.

      Thử “bào chữa” cho Hoàng đế Lê Long Đĩnh

      Bài này nói về Lê Long Đĩnh, vua cuối cùng của Tiền Lê, về một vài chuyện “đóng đinh” trong lịch sử.

      Liked by 1 person

      1. Cảm ơn chị Hương,

        Vì em chưa chủ động nghiên cứu về lịch sử các triều đại nên hiện tại chưa có tài liệu chị ạ. Sắp tới khi sắp xếp được vấn đề hiện tại để chuyển sang nghiên cứu lịch sử thì hi vọng em sẽ có cái để post lên đây.
        Sắp tới có một số bài em muốn post về chủ đề như: Thúc đẩy Công lý, Thúc đẩy xây dựng Pháp Quyền. Không biết là bên mình có xem xét để đăng được không.

        Chúc chị vui!

        Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: