‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài – 5 kỳ

TNCó 25 doanh nghiệp logistics đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam nhưng chiếm tới 70 – 80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics. Trong khi đó dù có gần 1.200 doanh nghiệp nội nhưng chủ yếu chỉ làm đại lý hoặc nhà thầu phụ.

‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài
Phần ngon nhất của logistics là vận tải biển đã thuộc về nước ngoài – Ảnh: D.Đ.M

Phần “nạc” nước ngoài hưởng

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), chi phí logistics (chi phí vận tải bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác…) ở VN bằng khoảng 20,9 – 25% GDP, tương đương 35 – 40 tỉ USD. Với tốc độ tăng trưởng trung bình 20%/năm, logistics có mức tăng trưởng cao nhất trong lĩnh vực dịch vụ ở VN.

 

Nếu như tổng dung lượng của thị trường logistics VN khoảng 35 – 40 tỉ USD mỗi năm thì hơn 30 – 35 tỉ USD đã thuộc về các DN ngoại. Trong đó dịch vụ vận tải biển chiếm doanh thu lớn nhất thì thuộc về các DN logistics đa quốc gia. Coi như phần ngon nhất của cái bánh logistics thì nước ngoài xơi hết rồi và rất khó để chúng ta có thể giành lại được

Ông Đỗ Xuân Quang, Chủ tịch Hiệp hội DN dịch vụ logistics Việt Nam

 

Doanh thu lớn, tốc độ tăng trưởng cao nhưng các doanh nghiệp (DN) nội vẫn chỉ chiếm phần ít ỏi. Chẳng hạn đối với hoạt động xuất nhập khẩu, cước vận tải tàu biển là lớn nhất nhưng hầu như 100% thuộc về các hãng tàu nước ngoài, các DN nội địa chỉ làm đại lý và phụ trách những việc phụ với giá trị gia tăng ít.

Ví dụ: Giá cước vận tải cho hàng xuất khẩu đi từ TP.HCM đến New York (Mỹ) là 2.800 USD/container 20 feet (từ 20 – 25 khối), thì các loại phí địa phương như phí xếp dỡ, phí dịch vụ đại lý, phí tại kho, phí lệnh giao hàng… chỉ khoảng 65 – 70 USD/khối (chưa kể phí chứng từ cố định khoảng 25 – 30 USD/bộ). Như vậy nếu cộng tất cả thì phí địa phương (kể cả phí chứng từ) cho một container 20 feet chỉ khoảng 1.400 USD, bằng một nửa giá cước tàu biển. Không chỉ riêng vận tải biển, thị trường vận tải hàng hóa hàng không VN với giá trị tổng thị trường cước vận tải khoảng 700 triệu USD/năm nhưng các DN VN ước cũng chỉ chiếm khoảng 20 – 22%.

Ông Đỗ Xuân Quang, Chủ tịch Hiệp hội DN dịch vụ logistics VN, phân tích: Vận tải biển chiếm đến 50 – 60% giá trị dịch vụ logistics nhưng hiện nay lĩnh vực này lại thuộc về hầu hết các hãng tàu nước ngoài. Các DN trong nước chỉ làm thuê lại cho nước ngoài với những công việc nặng nhọc, vất vả như bốc xếp, kiểm đếm… Bên cạnh đó, ngay cả các khâu khác như kho vận, phân phối cũng đều do nước ngoài thực hiện vì hệ thống kho lạnh của các DN nội cũ kỹ, công nghệ lạc hậu nên khách hàng không chấp nhận.

Điều này cũng kéo theo hậu quả là các DN xuất nhập khẩu VN cũng bị mất quyền chủ động trên thân tàu và không thể kiểm soát được chi phí xuất nhập khẩu của mình. “Nếu như tổng dung lượng của thị trường logistics VN khoảng 35 – 40 tỉ USD mỗi năm thì hơn 30 – 35 tỉ USD đã thuộc về các DN ngoại. Trong đó, dịch vụ vận tải biển chiếm doanh thu lớn nhất thì thuộc về các DN logistics đa quốc gia. Coi như phần ngon nhất của cái bánh logistics thì nước ngoài xơi hết rồi và rất khó để chúng ta có thể giành lại được”, ông Quang nói.

Khó cạnh tranh

Đại diện Công ty SX-TM may Sài Gòn cho biết đối với hàng xuất khẩu dệt may, hầu hết đều do phía đối tác nước ngoài chỉ định nên gần như 100% dịch vụ logistics đều thông qua các DN nước ngoài hoặc đại lý của các hãng nước ngoài tại VN. Chuyện này cũng xảy ra với nguyên phụ liệu nhập khẩu vì đa số đối tác nước ngoài đều bán theo phương thức CIF (người bán chịu mọi chi phí vận chuyển hàng hóa đến cảng của người mua). Ngược lại đối với nhiều loại hàng hóa của VN khi xuất khẩu đi nước ngoài đều theo giá FOB (người bán giao hàng cho người mua trên tàu tại cảng VN). Câu chuyện “mua giá CIF, bán giá FOB” được xem là tập quán lâu đời trong kinh doanh xuất nhập khẩu của chúng ta và chính phương thức kinh doanh này đã khiến cho các  hãng tàu của VN ngày càng rơi vào cảnh khó khăn khi không có khách hàng.

 

Dịch vụ hạ tầng còn manh múnTheo báo cáo về ngành logistics của WB tại VN vào tháng 1.2014, các thách thức chính đối với việc nâng cao tính cạnh tranh của ngành logistics VN là các quy định, điều luật liên quan hiện nay còn phức tạp và khó hiểu. Hệ thống cơ sở hạ tầng được xây dựng còn manh mún, không mang tính chiến lược; dịch vụ của ngành vận tải đường bộ còn dưới chuẩn khi so với các nước trong khu vực; cụm cảng nước sâu chưa được sử dụng hết công suất.

 

Bên cạnh đó, sự cạnh tranh của các DN nội với những công ty logistics đa quốc gia trở thành điều “không tưởng” khi quy mô quá nhỏ, vốn điều lệ bình quân chỉ khoảng 4 – 6 tỉ đồng, nguồn nhân lực đào tạo chuyên ngành còn rất thấp và mạng lưới phân phối không thể có mặt ở nhiều cảng quốc tế…

Không chỉ dịch vụ logistics cho hoạt động xuất nhập khẩu đã bị rơi vào tay DN ngoại, ngay cả hoạt động vận tải nội thủy cũng đang dần dần mất đi dù VN chưa thực sự mở cửa cho nước ngoài. Một DN sắt thép tại TP.HCM kể trước đây, việc vận chuyển sản phẩm từ nam ra bắc được thực hiện theo đường thủy và hoàn toàn do các DN nội thực hiện (phía DN nước ngoài không được phép vận tải nội địa). Tuy nhiên các đội tàu kém chất lượng, giao hàng không đảm bảo theo thời gian cam kết nên dần dần DN chuyển sang vận tải bằng đường bộ. Bên cạnh đó, giá cước cũng là một vấn đề đáng quan tâm khi theo Hiệp hội Chủ tàu VN, giá cước vận chuyển container tại nước ta cao hơn so với khu vực khoảng 20 – 30% khi VN chưa có cảng đủ sức cho các tàu hàng lớn. Vì vậy chủ tàu phải chịu thêm phí cho tàu gom hàng (Feeder) từ VN sang cảng trung chuyển cùng với phí bốc xếp, lưu giữ container… Phần lớn các hãng tàu VN chỉ tham gia vào khâu gom hàng rồi chuyển tiếp cho các hãng tàu lớn tại các cảng trung chuyển. Chính vì thế, các hãng tàu VN khó nhận được đơn hàng vận chuyển do việc vận chuyển phải qua nhiều khâu trung chuyển và chi phí vận chuyển lớn, các dịch vụ trong chuỗi cung ứng dịch vụ không liên hoàn và kém chuyên nghiệp.

Còn theo ông Đỗ Xuân Quang, các DN nước ngoài đều có dây chuyền cung ứng tốt, trình độ quản trị hiện đại cùng kinh nghiệm và công nghệ cao nên giá rẻ hơn DN nội. Một công việc nhưng phía nước ngoài chỉ cần 2 – 3 người làm thì DN trong nước cần đến 5 – 6 người làm. Vì vậy ngoài những lý do khách quan thì bản thân các DN logistics trong nước cũng phải nâng cao năng lực tự thân nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ thì mới phát triển và giữ được khách hàng. Từ đó mới dần dần chen chân được vào những phân khúc có giá trị cao hơn trong ngành logistics.

Mai Phương

*****

‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài – Kỳ 2: Nhân sự Việt mất phần

TN – Các vị trí nhân sự cao cấp, thu nhập cao ở khách sạn lớn tại Việt Nam đều do người nước ngoài nắm giữ.

Khách sạn Dịch vụ quản lý khách sạn ở VN đang nằm trong tay doanh nghiệp ngoại – Ảnh: Diệp Đức Minh

>> ‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài

Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, hiện trong nước có khoảng 5.000 khách sạn 3 – 5 sao nhưng hầu hết các khách sạn đình đám nhất, nằm ở vị trí đẹp nhất đều phải thuê công ty nước ngoài quản lý.

Nhân sự ngoại hưởng lương cao

Hoạt động tích cực nhất ở thị trường VN là Tập đoàn quản lý khách sạn Accor (Pháp) hiện quản lý gần 20 khách sạn cao cấp, với các thương hiệu quen thuộc như Sofitel, Pullman, Novotel, Mercure… Đến từ Mỹ có Tập đoàn Starwood nắm trong tay dòng thương hiệu cao cấp Sheraton, Le Méridien; Tập đoàn IHG (Anh) sở hữu thương hiệu Crown Plaza và InterContinental. Ngoài ra, còn hàng loạt nhà quản lý ngoại khác như Hyatt, Evason Ana Mandara (thương hiệu Six Senses), Marriot, Movenpick, Best Western… Các thương hiệu châu Á cũng không hề chậm chân như Centara (Thái Lan), Nikko (Nhật Bản), Lotte (Hàn Quốc)…

Tâm lý sính ngoạiTheo ông Tào Văn Nghệ, nguyên nhân khiến VN không có công ty quản lý khách sạn chuyên nghiệp kiểu Centara của Thái Lan, là do những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính không quan tâm đến lĩnh vực này; không có ai mạnh dạn đứng ra và cùng với những người có kinh nghiệm thành lập công ty quản lý, dù việc này không quá khó khăn. Vấn đề quan trọng nhất là xu hướng vọng ngoại khiến chủ đầu tư khách sạn trong nước tìm  kiếm quản lý nước ngoài.

Ông Tào Văn Nghệ, Tổng giám đốc khách sạn 5 sao Rex kiêm Chủ tịch Hội Khách sạn TP.HCM, nhận xét sự hiện diện của các thương hiệu khách sạn quốc tế tại thị trường nội địa là rất quan trọng, khiến du khách tin tưởng hơn vào chất lượng dịch vụ VN. Tuy nhiên, việc họ không địa phương hóa nhân sự cao cấp sau hàng chục năm có mặt tại thị trường nội địa cũng là một vấn đề. Theo ông Lê Đình Tuấn – người từng làm việc cho một công ty quản lý khách sạn, các công ty quản lý nước ngoài không có khuynh hướng đưa nhân sự địa phương vào vị trí quản lý cấp cao, dù người Việt đủ sức làm được những công việc này. Mỗi khi mở cửa một khách sạn cao cấp do nước ngoài quản lý, thì y như rằng, từ tổng giám đốc đến các trưởng bộ phận đều từ nước ngoài sang. “Các công ty này gần như đóng cửa tiềm năng phát triển của nhân sự địa phương trong ngành khách sạn, dù có rất nhiều người VN du học từ nước ngoài về”, ông Tuấn phát biểu.

Đảm nhận tất cả các vị trí cao cấp nên chênh lệch về thu nhập trong các khách sạn hiện nay cực lớn. Trong khi nhân sự nước ngoài hưởng lương cao chót vót thì nhân sự trong nước chỉ thu về mức lương rất thấp. Cụ thể, lương tổng giám đốc người nước ngoài của một khách sạn cao cấp từ 10.000 – 15.000 USD/tháng (210 – 320 triệu đồng/tháng) tùy quy mô, không tính thuế thu nhập (chủ đầu tư trả). Ngoài ra, họ còn được chi trả nhiều chính sách khác như biệt thự hạng sang, ô tô riêng, tài xế riêng, đi vé máy bay hạng thương gia… Các trưởng bộ phận cũng hưởng mức lương không dưới 5.000 USD/tháng (hơn 100 triệu đồng/tháng) và bao chi phí căn hộ. Ngược lại, thu nhập của nhân sự VN vẫn hết sức khiêm tốn, một phục vụ phòng hay phục vụ bàn vào khoảng 4 – 5 triệu đồng/tháng. Các vị trí có chuyên môn cao hơn cũng chỉ tương đương 1.000 USD/tháng (khoảng 21 triệu đồng).

Giá phòng bị đội

Ông Tào Văn Nghệ cho biết bất kỳ một hợp đồng quản lý khách sạn nào giữa chủ đầu tư và nhà quản lý chuyên nghiệp cũng có 2 loại phí cơ bản. Đó là phí quản lý, dao động từ 4 – 7%/doanh thu hằng năm, tùy theo quá trình đàm phán; phí thưởng quản lý giỏi (lãi càng cao, thưởng càng lớn), có khi lên tới 20 – 30%/tổng số tiền vượt chỉ tiêu đề ra. Ông Lê Đình Tuấn cho rằng việc phải trả chi phí quá cao cho nhân sự cấp cao nước ngoài cộng với suất đầu tư một khách sạn tương đối cao ở VN và nhiều chi phí tăng do lạm phát đã khiến giá phòng VN cao hơn nhiều so với khách sạn cùng đẳng cấp trong khu vực.

'Miếng ngon' dành cho nước ngoài - Kỳ 2: Nhân sự Việt mất phần - ảnh 2 Các công ty này gần như đóng cửa tiềm năng phát triển của nhân sự địa phương trong ngành khách sạn, dù có rất nhiều người VN du học từ nước ngoài về 'Miếng ngon' dành cho nước ngoài - Kỳ 2: Nhân sự Việt mất phần - ảnh 3
Ông Lê Đình Tuấn

Khảo sát qua một trang mạng bán phòng trực tuyến cho thấy,  giá phòng của một khách sạn 5 sao ven biển Đà Nẵng và một khách sạn cùng loại, cùng thời điểm, cùng thương hiệu (do Accor quản lý) ở ven biển Phuket (Thái Lan) thì giá ở VN cao hơn 1 triệu đồng, cao hơn 2 triệu đồng/phòng so với Bali (Indonesia), hơn 3 triệu đồng/phòng so với Pattaya (Thái Lan), 1 triệu đồng/phòng so với ở Thượng Hải… Theo các doanh nghiệp lữ hành, điều này góp phần đẩy chi phí tour trọn gói ở VN cao hơn 20 – 30% so với các nước trong khu vực. Ông Trần Văn Long, Tổng giám đốc Công ty du lịch Việt, nhận xét giá phòng khách sạn cao khiến du lịch VN kém hấp dẫn không chỉ đối với khách du lịch nước ngoài vào VN mà còn cả khách VN đi tour nội địa. Đây là một trong số các nguyên nhân khách du lịch VN có xu hướng bỏ tour nội địa để chọn tour nước ngoài trong nhiều năm qua.

Không chỉ tốn kém tiền công lao động cho nhân sự cao cấp nước ngoài, ông Lê Đình Tuấn còn đánh giá thiệt hại lớn nhất đối với nền kinh tế VN chính là nguồn thu rất lớn từ rất nhiều khoản phí mà các công ty quản lý khách sạn chuyển ra nước ngoài hằng năm và lao động có trình độ trong nước không được tạo cơ hội để phát huy năng lực chuyên môn, nắm bắt công nghệ, tích lũy kinh nghiệm quản lý hiện đại. Nếu VN phát triển được các công ty quản lý, cạnh tranh bình đẳng với nước ngoài, tình trạng này sẽ được hạn chế.

N.Trần Tâm

*****

‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài – Kỳ 3: Giá thức ăn chăn nuôi đè nông dân

TN – Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang chiếm 65 – 70% thị phần thức ăn chăn nuôi, găm giá khiến dù ngành chăn nuôi đang lao đao, giá gà, heo rớt thê thảm nhưng giá thức ăn chăn nuôi vẫn cao chót vót, đè nặng lên vai người chăn nuôi.

'Miếng ngon' dành cho nước ngoài - Kỳ 3: Giá thức ăn chăn nuôi đè nông dânGiá thức ăn chăn nuôi quá cao trong khi giá thịt, trứng giảm mạnh khiến người chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn – Ảnh: Q.Thuần

Vung tay chi để chiếm thị trường

Theo thống kê của Bộ NN-PTNT, hiện cả nước có hơn 58 doanh nghiệp (DN) sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN) với hơn 200 nhà máy, trong đó DN nước ngoài chiếm 1/3 số nhà máy nhưng thị phần lại chiếm tới 65 – 70%. Các DN ngoại này chỉ giữ lại khoảng 10% lượng thức ăn sản xuất ra để chăn nuôi gia công, còn lại bán ra thị trường cho các trang trại, hộ chăn nuôi. Các tên tuổi đang thống lĩnh ngành công nghiệp TĂCN VN có thể kể C.P Group (Thái Lan), Cargill (Mỹ), New Hope (Trung Quốc), Emivest (Malaysia)…

Với sản lượng 15,5 triệu tấn, ngành sản xuất TĂCN VN đứng đầu Đông Nam Á và đứng thứ 12 thế giới với mức tăng trưởng trung bình hằng năm từ 13 – 15%. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này chủ yếu nằm ở các DN ngoại, còn các DN vừa và nhỏ trong nước tăng trưởng không đáng kể. Đơn cử, công ty đang dẫn đầu lĩnh vực này là C.P, năm 2013 doanh thu ngành nông sản của C.P tại VN tăng 18,3 % so với năm 2012, đạt 1,808 tỉ USD. Trong đó, ngành thức ăn chăn nuôi chiếm 46,6% doanh thu, còn lại là ngành nuôi trồng và thực phẩm. Trong năm 2013, mặc dù tình hình chăn nuôi khó khăn nhưng doanh thu ngành hàng TĂCN của C.P vẫn tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, đạt 1,48 triệu tấn, trong đó thức ăn cho lợn, gia cầm, thủy sản và các sản phẩm thức ăn chăn nuôi khác chiếm lần lượt 49%, 23%, 25% và 3% doanh thu.

Trong khi đó, theo Hiệp hội TĂCN VN, các DN trong nước đang hoạt động rất èo uột, nhiều DN vừa và nhỏ đã phá sản vì không thể vượt qua các khó khăn về chi phí đầu vào cao, thiếu vốn, chính sách bán hàng thiếu linh hoạt. Nếu như các DN ngoại chi rất nhiều “hoa hồng” cho đại lý, có cơ chế thưởng theo doanh số, cho nông dân mua chịu thức ăn… thì DN nội chỉ có thể chi một phần rất nhỏ nên không thể cạnh tranh. Nhiều DN ngoại tổ chức hệ thống bán hàng tầng nấc, hoa hồng và thưởng doanh số cho nhiều cấp đại lý, hậu quả là người nông dân phải mua TĂCN với giá cao.

Thao túng giá bán

Liên tiếp nhiều năm nay, ngành chăn nuôi trong nước gặp khó khăn vì dịch bệnh và thị trường tiêu thụ sụt giảm. Đỉnh điểm dịch cúm gia cầm năm nay đã khiến giá thịt, trứng giảm sâu dưới giá thành, nhiều nông dân thua lỗ phải bỏ chuồng trại. Thế nhưng, điều bức xúc nhất của nông dân là giá TĂCN vẫn cứ tăng. Bên cạnh yếu tố phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu, theo Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT), giá TĂCN tăng là do việc điều hành giá mặt hàng này nằm trong tay các DN ngoại.

Năm 2013, giá TĂCN trong nước bị đẩy lên cao với lý do biến động nguyên liệu nhập khẩu. Theo tính toán của Hiệp hội TĂCN VN, trong khi  chỉ cần bán TĂCN với giá 8.000 đồng/kg là đã có lãi thì hiện giá bán trên thị trường lên đến trên 12.000 đồng/kg, người chịu thiệt không ai khác chính là các hộ chăn nuôi trong nước. Năm 2014, ngành chăn nuôi cả nước thật sự lâm cảnh bi đát khi cung vượt cầu, sức mua giảm sút do ảnh hưởng dịch bệnh. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 4.2014 giảm 1 – 1,5% so với cùng kỳ năm 2013. Trong khi đó, giá nguyên liệu bắp, cám gạo giảm rất mạnh. Bắp từ 6.200 đồng/kg giảm còn 5.600 đồng/kg, giá cám gạo cũng giảm… nhưng giá TĂCN vẫn giữ mức như năm trước. Các công ty sản xuất TĂCN đối phó với tình hình bằng cách điều chỉnh giảm sản lượng nhưng tăng khuyến mãi hay thưởng doanh số cho đại lý, người nuôi vẫn phải cắn răng mua TĂCN với giá cao.

Trước tình hình này, Hiệp hội TĂCN VN kiến nghị: “Để tạo động lực cho người chăn nuôi phát triển sản xuất, Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành vào cuộc trong điều hành giá TĂCN một cách hợp lý”. Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, ngành nông nghiệp cần thay đổi cơ cấu sản xuất để tận dụng tối đa nguyên liệu sẵn có trong nước để sản xuất TĂCN, tránh tình trạng phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.

Mảnh đất màu mỡMảnh đất cho phát triển chăn nuôi ở nước ta từ nhiều năm qua thật sự rất màu mỡ, nhất là dành cho các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực  sản xuất TĂCN. Dù liên tục kêu lỗ, xin tháo gỡ, xin giảm thuế, nhưng nhìn chung DN TĂCN vẫn làm ăn rất béo bở, nhất là các DN nước ngoài. Thực tế kêu họ cứ kêu, nhưng làm gì có nhà máy nào giảm sút sản lượng, chỉ thấy tăng thêm, mở rộng.Giáo sư Lê Viết Ly, nguyên Phó viện trưởng Viện Chăn nuôi

Giá chỉ tăng chứ không giảm

Giá TĂCN đã chiếm đến 70% giá thành sản phẩm thịt gia súc, gia cầm. Nghịch lý là dù người chăn nuôi lao đao nhưng trước nay giá TĂCN chỉ tăng chứ không giảm. Dù cho người chăn nuôi đang thua lỗ thê thảm họ cũng không giảm giá bán vì đang giữ thị phần lớn. Do đó mọi thiệt hại đều thuộc về người chăn nuôi.

Ông u Thanh Long, chủ trại chăn nuôi tại Đồng Nai

Quang Thuần

*****

‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài – Kỳ 4: Hợp đồng triệu USD vào tay ‘ông lớn’

TN – Doanh thu hàng tỉ USD mỗi năm, song 90% thị trường quảng cáo nội địa thuộc về các tập đoàn truyền thông lớn nước ngoài.

>> ‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài
>> Miếng ngon’ dành cho nước ngoài – Kỳ 2: Nhân sự Việt mất phần
>> Miếng ngon’ dành cho nước ngoài – Kỳ 3: Giá thức ăn chăn nuôi đè nông dân

‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài - Kỳ 4: Hợp đồng triệu USD vào tay ‘ông lớn’Doanh nghiệp nội khó chen chân vào những hợp đồng quảng cáo lớn – Ảnh: D.Đ.M

Doanh nghiệp ngoại gần như độc quyền

Hiện 5 trong 6 tập đoàn quảng cáo truyền thông lớn trên thế giới: WPP, Omnicom, Dentsu, Publicis, Interpublic đều đã có mặt tại Việt Nam và cung cấp dịch vụ cho hầu hết các doanh nghiệp (DN) lớn trong và ngoài nước.

Đơn cử như WPP, Tập đoàn quảng cáo truyền thông của Anh và các công ty con đang cung cấp dịch vụ cho Unilever, HSBC, Bayer, Pepsico, Ford, Nokia, Johnson & Johnson, Kodak, Vedan, Nestle…; Tập đoàn Omnicom (Mỹ) thực hiện các hợp đồng quảng cáo cho GE Vietnam, Megastar, Abbott, Biere Larue…; Dentsu (Nhật Bản) “bao sân” các tập đoàn đến từ Nhật như: Ajinomoto, Canon, Dai-ichi Life, Toyota, Panasonic… Interpublic (Mỹ) là đối tác của Omo, LifeBouy, Nescafé, Clear…

Thông thường, các tập đoàn sản xuất lớn của thế giới thường chọn đối tác từ nước ngoài để thực hiện các hợp đồng quảng cáo theo chiến lược quảng cáo của các tập đoàn toàn cầu. Tuy nhiên, ngay cả DN nội cũng phải chọn nhà quảng cáo ngoại như: Vinamilk, Tân Hiệp Phát, MobiFone, Vinaphone… Lý do theo ông Đỗ Kim Dũng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đào tạo quảng cáo Việt Nam (ARTI) kiêm Viện phó Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam (VAA): “DN quảng cáo nội địa chưa đủ lực để nhận những hợp đồng quảng cáo trên 1 triệu USD. Nên dù muốn hay không, những hợp đồng này đều rơi vào tay các tập đoàn quảng cáo nước ngoài”.

Theo VAA, hiện có trên 4.000 DN cung cấp dịch vụ quảng cáo truyền thông nhưng theo bà Trần Thị Lan Thanh, Tổng giám đốc Goldsun Focus Media, số DN nội kinh doanh dịch vụ quảng cáo đúng nghĩa chỉ đếm trên đầu ngón tay. “DN quảng cáo ngoại gần như làm độc quyền. Đến hơn 90% doanh thu quảng cáo ở VN nằm trong tay các nhà quảng cáo ngoại, tập trung phần lớn ở kênh hàng tiêu dùng. DN nội địa đa số có quy mô nhỏ, trở thành các nhà làm thuê cho DN ngoại hoặc chỉ tham gia một số gói dự án nhỏ như làm sự kiện, tổ chức show, các hoạt động quảng cáo ngoài trời, thực hiện một số công đoạn trong chuỗi dịch vụ hoặc gia công là chính”, bà Lan Thanh chia sẻ.

