Văn Học Dân Gian

VNDG

I. KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN :
1. Văn học dân gian là gì ?

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay. Tiếp tục đọc “Văn Học Dân Gian”

Advertisements

Sử thi Raglai – Nhìn từ phương diện chức năng thể loại

Kết quả hình ảnh cho đám cưới Raglai
Đám cưới người Raglai tại nhà trai. Ảnh: Internet

Nguyễn Thanh Tùng*

Tóm tắt:

Trong nền văn hóa lâu đời của người Raglai, sử thi (Akhát Jucàr), xét về phương diện chức năng thể loại, là những di sản có giá trị lớn về nhiều mặt.

Trong phạm vi của bài viết này, ngoài việc điểm lược những nét khái quát về tộc người và văn hóa tộc người Raglai; về thể loại sự thi (Akhát Jucàr) trong nền văn học dân gian Raglai, chúng tôi tập trung nghiên cứu, thẩm nhận bước đầu một số chức năng của sử thi trong văn hóa tộc người Raglai, xét từ phương diện chức năng thể loại:

– Bảo lưu và truyền tải  phong tục, tập quán, tín ngưỡng;

– Tái tạo, tôn vinh lịch sử, xã hội, văn hóa tộc người;

– Đảm nhận vai trò đích thực của những áng văn chương truyền miệng .

Tiếp tục đọc “Sử thi Raglai – Nhìn từ phương diện chức năng thể loại”

U-Thến, Ngu-Háo và Trai-Căm – Kể chuyện dân gian và dịch truyện thơ cổ của dân tộc Thái vùng Tây-Bắc Việt-Nam

csdmClick vào đây để đọc file pdf

[Trích]

LỜI MỞ ĐẦU

Ở vùng Tây-Bắc nướcViệt-Nam từ đầu thế kỷ thứ IX chữ Thái trước kia, suốt gần bốn thế kỷ dài, phần lớn dùng ở dòng họTạo ghi sổ sách hành chính nắm quyền cai quản Bản Mường, các ông Mo ghi sổ sách cúng bái, các ông Chang ghi tính lịchThái và tầng lớp trên quyền quý sáng tác thơ ca, văn học, chưa phổ biến rộng rãi xuống dân. Tiếp tục đọc “U-Thến, Ngu-Háo và Trai-Căm – Kể chuyện dân gian và dịch truyện thơ cổ của dân tộc Thái vùng Tây-Bắc Việt-Nam”

Về nguồn gốc từ Ba la mật 菠蘿蜜 mà Hán ngữ dùng gọi quả mít

TĐH: Cây mít có tên Hán là Ba la mật, nghe y hệt như từ “Ba la mật” hay “Ba la mật đa” trong kinh Phật, có nghĩa là qua bờ bên kia, tức là “giác ngộ”, như từ “Bát Nhã Ba la mật đa” trong Bát Nhã Tâm Kinh.  Có lẽ chính vì vậy mà người ta hay trồng mít trong sân chùa. Tuy nhiên bài dưới đây, có giả thuyết rằng “mít” là từ Việt cổ blái mít (trái mít), du nhập sang TQ và biến thành Ba ma mật.  Rất thú vị, và có lý hơn là lý giải rằng âm ba-la-mật-đa là người Trung Hoa lấy từ tiếng Phạn có nghĩa là qua bờ.

Phan Anh Dũng
VHNA
Thứ tư, 16 Tháng 8 2017 07:53

Trước hết về gốc gác phương Nam của cây “ba la mật 菠蘿蜜”[1] thì không cần phải bàn cãi, vì chính sách vở và các trang mạng Trung Quốc cũng ghi rõ ba la mật 菠蘿蜜là giống cây nhiệt đới có gốc gác ở Ấn Độ.

Như vậy phải chăng cách gọi cây “mít” của Việt Nam chính là mượn từ “ba la mật” của Trung Quốc rồi bỏ tiền tố “ba la” đi, chỉ còn “mật” sau đó lại đọc trại cả nguyên âm -â- thành -i-, là nguyên âm có độ mở miệng hẹp hơn ?

Điều nay có vẻ hơi nghịch lý, vì Việt Nam là nước trồng nhiều mít, và cây mít nếu di thực từ Ấn Độ thì lan truyền theo đường ven biển qua Việt Nam vào Trung Quốc thuận tiện hơn là qua vùng núi Tây Tạng, vì đây là vùng núi cao và giá lạnh không thích hợp để trồng mít. Do đó tên gọi “ba la mật” truyền từ Việt Nam sang Trung Quốc có lẽ hợp lý hơn ? Tiếp tục đọc “Về nguồn gốc từ Ba la mật 菠蘿蜜 mà Hán ngữ dùng gọi quả mít”

Tầm vóc Lê Hoàn – Kỳ 2, 3

  • Kỳ 1 : Mệnh nước
  • Kỳ 2: Định yên bờ cõi
  • Kỳ 3: Dựng Hùng triều ngọc phả, ra oai với nhà Tống

***

01:05 PM – 21/09/2014

(TNO) “Vua (Lê Đại Hành) đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục phiên di bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu tất thắng của vua tôi bọn họ, có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy” – sử thần Ngô Sĩ Liên.

