ĐBSCL trước thảm họa “tan rã” từ 27 đập thủy điện ở thượng nguồn Mê Kông – 4 bài

ĐBSCL trước thảm họa “tan rã” từ 27 đập thủy điện ở thượng nguồn Mê Kông

ĐBSCL trước thảm họa “tan rã”: Cây lúa bị dồn đến “đường cùng“

Đồng Bằng Sông Cửu Long trước thảm họa thế kỷ: Vòng vây ngày càng khốc liệt

Hãy cứu lấy sông MeKong

***

ĐBSCL trước thảm họa “tan rã” từ 27 đập thủy điện ở thượng nguồn Mê Kông

– 16 LỤC TÙNG 5:20 PM, 19/01/2016
Ngã ba Dung Thăng (Vĩnh Hội Đông, An Phú, An Giang) một thời được xem là kho cá mùa lũ, nay chỉ lơ thơ vài chiếc xuồng nhỏ kiếm cá ăn qua ngày

Theo kế hoạch, các quốc gia thượng nguồn xây dựng 27 đập thủy điện trên sông Mê Kông. Chỉ mới hoàn thành 6 đập, Đồng bằng sông Cửu Long – vùng hạ lưu cuối cùng của sông Mê Kông đã loạng choạng và đứng trước nguy cơ “tan rã”. 

Mùa lũ năm 2015, đỉnh lũ sông Cửu Long đạt mức thấp nhất trong hơn 70 năm qua. Không có lũ, “vùng sông nước” bơi trong biển lo: Nạn sạt lở bờ sông gia tăng, nguồn thủy sản giảm nghiêm trọng, việc gieo trồng ngày một khó khăn…

Mùa bặt tôm, vắng cá

“Mỗi năm ĐBSCL đón nhận khoảng 440.000 tấn cá di trú trong mùa lũ. Với giá 2.500 đô la/tấn, tương ứng 1 tỷ đô la, tức gấp 3 lần giá trị cầu Cần Thơ – cây cầu dây văng có nhịp chính dài nhất Đông Nam Á”, PGS.TS Lê Anh Tuấn Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu- ĐH Cần Thơ đã khiến chúng tôi giật mình bởi con số so sánh giá trị.

Trong ký ức bao đời của người dân ĐBSCL, mùa lũ là mùa cá, tôm. Theo con nước từ thượng nguồn đổ về, người dân nơi đây giăng câu, thả lưới, đóng đáy, đặt dớn (dụng cụ bắt cá đơn giản của người dân – BT)…

Cũng như bao người sinh ra và lớn lên trên vùng đất này, mỗi khi lũ về, lòng tôi lại nôn nao với ký ức đẹp của cảnh trên bờ nhà nhà xúm nhau gỡ cá mắc đầy những tay lưới, dưới sông những miệng đáy tất bật xúc và chuyển cá linh nhảy xoi xói cho những chuyến ghe chở về các cơ sở ủ nước mắm và chế biến mắm…

 Ông Nguyễn Hữu Hải ngao ngán trước nguy cơ thua lỗ hàng trăm triệu đồng từ gian đáy loại 1 của mình

Mùa lũ năm nay, chúng tôi trở lại “tam giác cá” của tỉnh An Giang: Chợ đầu mối Vĩnh Hanh (Châu Thành), bến chài Trà Sư (Tịnh Biên) và xứ đáy Vĩnh Hội Đông (An Phú). Đúng quy luật, 2 giờ sáng có mặt tại “trung tâm” chợ đầu mối Vĩnh Hanh nằm bên bờ tỉnh lộ 941, bên dưới là Kênh Mặc Cần Dưng…

Không còn hình ảnh dưới bến sáng rực ánh đèn của những dãy ghe, xuồng sau đêm đánh bắt cá đồng Tứ giác Long Xuyên gom về bán cho đầu mối chở về các chợ trung tâm, trước mắt tôi chỉ tù mù vài ngọn đèn…

Tình cờ, tôi gặp lại bà Lê Hồng Tươi, nhân vật từng phỏng vấn những năm trước. Là đầu mối lớn, chuyên thu gom và phân phối cá loại 1, nhưng giờ đây bà Tươi trầm lặng gom cá để bán tại chợ xã. “Cả đêm mới mua được vài ký cá – bà Tươi chia sẻ – Gần nhà nên ráng làm, chớ so công thức khuya, dậy sớm là lỗ…”.

Rời Vĩnh Hanh, chúng tôi xuyên đêm đến bến chài Trà Sư, nơi được biết đến như “cửa khẩu” đón cá từ đồng đất nước bạn đổ vào nội đồng Tứ giác Long Xuyên qua ngõ đập Trà Sư. Mùa lũ, dọc bờ kênh có hàng trăm dân chài chuyên nghiệp đua nhau tung lưới ngày đêm, nên nơi đây có tên bến chài.

Nhưng năm nay bến vắng lặng, chỉ còn duy nhất gia đình anh Nguyễn Văn Lạc bám trụ. Theo lời anh Lạc, đầu mùa, nhiều tay chài kéo nhau về, nhưng chỉ sau thời gian ngắn sau họ lần lượt bỏ đi. Một mình một chợ, nhưng nhiều hôm anh Lạc cũng chỉ đủ cá ăn trong nhà: “Hồi trước, ngày nào tệ lắm cũng kiếm được chục ký cá, năm nay, nhiều hôm cả ngày chỉ kiếm được 1-2 ký”.

Nằm giữa ngã ba sông tiếp giáp Campuchia, Vĩnh Hội Đông (An Phú) được xem là “đất làm ăn” của nghề “bà cậu”. Lũ về, lòng sông như ngày hội. Những xuồng câu, lưới, những xuồng chài liên tục thu về những mẻ cá đầy lưới; những gian đáy tấp nập cảnh chuyển cá lên các ghe chở đi khắp nơi tiêu thụ…

Giờ đây con sông lặng như tờ với duy nhất gian đáy của ông Nguyễn Hữu Hải hoạt động cầm chừng. “Mãi đến khi giảm 50% giá khởi điểm mới có người nhận khai thác một trong số những gian đáy mà địa phương quản lý”, Phó chủ tịch UBND xã Vĩnh Hội Đông Nguyễn Văn Tùng chia sẻ.

“Xáo động” vùng sông nước

Trái với sự im ắng ở lĩnh vực đánh bắt thủy sản, đời sống của người dân vùng đầu nguồn lũ đang “xáo động” một cách báo động. “Hết giăng câu chuyển sang thả lưới nhưng nhiều hôm kiếm chẳng được ký cá, túng quá thằng Đen đi Bình Dương làm công nhân. Thương đứt ruột, nhưng giữ nó ở nhà thì sống bằng gì?” giọng bà Phạm Thị Hà, (ấp An Phước, xã Vĩnh Phước, Tri Tôn, An Giang) thổn thức khi nhắc cảnh tha phương cầu thực đứa con trai độc nhất của mình.

Theo ông Dương Văn Lê, Phó trưởng ấp An Phước, đây là 1 trong số 26 gia đình sống bằng nghề đánh bắt thủy sản mùa lũ trong ấp bỏ xứ kiếm sống và nhiều hộ gần như hết đường “hồi hương”. Điển hình là trường hợp ông Nguyễn Văn Hát. Thấy khó sống được với nghề đánh bắt, ông Hát chuyển sang nuôi cá. Tuy nhiên do địa hình cách trở, xa trung tâm nên ông Hát bị “ép” giá bán.

Ông Nguyễn Hữu Hải: “Con cá lớn nhất trong mùa cá năm nay chỉ bằng con cá nhỏ nhất cùng thời điểm của nhiều mùa cá trước đó” 

Thua lỗ, ông dẫn cả nhà lên Bình Dương làm công nhân để lại quê nhà căn nhà cũ nát và khoản nợ tiền vay nền và nhà vượt lũ không biết bao giờ mới trả hết. Điều này không chỉ “xé nát” yếu tố an cư, lạc nghiệp của người dân, mà còn để lại khoảng trống đáng lo cho chính quyền cơ sở.

“Vắng lâu ngày, nhà cửa hoang tàn, ảnh hưởng đến việc xây dựng nếp sống văn hóa, nhưng đáng lo hơn là nhiều hộ ly hương cũng ít có cơ hội để con cháu được học hành tử tế. Điều này như khép lại cánh cửa “đổi đời” của thế hệ thứ hai”, ông Lê âu lo.

Không chỉ có người nghèo, chuyên đánh bắt bằng phương tiện thô sơ gặp khó, mà ngay cả người giàu, có vốn đầu tư phương tiện đánh bắt quy mô tại các vị trí đắc địa cũng lao đao vì thua lỗ đến hai lần. Dù thừa nhận là ngày trúng nhất từ đầu mùa cá đến giờ, nhưng suốt buổi sáng hai miệng đáy tại gian Nhất (loại 1) trên sông Vĩnh Hội Đông của ông Nguyễn Hữu Hải cũng chỉ thu được hơn 100kg trắng, chủ yếu là cá linh.

Một hình ảnh xa lạ với ký ức người dân đầu nguồn. “Hồi trước, vào thời điểm này, có hôm tui phải lệnh cho thợ lấy dao rạch lưới cho cá đi bớt để miệng đáy không bị sạt vì quá tải”, ông Hải thở dài: “Năm nay cầm chắc lỗ 200 triệu đồng. Vì cá ít mà giá lại thấp”.

Theo nhiều “lão làng” nghề cá, năm nay cá ít mà trọng lượng cá cũng giảm. Đã vào mùa lũ rút, cá linh đã già nhưng kích cỡ chỉ to cỡ cá đầu mùa nên sản lượng giảm mà giá bán cũng rất thấp, dao động 5-7 ngàn đồng/kg.

Không chỉ mất trắng 3 “cầu Cần Thơ”

“Mấy mùa lũ trước, đấu giá gian Nhì (loại 2), mỗi mùa lỗ 60-100 triệu. Năm nay đấu giá gian Nhất với hy vọng gỡ vốn, nhưng lại tiếp tục lỗ – ông Hải trầm giọng – Hơn 40 năm gắn bó, nghề cá đã trở thành một phần sự sống, nhưng hết sức chịu đựng rồi, hết mùa đáy này, giải nghệ luôn”.

 Nhiều bạn hàng chầu chực nhưng vẫn khó mua được cá vì khan hiếm

Nhiều người cho rằng ông Hải còn may vì đưa ra quyết định khi vẫn còn ít vốn để chuyển nghề. Bởi vùng đầu nguồn này đã chứng kiến không ít những đại gia chỉ còn “hai bàn tay trắng” sau khi bỏ nghề. Thậm chí có người sụp đổ như từ “trên trời” xuống “địa ngục”. Điển hình là trường hợp ông Nguyễn Văn Nét (tức Chín Kỳ), xã Phú Lộc (thị xã Tân Châu-An Giang). Từng được giới truyền thông phong “tước hiệu” đại gia khi mỗi năm ôm vài ký lô vàng sang bên kia biên giới thuê đồng “săn cá”.

Nhưng nhiều năm thua lỗ chồng chất đã “ngốn” hết mấy chục lượng vàng của cha mẹ để lại và bán đứt mấy chục công đất mà vẫn chưa hết nợ, Chín Kỳ đưa vợ con bỏ trốn. Căn nhà một thời lắm tôm, đầy cá và người giúp việc bên bờ kênh Bảy Xã của ông giờ im ỉm đóng. “Nghe đâu nó lên miệt Bình Dương làm mướn”, chị ruột Chín Kỳ sống gần đó mập mờ như một cách đề phòng “chủ nợ” làm khó em mình.

“Đó chỉ mới là “khúc dạo đầu” của hệ thống đập thủy điện vùng thượng nguồn sông Mê Kông- PGS. TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh – Nạn khan hiếm thủy sản trên sông Cửu Long vào mùa lũ sẽ tiếp tục leo thang theo tỷ lệ thuận của tiến độ xây dựng đập thủy điện”.

Tuy nhiên điều khiến nhiều người lo hơn là, nó còn tác động đến an ninh xã hội. Như hiệu ứng Domino, nguồn cá giảm sẽ làm tổn thương đến người nghèo và “bắc cầu” cho hiện tượng di cư trên diện rộng mà trường hợp của anh Đen, hay Chín Kỳ là những điển hình.

“Khi nông dân nghèo bỏ quê lên thành thị kiếm sống sẽ phát sinh nhiều xáo trộn về trật tự xã hội cho cả nông thôn lẫn thành thị”, xin mượn lời của Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu – ĐH Cần Thơ như muốn cảnh báo đến những nhà hoạch định chính sách.

***

ĐBSCL trước thảm họa “tan rã”: Cây lúa bị dồn đến “đường cùng“

– 17 LỤC TÙNG 4:28 PM, 20/01/2016
Cũng như nhiều nông dân ĐBSCL, sợ lượng phù sa mùa lũ thấp…, ông Võ Văn Phước nghĩ đơn giản là bón sớm và còn tăng lượng phân với suy nghĩ sẽ bù đắp cho đồng đất

Thiếu nước ngọt để bơm tưới và đẩy lùi mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, rồi dịch bệnh gia tăng đã và đang dồn đẩy lợi nhuận hạt lúa đến chân tường… Đó là thảm họa. Vì cây lúa không chỉ là “chân trụ” kinh tế – xã hội của ĐBSCL, mà còn là “nồi cơm” cho cả nước. Nhưng điều đáng lo hơn là sự “khô cứng” trong tư duy điều hành, quản lý… đã nhấn sâu cây lúa vào tâm chấn của sự lung lay ngay gốc. 

Đảo lộn bất thường

Láng Biển là xã “rốn” của Đồng Tháp Mười (huyện Tháp Mười – Đồng Tháp). Vậy mà mùa lũ năm nay, Láng Biển lại mắc cạn. Vừa tranh thủ bơm vét nước dưới lòng kênh vào ruộng, ông Ngô Tấn Ngợi, Chủ nhiệm CLB SX lúa giống Láng Biển vừa trút bức xúc: “Đây là lần đầu tiên trong gần 40 năm trồng lúa, tôi chứng kiến cảnh lũ thế này. Mọi năm, chỉ cần tháo nước, hoặc chỉ bơm nhẹ là làm đất, xuống giống”. Theo lời ông Ngợi, sau khi thu hoạch lúa Thu đông, HTX mở hết cống, bọng đón lũ, nhưng chỉ được xăm xắp rồi chực rút nên ông Ngợi chủ động bơm thêm nước vào ruộng làm đất và xuống giống sớm hơn thường lệ gần 20 ngày.

Rời Đồng Tháp Mười, sang Tứ Giác Long Xuyên, một trong 2 vựa lúa của ĐBSCL, chúng tôi tận mắt chứng kiến cảnh nông dân bị mất nhiều hơn khoản chi phí bơm nước như ông Ngợi. Tại Kiên Giang, sau khi quyết định không gieo trồng vụ lúa Thu đông 2015 để xả lũ vào đồng lấy phù sa cải tạo đất… nhiều nông dân ấp kênh 5B, xã Tân An (Tân Hiệp) náo nức chờ. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy lũ, những “lão nông tri điền” phải chi tiền làm vệ sinh đồng ruộng, rồi bơm thêm nước làm đất, xuống giống sớm. “Vừa mất thu nhập một vụ lúa, vừa tốn thêm tiền bơm nước…”, anh Đỗ Anh Tuấn chặc lưỡi: “Mất cả chì lẫn chài”.

Theo các chuyên gia nông học, việc chủ động xuống giống “ăn cơm trước kẻng”, có thể sẽ giúp nông dân giảm bớt thiệt hại chi phí bơm nước ban đầu (30-50 ngàn đồng/công) nhưng lại làm phá vỡ lịch thời vụ toàn vùng, và tạo cầu nối cho nhiều loại dịch bệnh nhân đàn và gây hại lúa trên diện rộng.

 Nhiều cánh đồng khô cứng ngay giữa mùa lũ năm 2015

ThS Nguyễn Hữu An, Chi cục trưởng Chi cục BVTV An Giang cho biết: “Với mức lũ thấp kỷ lục, nông dân sẽ tốn chi phí xử lý rạ trên đồng để hạn chế ngộ độc hữu cơ. Lũ thấp cũng là điều kiện để nhiều côn trùng bất lợi cho cây lúa có điều kiện nhân đàn. Trước mắt là nạn chuột gây hại trên diện rộng”. Ngoài ra, theo ThS An, với diện tích lúa Thu đông toàn vùng đạt kỷ lục (820.000ha, tăng trên 200.000ha so năm trước) cộng với diễn biến thời tiết phức tạp như hiện nay: ngày nắng, đêm ẩm độ cao, sáng có mây mù… là môi trường thích hợp để các sinh vật gia tăng bệnh, như: đạo ôn lá, cháy bìa lá, sâu cuốn lá, nhện gié…

Trong khi đó theo Đài Khí tượng – Thủy văn An Giang do lũ thấp nên tổng lượng dòng chảy thượng nguồn Mê Kông về ĐBSCL thiếu hụt khoảng 40% trung bình nhiều năm, làm cho mực nước các trạm chính sông Cửu Long ở mức thấp là điều kiện để mặn xâm nhập sâu nội đồng. Theo đó Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) dự báo: có 40% diện tích lúa Đông xuân ĐBSCL (tướng ứng trên 600.000ha) bị xâm nhập mặn ảnh hưởng với độ sâu vào bờ lên đến 60-70km.

Nguy cơ “đau bụng uống nhân sâm”

“Chú ngồi chơi, tôi đang lỡ tay trộn phân”, ông Võ Văn Phước (ấp Cây Gòn, Lương An Trà, Tri Tôn, An Giang) chân tình: “Năm nay lũ thấp, làm tăng thêm chi phí vệ sinh đồng ruộng, cày xới, nông dân còn phải tăng cường phân để bồi đắp cho đất ước khoảng 300-500 ngàn đồng/công”.

Ông Phước là nông dân nổi tiếng không chỉ vì có diện tích khá lớn (8ha) mà còn bởi luôn trúng mùa với năng suất vụ Đông xuân dao động 1,1 -1,2 tấn/công. Bởi ngoài việc chăm chỉ, bám sát đồng ruộng, theo dõi, phòng ngừa và điều trị dịch bệnh “đến nơi đến chốn”… ông còn chú trọng đến yếu tố phân bón. Và cũng như nhiều nông dân ở Kiên Giang, Đồng Tháp, khi thấy lũ không mang phù sa lên đồng, ông Phước đã chủ động bón thêm phân hóa học.

Đó là dấu hiệu đáng mừng vì nông dân đã có sự chuyển biến từ tư duy “vắt kiệt” sang tư duy chủ động bồi đắp cho đất. Nhưng theo nhiều chuyên gia nông học, trong trường hợp này, hành động bón thêm phân được xem như câu chuyện ông thầy thuốc đã khiến người bệnh đau bụng tử vong vì cho uống nhân sâm.

“Phân bón hóa học như con dao hai lưỡi. Khi sử dụng đúng sẽ góp phần tăng năng suất, lợi nhuận, nhưng khi lạm dụng, vừa tốn kém vừa tạo cơ hội cho dịch bệnh tấn công cây lúa”, ThS An chia sẻ: “Thông thường, khi thừa đạm, cây lúa dễ bị dịch bệnh tấn công. Trong khi đó, năm nay, nhiệt độ biến động nhiều là thời cơ cho nhiều dịch bệnh bùng phát. Vì vậy khi nông dân tự ý bón thêm đạm, đồng nghĩa với việc đổ tiền rước dịch bệnh cho mình và cho nhiều hộ xung quanh”.

 Thời tiết cực đoan, lũ thấp và tạp quán bón nhiều phân đạm… đã làm gia tăng áp lực sâu bệnh tấn công lên cây lúa Đông xuân 2015-2016

Đó không phải là lý thuyết suông. Tranh thủ lúc ông Phước làm việc, chúng tôi tìm hiểu chuyện sâu bệnh. Như gãi trúng chỗ ngứa, ông Phước nói thẳng: “Vừa sạ 10 ngày bị bù lạch, ít ngày sau thì rầy nâu”. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nông học, đó chỉ mới là khúc dạo đầu của mùa vụ cây lúa được cung cấp nhiều yếu tố thu hút dịch bệnh gây hại…

Trong lúc trò chuyện với ông Phước, tôi nhiều lần thót tim khi “khám khá” nhiều kiểu sử dụng thuốc do nông dân truyền khẩu, như: Kết hợp nhiều loại thuốc BVTV cho một lần phun xịt để vừa trị bệnh vừa “đón đầu” nhiều bệnh khác, hay kết hợp thuốc BVTV với dầu nhớt để diệt chuột theo cơ chế: chuột bị hỗn hợp nhớt thuốc BVTV bám lông gây khó chịu sẽ dùng miệng để “tháo gỡ” rồi nhiễm thuốc BVTV mà chết. Theo các nghiên cứu sinh thái học, việc sử dụng dầu nhớt trên ruộng rất nguy hiểm. Bởi với tính chất không dễ phân hủy của nó, dầu nhớt làm suy thoái môi trường và giảm hiệu quả trạng thái đất.

“Giặc” mới phá, “nhà” đã cháy

Không phủ nhận hiện tượng nắng nóng kéo dài, lũ thấp ở ĐBSCL năm nay là do Elnino (hiện tượng nóng lên dị thường của lớp nước biển bề mặt khu vực xích đạo và nhiệt đới Đông Thái Bình Dương) được dự báo sẽ vượt cả trận Elnino năm 1997-1998 làm thế giới thiệt hại hơn 34 tỷ USD, trong đó Việt Nam tổn thất hơn 5.000 tỷ đồng…

Tuy nhiên nhiều chuyên gia cho rằng, chính “mặt trái” của đập thủy điện đã làm diễn tiến này nhanh hơn, dữ dội hơn. “Đành rằng Elnino làm giảm mưa, thiếu nước, nhưng chính vì thế mà các đập thủy điện phía thượng nguồn gia tăng các biện pháp tích và giữ nước để duy trì hoạt động… càng khiến cho sự thiếu hụt nước trên hạ lưu sông Mê Kông vốn đã gay gắt nay càng gay gắt hơn”, Giám đốc Đài Khí tượng – Thủy văn An Giang Lưu Văn Ninh chia sẻ.

Sự kết hợp này không chỉ làm gia tăng chi phí, gia tăng thiệt hại (mặn xâm nhập sâu), mà còn gia tăng nguy cơ giảm năng suất cây trồng. Tuy nhiên điều lo hơn là trong lúc chưa có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu nạn “giặc ngoài” thì trong “nhà” đã tự đốt cháy mình. Bởi không chỉ thiếu các công trình điều tiết để tích ngọt, bẫy mặn tại các cửa biển nên nước mặn tự do ra – vào nội đồng trước sự bất lực của người dân. Thậm chí ngay trong tư duy nông nghiệp, các địa phương, ngành trung ương cũng nặng với cây lúa. Trong khi đó những chính sách điều hành tiêu thụ lúa – gạo chưa đảm bảo cho giá mua bán lúa đúng giá trị thực.

 Trước đây, sau mùa lũ, nông dân chỉ tháo nước ra để chuẩn bị xuống giống, còn năm nay phải bơm nước vào…

Sự trái khoáy này được ví như hành động châm ngòi đốt cháy đồng đất. “Các nghiên cứu đã chứng minh, lúa là loại cây trồng sử dụng nhiều nước (trên 10.000m3/ha), không thích hợp trồng trong mùa nắng hạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu và bùng nổ đập thủy điện. Vì vậy họ đề xuất chuyển đổi sang cây màu vừa sử dụng ít nước, vừa chịu được nhiệt độ cao, ít sâu bệnh, giá trị kinh tế cao như đậu phọng, mè…”, ThS Nguyễn Phước Tuyên, Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học và thông tin Sở NN&PTNT Đồng Tháp cho biết.

Tại nhiều nghị trường, cơ quan chức năng cũng bày tỏ sự đồng thuận, quyết tâm cao nhưng nhiều năm rồi sự chuyển đổi vẫn ì ạch tại chỗ. Theo ThS Tuyên, chủ yếu là “do thiếu đủ thứ”. Gần như hệ thống thủy lợi hiện có được thiết kế cho cây lúa, nên chưa thể đáp ứng đặc thù sinh thái cây màu. Ngoài ra, đàng sau cây màu là “khoảng trống đáng sợ”, như: máy móc, thiết bị, kỹ thuật trước, trong và sau thu hoạch, mạng lưới thu mua…

Chưa có cơ sở tạo sự an tâm, nông dân chưa dám tạo ra cuộc bứt phá mới với cây màu nên vẫn cứ bám vào cây lúa dù biết rằng trong hoàn cảnh này, đó là “hôn phối” không mang lại hạnh phúc cho cả đôi đàng. Trong khi đó mỗi năm cả nước lại chi hàng tỷ đô la để nhập màu (bắp, đậu nành) phục vụ chăn nuôi vì trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu về sản lượng lẫn chất lượng.

***

Đồng Bằng Sông Cửu Long trước thảm họa thế kỷ: Vòng vây ngày càng khốc liệt

– 18 LỤC TÙNG 11:39 AM, 21/01/2016
Sạt lở bờ sông không chỉ làm người dân mất đất sản xuất, nhà ở mà còn gây xáo trộn về phát triển kinh tế- xã hội

Sau nhiều năm bị “biến đổi khí hậu, nước biển dâng” dồn đẩy các hoạt động sản xuất, sinh hoạt vào thế “sống mòn”, giờ đây ĐBSCL tiếp tục đối mặt với nguy cơ “tan biến” khi vòng vây ấy ngày càng khốc liệt bởi hệ thống đập thủy điện trên sông Mê Kông. Trong lúc chưa tìm ra giải pháp chống đỡ hữu hiệu, ĐBSCL lại bị đẩy đến bờ vực… do cách hành xử “sai” của chính mình.

 

Vật vờ… sống mòn

Vừa nghe anh Tây Giáo (An Phú- An Giang) điện thoại kêu con ghé chợ Châu Đốc mua thịt bò về đãi cơm, chúng tôi đã đồng loạt “phản ứng”: “Anh em mình ra chợ xã mua cá, ngon-bổ-rẻ… “. Anh Giáo đáp: “Năm nay lũ thấp, cá nhỏ xíu, lại ít nên vào giờ này có đốt đuốc cũng không thấy… ”. Là chỗ thâm tình, tôi biết anh Giáo thật lòng. Nhưng không hiểu sao từ đáy lòng lại cuộn lên nỗi buồn khi nghĩ đến cái ngày không xa nữa câu hát đồng dao: “Về sông ăn cá…” sẽ trở thành chuyện đời xưa.

Theo Nguyễn Hoàng Huy (Chi cục Thủy sản An Giang) trong 10 năm gần đây, lượng cá tự nhiên giảm trên 50%. Còn theo TS Nguyễn Văn Kiền, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Phát triển nông thôn (ĐH An Giang) thành viên nhóm nghiên cứu “Tác động của đập thủy điện đến an ninh lương thực vùng sông Mê Kông” do ĐH Quốc gia Úc kết hợp Viện Luc Hoffmann (Thụy Sĩ) và Quỹ “Bảo tồn động vật hoang dã” thực hiện, tới đây mức độ sụt giảm cá sẽ như chiếc xe lao dốc không phanh.

“Nghiên cứu cho thấy, nếu 11 đập thủy điện hoàn thành (viễn cảnh 1), thì 16% lượng cá sẽ bị mất (tương đương 340.000 tấn). Nếu 88 đập sẽ được xây vào 2030 (viễn cảnh 2), thì 23,4 – 37,8% lượng cá bị mất, (549. 000 – 792.000 tấn/năm”, Ts Kiền nhấn mạnh.

Sạt lở bờ sông ở ĐBSCL ngày càng khốc liệt. (Trong ảnh sạt lở đánh sập một đoạn quốc lộ 91 tại khu vực huyện Châu Phú (An Giang) 

Đây là vấn đề hệ trọng, bởi không chỉ ảnh hưởng đến sinh kế của trên 60 triệu người dân dựa vào tài nguyên cá, mà còn ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống của hàng trăm triệu người dân trong lưu vực. TS Kiền cho biết thêm: “Nghiên cứu của nhóm cho thấy: Để bù lượng dinh dưỡng cá mất đi, Campuchia cần 29% diện tích đất tăng thêm so với hiện tại, Lào cần 42% (viễn cảnh 1). Tương tự, đối với viễn cảnh 2, Campuchia cần thêm 36- 129%, riêng Việt Nam cần 257.000 ha”. Đây là con số “không thể”, bởi theo kịch bản “biến đổi khí hậu, nước biển dâng” ĐBSCL sẽ bị mất đất sản xuất do bị “chìm”.

Nhưng theo ThS Nguyễn Hữu Thiện (Chuyên gia sinh thái ĐBSCL) rất khó để bù đắp lượng cá tự nhiên bằng thủy sản (TS) nuôi. Bởi ngoài đòi hỏi vốn đầu tư, chi phí thức ăn cao, người nghèo khó kham được và bản thân nguồn thức ăn cho cá nuôi cũng phụ thuộc rất lớn vào nguồn cá tự nhiên.

ThS Thiện thí dụ: để sản xuất được 1,2 triệu tấn cá tra, cần phải có 1,4 triệu tấn cá tự nhiên (chủ yếu là cá biển) làm thức ăn. “Khi các đập trên sông Mê Kông được xây dựng, lượng dinh dưỡng theo phù sa sông Mê Kông mang ra vùng biển ĐBSCL sẽ giảm, dẫn đến suy giảm năng suất thủy sản biển và vì vậy cũng suy giảm nguồn cá phục vụ cho ngành chăn nuôi TS”, ThS Thiện nhấn mạnh. 
Nguy cơ… “tan biến”.Đã hơn 3 tháng trôi qua, nhưng người dân thành phố Cao Lãnh vẫn chưa quên được sự cố sạt lở bờ sông Tiền tại Tổng kho xăng dầu tỉnh Đồng Tháp vào đầu tháng 7.2015 làm gãy sập hoàn toàn cầu dẫn chính, sụp trôi bồn lường, nhà cấp phát, hàng rào và bờ kè với tổng thiệt hại trên 15 tỷ đồng.
“Chưa quên”, vì đây không chỉ là vụ sạt lở nghiêm trọng, thiệt hại lớn mà còn vì bởi vào thời điểm này năm 2014, tại đây cũng xảy ra sạt lở làm sụp đổ trôi hoàn toàn cầu cảng phụ. Dẫu biết rằng, sạt lở là chuyện tự nhiên của dòng sông, nhưng sự xuất hiện sạt lở lớn, liên tiếp vào mùa khô như thế này là hiện tượng không bình thường, vì thông lệ, sạt lở vùng ĐBSCL chỉ hoạt động mạnh vào thời điểm mùa mưa lũ.

Nhưng đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Bởi ngay từ tháng 3.2015 – điểm đỉnh khô hạn – sạt lở bờ sông vẫn liên tiếp tấn công Đồng Tháp, thậm chí còn đánh sập cả công trình phòng chống sạt lở trị giá hàng trăm tỷ đồng vừa mới đưa vào hoạt động tại xã An Hiệp, huyện Châu Thành. “Buồn thúi ruột, thúi gan…”, bà Trương Thị Đào (tổ 9, ấp Tân Thạnh, An Hiệp) đã không kềm được cảm xúc khi chúng tôi hỏi về trận sạt lở công trình chống sạt lở phía sau nhà.Mời khách vào nhà, nhưng bà Đào vẫn dán mắt vào xa xăm như để “né tránh” sự thật tàn nhẫn đang bao phủ lên “ngôi nhà đời người” của mình. Nhà đông con, ít đất, vợ chồng bà lam lũ, gặng chắt suốt mấy chục năm ròng mới tích lũy được hơn 200 triệu đồng. Thấy Nhà nước đầu tư công trình bảo vệ bờ sông sau nhà, tin tưởng, vợ chồng bà trút ống cất nhà tường gạch dưỡng già. Nhưng chưa đầy năm thì niềm vui ấy đã tan biến.

“Nhận thông báo, phải di dời vì nhà nằm trong vành đai sạt lở, vợ chồng tôi coi như hết”, nhìn bà Đào đau đáu, tôi hình dung đến thân phận của hàng ngàn người dân vùng ĐBSCL bị sạt lở hoành hành, mất đất sản xuất, mất luôn căn nhà cả đời chắt mót mà lòng đắng như uống thuốc độc.

Lúa bị chết sau khi bơm trúng luồng nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền 

“Không chỉ có bờ sông mà cả bờ biển vùng ĐBSCL cũng gia tăng sạt lở”, PGS.TS Lê Anh Tuấn (Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu- ĐH Cần Thơ) nhấn mạnh: “Chính mặt trái của đập thủy điện sông Mê Kông là thủ phạm”. Tuy nhiên theo TS Tuấn, đập thủy điện ngoài đánh thẳng vào 2 trụ cột kinh tế là nông nghiệp và thủy sản trước mắt và để lại nhiều “di chứng” lâu dài, khó lường trên các lĩnh vực khác như: cung cấp dinh dưỡng đất, tạo trầm tích và mở rộng diện tích, bổ sung nguồn vật liệu xây dựng…Thậm chí, nhiều chuyên gia còn cho rằng đập thủy điện còn dồn đẩy ĐBSCL đến bờ vực “tan biến”. “ĐBSCL được kiến tạo bởi phù sa sông Mê Kông và hãy còn rất trẻ. Vì thế, khi bị các con đập thủy điện giữ lại lượng phù sa bồi đắp, khiến quá trình kiến tạo này bị đảo ngược và ĐBSCL sẽ tan rã”, ThS Nguyễn Hữu Thiện cho biết là đã loại trừ tác động của biến đổi khí hậu.

Chưa “xây” đã… sai

Các nghiên cứu trong nước và quốc tế đã minh chứng: đập thủy điện trên sông Mê Kông thúc đẩy nhanh hơn việc gây mất cân đối nguồn nước, suy giảm nguồn cá, phù sa, hệ sinh thái… vùng ĐBSCL. Người dân, nhà khoa học… đã đồng loạt cảnh báo, đấu tranh, nhưng hiệu quả chưa như mong đợi. Tại Hội thảo “Thủy điện Mê Kông: Khoa học, chính sách và tiếng nói cộng đồng” doTrung tâm Con người và Thiên nhiên tổ chức tại An Giang vào trung tuần tháng 11.2015, Ame Trandem (Tổ chức Sông ngòi Quốc tế) cho biết, tất cả các đập đã, đang và sắp xây dựng tại Trung Quốc, Lào hoàn toàn không có báo cáo tham vấn trước với Ủy hội sông Mê Kông.

Trong khi đó “khung thể chế cho việc quản trị nguồn nước quốc tế” là “Hiệp định Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông” (1995) cũng có nhiều điểm hạn chế. Do vậy các chuyên gia khuyến cáo chuyển cách giải quyết từ con đường Nhà nước sang “đấu tranh nhân dân”, như: lập các diễn đàn “Nhân dân khu vực Mê Kông” sử dụng tiếng nói cộng đồng thuyết phục chính phủ các nước trong lưu vực “hồi tâm, chuyển ý”.

Tuy nhiên, giữa lúc cuộc chiến với thế lực “bên ngoài” mới bước vào giai đoạn “xây”, thì ngay bên trong chúng ta đã tự làm “sai” khiến tình hình thêm trầm trọng. Không chỉ thiếu những nghiên cứu chuyên sâu, mang tính thuyết phục cao, giới nghiên cứu – người tạo ra “tấm lá chắn” khoa học cho Mê Kông – thường xuyên tự làm suy yếu mình bởi những tranh luận “không đáng có” khiến các hội thảo về đập thủy điện chưa phát huy hết tính khoa học để các quốc gia thượng nguồn “tâm phục, khẩu phục”.