Làm thuê tại sân nhà

Nghịch lý là dù gần như đứng ngoài thị trường này nhưng theo lãnh đạo một tập đoàn quảng cáo truyền thông ngoại, hơn 90% người Việt đang đảm đương các khâu quan trọng trong các hợp đồng quảng cáo khủng này. Từ lên chiến lược truyền thông, viết kịch bản, tổ chức thực hiện đều do ê kíp những người Việt làm. “Nhiều nhân sự cấp quản lý giỏi chúng tôi tuyển dụng từ các công ty trong nước, nơi họ đã có bề dày kinh nghiệm nhưng lương bổng không tương xứng”, lãnh đạo tập đoàn này tiết lộ.

Theo ông Đỗ Kim Dũng, có 3 yếu tố khiến DN quảng cáo nội cạnh tranh khó khăn hơn DN quảng cáo ngoại. Đó là thiếu hàm lượng chất xám cao do quanh năm chỉ quanh quẩn với những hợp đồng quảng cáo nhỏ, khách hàng nhỏ. Thứ hai là thiếu nguồn lực tài chính để có thể “trả trước” thậm chí chấp nhận mất để chuẩn bị tham gia đấu thầu những hợp đồng quảng cáo lớn và cuối cùng là thiếu mạng lưới các mối quan hệ rộng trên toàn cầu.

Thực tế, một số DN nội cũng đang nỗ lực “làm mới” để bắt nhịp với thị trường. Như VAC đẩy mạnh đầu tư kỹ thuật số cho mảng quảng cáo ngoài trời, Goldsun đầu tư làm quảng cáo trên thiết bị di động… Theo bà Lan Thanh, đây là lối đi riêng để có thể đương đầu với các nhà quảng cáo ngoại, nhưng sẽ gặp không ít khó khăn.

Nguyên Nga

*****

‘Miếng ngon’ dành cho nước ngoài – Kỳ 5: Cần chiến lược dài hơi hỗ trợ doanh nghiệp nội

TN  – “Vấn đề của chúng ta là chọn những ngành có thế mạnh, từ đó xây dựng chiến lược dài hơi để giành lại từng “miếng bánh ngon” hoặc chí ít giữ được những “mẩu bánh” mà mình đang có trước áp lực hội nhập này, không sẽ mất trắng”, ông Đỗ Hòa (ảnh), chuyên gia tư vấn chiến lược, thành viên Hội đồng Cố vấn Tạp chí Kinh doanh Harvard thuộc Đại học Harvard (Mỹ), nhấn mạnh khi trả lời phỏng vấn Báo Thanh Niên.

* Theo ông, những “miếng ngon” nào doanh nghiệp (DN) nội cần nỗ lực giành lại thị phần?

 'Miếng ngon' dành cho nước ngoài - Kỳ 5: Cần chiến lược dài hơi hỗ trợ doanh nghiệp nội - ảnh 1Ảnh: Nguyên Nga

– Sau thời gian ồ ạt với phong trào phát triển toàn diện các ngành công nghiệp một lúc, đến nay chúng ta nên dũng cảm chấp nhận rằng mình đã chưa thành công trong các hoạt động cụ thể đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa. Công nghiệp phụ trợ yếu kém, công nghiệp điện tử dừng lại ở mức gia công, công nghiệp ô tô chỉ lắp ráp là chính, công nghiệp đóng tàu biển cũng chưa thấy gì. Những “miếng ngon” chúng ta nói đến trong loạt bài như logistics, khách sạn, quảng cáo rất khó để nói đến việc giành lại thị phần. Lý do họ đã làm chuyên nghiệp và có quá nhiều kinh nghiệm hơn ta trong thời gian dài. Có chăng, nông nghiệp sẽ là chiếc phao cứu sinh cho nền kinh tế lúc này, mà thức ăn chăn nuôi chỉ là một mảng nhỏ trong đó. Nhưng “miếng ngon” này cần có chính sách vĩ mô với tầm nhìn dài hạn hơn.

* Tầm nhìn tầm vĩ mô dài hạn trong lĩnh vực nông nghiệp cụ thể là thế nào, thưa ông?