Hình ảnh Lê Hoàn trong sách giáo khoa và trên sân khấu cải lương
Hình ảnh Thập đạo tướng quân Lê Hoàn trong sách giáo khoa – Ảnh tư liệu

Tiếp tục đọc “Tầm vóc Lê Hoàn – Kỳ 2, 3”

Nguồn gốc người Việt – Người Mường

Nguồn: Văn Hóa Nghệ An

 

 

Huyệt đạo Ngàn Nưa

– 128 NGUYỄN HUY MINH 8:27 AM, 04/06/2016

Chuông đồng đặt tại huyệt đạo Ngàn Nưa có đề 4 câu: “Chuông vang đỉnh núi vọng ngàn mây/ Huyệt đạo non thiêng tại chốn này/ Trời đất giao hòa linh khí tỏa/ Dân an, quốc thái phúc tràn đầy”.

Bố tôi là độc giả thủy chung nhất của tôi, ông đọc hết thảy mọi tác phẩm con mình viết, dạo trước thường gửi thư ra góp ý, bây giờ thuận tiện hơn thì gọi điện, nhắn tin. Cách đây không lâu, ông bảo: “Con nên về huyệt đạo Ngàn Nưa”. Quả là tôi đi cũng đã 5 – 7 phương trời, nhưng có ngọn danh sơn ở ngay tại quê nhà thì lại chưa có dịp nào chiêm bái. Nên phải khởi hành thôi. Tiếp tục đọc “Huyệt đạo Ngàn Nưa”

Về một chữ trong Truyện Kiều và cú đánh điểm huyệt

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Trong bài “Đôi điều về bản Truyện Kiều kỷ niệm 250 năm của Hội Kiều học” ( tác giả Minh Minh, trên tạp chí Hồn Việt số 96, 9-2015), qua một số dẫn chứng đưa ra nhằm mục đích hạ bệ cuốn sách mà tác giả chế giễu là “tốt mã này”, có một dẫn chứng mà theo tôi chính là “cú điểm huyệt” của Hồn Việt: “Hoặc như: Mày xanh trăng mới in hằn (câu 1793). Chữ hằn nghe thô tục quá. Hai câu thơ xinh đẹp như ngọc: Mày xanh trăng mới in ngần/ Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa mà để cho một chữ hằn lọt vào thật không khác gì một vết sẹo trên khuôn mặt của nàng Kiều. Lưu ý rằng trong chữ Nôm, chữ 痕   có thể đọc ngần, hằn – nhưng ngần mới là chữ “tuyệt diệu!”. Tiếp tục đọc “Về một chữ trong Truyện Kiều và cú đánh điểm huyệt”

Mai Hồng Niên “Bâng khuâng thức giữa câu Kiều”

natuan-mhnien

Vào dịp Hội Kiều học VN gặp gỡ hội viên cuối năm (2013), lần đầu tiên tôi mới được gặp nhà thơ Mai Hồng Niên. Biết tôi đang thực hiện loạt phim tài liệu “Truyện Kiều – Xưa và Nay”, và cũng từng đọc thơ ông, lão thi sĩ trân trọng tặng tôi cuốn “Quê mình xứ Nghệ” mới tái bản (Nxb Hội nhà văn, 2014). Tôi liền giở hú họa ra đọc một trang, thì gặp ngay hai câu:

Đi dọc phố Nguyễn Du một chiều Hà Nội
Lại bâng khuâng thức giữa câu Kiều

Tôi lại giở thêm một trang khác, thì đọc được:

Anh cậy nhờ thơ để nói điều nhân thế
Và tựa vào em qua chớp bể mưa nguồn
Tựa vào bạn bè sống ít thiệt-hơn
Giữa thời thế chông chênh bão gió
…Đồng vọng với trang Kiều
Cụ Nguyễn gửi vào thơ

Tiếp tục đọc “Mai Hồng Niên “Bâng khuâng thức giữa câu Kiều””

Truyện Kiều: Từ văn học tới Điện ảnh – Một phương thức diễn dịch nghệ thuật đầy thử thách

                                    ( Truyện Kiều qua góc nhìn Điện ảnh )

chi-em-thuy-kieu

  1. Đối với một tác phẩm kinh điển lớn của văn học dân tộc như Truyện Kiều, các phương thức diễn dịch nghệ thuật tất yếu sẽ phải nảy sinh (Âm nhạc, Hội họa, Điêu khắc, Sân khấu, Điện ảnh, v.v). Đó cũng là điều đã xảy ra đối với nhiều tác phẩm văn học lớn của thế giới (Các vở kịch của Shakespeare, các tiểu thuyết của Stendhal, Dostoievski, Liev Tolstoi, v.v.). Riêng việc “diễn dịch” bằng điện ảnh là gây nhiều tranh cãi và thu hút sự quan tâm lớn nhất, bởi quy mô thực hiện và sức ảnh hưởng sâu rộng trực tiếp đến xã hội, như nhà điện ảnh học nổi tiếng người Pháp G. Sadoul đã khẳng định: Tiếp tục đọc “Truyện Kiều: Từ văn học tới Điện ảnh – Một phương thức diễn dịch nghệ thuật đầy thử thách”

Dịch thuật – vấn đề lớn của quảng bá văn học Việt Nam

08/05/2013 10:23 GMT+7

TTCTNguyễn Phan Quế Mai – nhà văn Việt Nam được chọn vào vị trí nhà văn châu Á đáng chú ý và là giảng viên chương trình viết quốc gia lần thứ 51 của Đại học Silliman, Philippines.

Hiện sống tại Philippines, mỗi năm vẫn tham dự nhiều sự kiện văn học quốc tế của các nước, Quế Mai đã dành cho TTCT một cuộc trao đổi về cơ hội cho văn học Việt Nam ở nước ngoài.

Nguyễn Phan Quế Mai giao lưu với độc giả TP.HCM trong một ngày hội văn hóa - Ảnh: Thái PhiênPhóng to
Nguyễn Phan Quế Mai giao lưu với độc giả TP.HCM trong một ngày hội văn hóa – Ảnh: Thái Phiên

Giới xuất bản nước ngoài đang “săn lùng” tác phẩm Việt Nam

* Cuối năm 2012, chị từng cho biết có những nhà làm sách nước ngoài muốn xuất bản sách dịch từ Việt Nam?

– Gần đây tôi có cơ hội tham gia một số liên hoan văn học quốc tế và gặp một số đại diện các nhà xuất bản. Họ đều nói với tôi rằng đang tìm kiếm bản thảo đã dịch sang tiếng Anh của Việt Nam.

Tiếp tục đọc “Dịch thuật – vấn đề lớn của quảng bá văn học Việt Nam”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca K’Ho (Cơ Ho)

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Cống, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca K’Ho (Cơ Ho) của Dân tộc K’Ho (Cơ Ho).

Dân tộc K’Ho, còn có các tên khác như: Cơ Ho, Cờ Ho, Kơ Ho, Srê, Nộp, Cơ Dòn, Chil, Lạt (Lạch), T’ring.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người K’Ho ở Việt Nam có dân số 166.112 người, cư trú tại 46 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người K’Ho cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (145.665 người, chiếm 12,3% dân số toàn tỉnh và 87,7% tổng số người K’Ho tại Việt Nam), Bình Thuận (11.233 người), Khánh Hòa (4.778 người), Ninh Thuận (2.860 người), Đồng Nai (792 người), Sài Gòn (247 người). Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca K’Ho (Cơ Ho)”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Bru-Vân Kiều

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Brâu, hôm nay mình giới thiệu với các bạn Dân Ca Bru-Vân Kiều.

Người Bru-Vân Kiều (còn gọi là người Bru, người Vân Kiều, người Măng Coong, người Trì hay người Khùa) là một dân tộc thiểu số. Ngôn ngữ của họ là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Cơ Tu của ngữ tộc Môn-Khmer. Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Bru-Vân Kiều”

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Brâu/Brạo

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Phần giới thiệu của mình với các bạn tiếp theo Dân ca Bố YDân ca Brâu hôm nay.

Dân tộc Brâu (còn gọi là Dân tộc Brạo) là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại Campuchia, Lào và một ít tại Việt Nam.

Theo các nguồn khác nhau thì dân số người Brâu tại Campuchia khoảng 14.000 người, tại Lào khoảng 13.000 người tới 24.000+ người. Tại Việt Nam từ năm 1981 trở lại đây thì dân số người Brâu dao động trong khoảng 300 người. Cụ thể như sau:

Năm 1981 có 282 người
Năm 1989 có khoảng 231 người
Năm 1994 có 231 người Tiếp tục đọc “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Brâu/Brạo”