Trong khi đó, người dân lại làm gia tăng tác động tiêu cực thông qua việc đánh bắt thủy sản mang tính hủy diệt, làm bờ sông, lòng sông thêm tổn thương… Thậm chí, ngay đến cơ quan quản lý Nhà nước cũng vô hình trung “mở cửa sau” rước thảm họa vào nhà. Theo PGS.TS Lê Anh Tuấn, đập thủy điện xuất hiện, gần như 160 triệu tấn bùn cát trên dòng Mê Kông khó còn đường về hạ nguồn. Hiện trữ lượng cát trên sông Cửu Long chỉ còn khoảng 800 triệu m3, nhưng cơ quan chức năng lại cấp phép cho 126 tổ chức, doanh nghiệp khai thác với sản lượng 28,23 triệu m3/ năm.

 Việc lạm dụng khai thác cát trên hạ lưu sông Mê Công được xác định là nối giáo cho thiên tai và mặt trái của đập thủy điện…. tăng cường ảnh hưởng đến sự ổn định của ĐBSCL

Theo tính toán của PGS.TS Đinh Công Sản (Viện Khoa học thủy lợi miền Nam), với tốc độ khai thác này, sông Cửu Long hết cát sau 30 năm nữa. “Điều này sẽ là thảm họa khó lường vì đồng nghĩa với việc đập nát “bộ xương” định hình cho diện mạo của ĐBSCL”, PGS.TS Dương Văn Ni (Trung tâm Thực nghiệm Đa dạng sinh học Hòa An- Đại học Cần Thơ) nhấn mạnh.

Kiên trì đấu tranh, kêu gọi các quốc gia thượng nguồn trả tự do cho dòng cho sông Mê Kông là hết sức cần thiết để làm giảm thảm họa “ĐBSCL sẽ chìm” theo kịch bản “bối cảnh biến đổi, nước biển dâng”, nhưng ngay lúc này, một vấn đề cực kỳ quan trọng là phải nhanh chóng và kiên trì khơi thông nếp nghĩ, lối hành xử của mỗi chúng ta để ĐBSCL không phải rơi vào thảm họa “sống mòn” trước khi sông Mê Kông bị nghẽn mạch, cạn dòng.

Vì thế “Chảy đi sông ơi” còn là lời nhắc nhớ chúng ta hãy khơi thông dòng chảy trong từng nếp nghĩ, lối hành xử của chính mình.

***

Hãy cứu lấy sông MeKong

– 19 LỤC TÙNG 10:4 PM, 22/01/2016
Người dân Thái Lan tại Diễn đàn “Tiếng nói của người dân Mekong”

“Chúng tôi muốn Chính phủ các nước lắng nghe”, “Chúng tôi muốn có tổ chức chuyên nghiệp”, “Chúng tôi muốn…” Đó không chỉ là nguyện vọng chính đáng và thiết tha của hàng chục triệu người dân, mà còn là tấm lòng của những cán bộ, trí thức đã và đang công tác tại các quốc gia trong lưu vực sông Mekong… Tất cả như gióng lên tiếng lòng của cộng đồng cư dân vì sông Mekong ổn định và phát triển bền vững. Chúng tôi xin gởi đến bạn đọc chùm ý kiến dưới đây như góp thêm tiếng nói để các nhà chức trách xem xét kèm thông điệp: Hãy cứu lấy sông Mekong!

“Hãy lắng nghe tiếng nói người dân”

Chính phủ các nước khu vực Mekong cần phải lắng nghe và hiểu thêm về các tác động của các đập thủy điện tới chúng tôi. Các nghiên cứu cần được thực hiện để hiểu đầy đủ giá trị của các dòng sông cũng như những tác động xã hội và môi trường do các dự án thủy điện gây ra và phải đưa ra các bằng chứng tác động tiêu cực ảnh hưởng tới các nguồn lợi của người dân… để đi đến ngưng xây dựng các dự án thủy điện. Một lần nữa chúng tôi muốn nhắc lại với các Chính phủ rằng, chúng tôi, những người dân từ khu vực Mekong muốn bảo vệ các dòng sông cho các thế hệ con cháu mai sau và cần được tham gia trong quá trình ra quyết định đối với các dòng sông này.
(Trích Diễn đàn “Tiếng nói của người dân Mekong: Thông điệp gởi tới Chính phủ các nước thuộc lưu vực sông Mekong về đập thủy điện” tổ chức 11.2015 tại An Giang)

TS Bùi Đạt Trâm, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Khoa học công nghệ khí tượng thủy văn và môi trường – Tp HCM:

“Khó, nhưng chưa ló cái khôn”

Lưu vực sông chỉ được khai thác tốt nhất bằng giải pháp tổng hợp. Theo đó thượng nguồn giữ rừng – lớp phủ, xây dựng các công trình điều hòa dòng chảy lũ và dòng chảy kiệt cho hạ lưu. Còn hạ lưu, lên đê dọc ven sông để tăng thêm khả năng chống lũ, xây dựng các công trình điều khiển mặn, chống sạt lở đất bờ sông và diễn biến lòng dẫn…

Tuy nhiên điều này rất khó đối với sông Mekong vì đi qua 6 quốc gia và mỗi quốc gia có quyền khai thác đáp ứng yêu cầu của họ theo thông lệ quốc tế và luật pháp của mỗi nước. Bên ngoài khó, nhưng bên trong chúng ta lại chưa ló được nhiều cái khôn. Ngành thủy lợi và khí tượng thủy văn đã nghiên cứu và cung cấp cơ sở khoa học giúp nhà hoạch định tìm ra lời giải cho bài toán quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, đưa ĐBSCL trở thành trung tâm sản xuất lương thực, thủy sản, hoa quả… cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu, đập thủy điện hiện nay. Nhưng bên cạnh đó cũng phải kể đến những yếu kém trong cập nhật nắm bắt thực tiễn, dự báo xu hướng phát triển…

Có thể lý giải điều này như sự phát triển nhanh và mạnh của nhu cầu cung cấp cát cho ngành xây dựng, nhu cầu phát triển thủy sản vùng ven biển, nhu cầu cấp nước cho phát triển sản xuất từ một vụ sang hai, ba vụ … Nhưng chính những bất cập đó đã gây ra một số phản ứng gay gắt của tự nhiên: làm gia tăng mặn, sạt lở đất bờ sông, thiếu nước ngọt trong mùa khô… ở quy mô cục bộ.

ThS Trần Anh Thư, GĐ Sở NN-PTNT An Giang 

ThS Trần Anh Thư, GĐ Sở NN-PTNT An Giang

“Cần nhạc trưởng cho buổi hòa tấu”

Sự xuất hiện của đập thủy điện vùng thượng lưu sẽ làm thay đổi dòng chảy lũ và dòng chảy kiệt hạ lưu. Điều này không chỉ phá vỡ hoàn toàn hạ tầng kỹ thuật kiểm soát lũ mà người dân và nhà nước vùng ĐBSCL đầu tư suốt mấy chục năm qua, hay làm giảm cá tự nhiên, thiếu nước ngọt vào mùa khô, đặc biệt là khi có thêm Elnino như năm nay sẽ làm ít nhất 30% diện tích sản xuất lúa hè thu sẽ bị thiếu nước đầu vụ… mà còn gieo rắc nhiều thiệt hại không dễ nhận thấy, như: giảm nguyên, trung, vi lượng, chất hữu cơ, hoạt động của vi sinh vật…trong đất, nói chung là những thành phần không thể bù đắp bằng bón thêm phân…

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vấn đề không dễ xử lý khi các quốc gia vùng thượng lưu và trung lưu có xu hướng khai thác tài nguyên nước vào mục đích thủy điện. Vì vậy ĐBSCL cần có giải pháp thích ứng chủ động. Theo đó, bên cạnh giải pháp phi công trình, như: chuyển đổi cây trồng ít sử dụng nước…rất cần có các giải pháp công trình. Sẽ tuyệt vời về mặt khoa học nếu thực hiện nạo vét, tăng dung tích chứa và biến Biển Hồ (CPC) thành hồ chứa đa chức năng, nhưng điều này còn lệ thuộc vào yếu tố ngoại giao.

Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể tự cứu mình bằng hệ thống hồ điều hòa ở vùng ĐồngTháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên bằng cách khôi phục lại diện tích rừng tràm, hình thành các hồ trữ lũ bán thời gian…Do đây là công việc liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực thuộc quyền và trách nhiệm của nhiều ngành nên rất cần có nhạc trưởng để buổi hòa tấu diễn ra đồng bộ, nhịp nhàng trọn vẹn.

TS Đỗ Minh Nhựt, Phó GĐ Sở NN-PTNT Kiên Giang:

“Tranh thủ đội ngũ nhà khoa học tại quốc gia xây đập thủy điện”

Việc xây các đập thủy điện ở thượng, trung nguồn đã làm thay đổi hoàn toàn sinh thái vùng hạ nguồn sông Mê Kông, như: việc tháo chua, rửa mặn cũng bị hạn chế; bờ sông và hiện tượng sạt lở bờ biển Tây ngày càng nghiêm trọng; hiện tượng mặn xâm nhập diễn ra thường xuyên… Hàng năm trung ương, địa phương phải bỏ ra nguồn kinh phí lớn để phòng chống, khắc phục.

Việc đánh giá tác động của đập thủy điện lên toàn sinh thái vùng ĐBSCL khá phức tạp. Tuy nhiên nếu tập hợp được các nhà khoa học trong nước, cộng thêm sự hợp tác tư vấn từ bạn bè các nước, đặc biệt là tranh thủ đội ngũ các nhà khoa học tại các quốc gia xây dựng đập thủy điện thì “khó khăn nào cũng vượt qua”.

Bởi hơn ai hết, chính họ là người hiểu được mặt trái của đập thủy điện đến vùng thượng nguồn do bồi lắng phù sa ở các đáy lòng hồ, đập; môi trường ô nhiễm, thay đổi sinh thái…. Khi đó việc đấu tranh ngăn chận đập thủy điện sông Mê Kông sẽ đầy đủ tính thuyết phục hơn.

Ông Huỳnh Minh Đoàn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, nguyên Phó trưởng BCĐ Tây Nam Bộ:

Ông Huỳnh Minh Đoàn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, nguyên Phó trưởng BCĐ Tây Nam Bộ:

“Cần có tổ chức chuyên trách tại chỗ”

Hơn 30 năm trước, khi về Đồng Tháp làm việc, cụ Võ Văn Kiệt từng lưu ý: “Sau này nước ngọt rất quý”. Thực tế cho thấy, Đảng, Nhà nước ta không chỉ sớm nhận ra mà có nhiều đầu tư cho lĩnh vực nước cho Đồng Tháp nói riêng, vùng ĐBSCL nói chung. Tuy nhiên ĐBSCL đang đứng trước những thách thức hệ trọng về nước. Có nhiều nguyên, nhưng nguyên nhân quan trọng là chính chúng ta thiếu đồng bộ trong hành động ứng phó…

Hiện nay ĐBSCL đang trong tình thế “nước tới trôn”, phải hành động mạnh mẽ và quyết liệt hơn với tâm thế tự cứu mình, chớ không chờ kết quả từ trận đấu bên ngoài định đoạt mình như ngôn ngữ trong bóng đá. Trong bối cảnh hiện nay, để làm tốt điều này cần có tiếng nói, hành động và giải pháp mang tính thống nhất trong nước mà còn đòi hỏi cả quốc tế. Đây là nhiệm vụ cực kỳ khó bởi sự đan xen giữa đòi hỏi chính xác của khoa học, tầm bao quát của công tác quản lý và sự mềm dẽo, khôn khéo của ngoại giao…

Vì thế cần có tổ chức chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Cụ thể, đó phải là những người am tường về sông Cửu Long, sông Mekong, sát với ĐBSCL và đặc biệt là tổ chức này phải đứng chân tại ĐBSCL, để kịp thời lắng nghe, ghi nhận mọi diễn biến, ý kiến đề xuất của từng đoạn sông, từng địa phương và chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước những kế hoạch chủ động, sát nhu cầu từng sự vụ, từng địa phương và đảm bảo hài hòa, hợp lý trước mắt cũng như lâu dài trong mối tương quan toàn khu vực.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s