– Tôi nhấn mạnh, nông nghiệp không là “miếng ngon” mà chỉ là chiếc phao cứu sinh khá tốt cho nền kinh tế của chúng ta lúc này. Chính sách vĩ mô của chúng ta nói nhiều nhưng chưa có sự chuẩn bị mang tầm chiến lược quốc gia. Ở cấp quốc gia, nên có chiến lược phát triển sản phẩm nông sản có giá trị gia tăng cao hơn chứ không chỉ dừng ở mức xuất thô nhập tinh như hiện nay. Thực tế, chiến lược người Việt dùng hàng Việt sẽ thành công hơn nếu nhà nước hỗ trợ DN nội những việc thiết thực hơn là phong trào. Chẳng hạn, đầu tư nghiên cứu giống lúa tốt để tránh phụ thuộc nhập giống lúa kém chất lượng từ Trung Quốc, đầu tư nghiên cứu sản xuất cà phê chất lượng cao, hỗ trợ mạnh khâu chế biến sản phẩm nông sản để có những sản phẩm có giá trị cao. DN nào cũng muốn cạnh tranh ở phân khúc cao, nhưng những công đoạn tạo ra giá trị cao lại không được sự hậu thuẫn từ nhà nước, rất khó để DN tự bơi.

 'Miếng ngon' dành cho nước ngoài - Kỳ 5: Cần chiến lược dài hơi hỗ trợ doanh nghiệp nội - ảnh 2

* Vậy để giảm chênh lệch trong cạnh tranh với DN ngoại, lấy được thị phần trong khả năng, DN Việt cần chuẩn bị những gì, thưa ông?

– Từng làm việc, tư vấn tại một số tập đoàn đa quốc gia và DN lớn trong nước, tôi thấy, lỗ hổng lớn nhất của DN nội trong chiến lược nhân sự là thiếu một bộ tiêu chuẩn năng lực. Các tập đoàn đa quốc gia đều xây dựng bộ tiêu chuẩn này rất chi tiết nhưng hầu hết DN nội tầm lớn không hề có hoặc không nghĩ đến bộ tiêu chuẩn này một cách nghiêm túc. Thế nên mới có những quyết sách nặng phần cảm tính. Thứ nữa, như tôi nói ở trên, đừng nghĩ “miếng ngon” nào mình cũng có khả năng mà hãy biết chọn lọc, thậm chí chọn cách đi bằng ngách một cách thông minh hơn bằng những cam kết chặt chẽ và chính sách chuyển giao rõ ràng hơn. Tại các nước lân cận như Thái Lan, Malaysia, Singapore, nhiều vị trí quản lý trong các khách sạn hạng sang đều được chuyển giao cho người bản địa sau thời gian 2 – 3 năm đầu tư.

* Trước làn sóng DN nội mất dần những “miếng ngon” trên thương trường, ông có cảnh báo gì?

– Chúng ta đang chuẩn bị tinh thần kết thúc giai đoạn lợi thế nhân công giá rẻ. Qua giai đoạn này mà không nắm được công nghệ, không có sáng tạo cải tiến, bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình là vậy. Chính sách quản lý lỏng lẻo đã không “áp” được nhà đầu tư ngoại thực hiện các nghĩa vụ mà họ phải thực hiện khi đầu tư vào. Phía DN nội cũng không có cơ chế khuyến khích, thúc đẩy phát triển sáng tạo nên cứ mạnh ai nấy làm, manh mún và thiếu hẳn sự liên kết tạo nên sức mạnh.

Mở cửa cho nước ngoài vào, nhưng phải xác định rõ sau 5 – 10 năm, mình sẽ kết thúc vai trò làm thuê, làm gia công, tiến đến làm chủ như thế nào. Phải có kế hoạch cụ thể, nhà nước và DN cùng bắt tay làm và làm quyết liệt. Nhật, Hàn, Đài Loan đã rất thành công với chiến lược này và Trung Quốc đang có chính sách đó, nhưng ở VN, tôi thấy phản ứng còn rất chậm.

Ông Phan Thế Ruệ, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ VN, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại: Doanh nghiệp nội thiếu sự liên kếtDịch vụ là thế mạnh của các DN ngoại, nên DN nội khó cạnh tranh cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, có 4 vấn đề tôi nghĩ cần nói cho rõ. Thứ nhất là DN nội làm trong những lĩnh vực này chưa chịu khó đầu tư trong tâm thế hội nhập mà còn mang tâm lý trông chờ vào nhà nước. Hội nhập là phải nỗ lực vươn lên nhưng phía DN chúng ta chưa làm được điều này. Thứ hai là những dịch vụ cần công nghệ cao, DN ta lại đầu tư công nghệ kém hơn, làm sao cạnh tranh nổi, lấy ví dụ như ngành logistics. Hoặc chưa chú trọng phát triển vùng nguyên liệu như với ngành thức ăn chăn nuôi dẫn đến nhập nguyên liệu quá nhiều tất khó cạnh tranh nổi. Thứ ba là cộng đồng DN nội thiếu sự tổ chức, liên kết. Không có một anh cả trong ngành được Chính phủ hỗ trợ để làm đầu tàu liên kết các DN với nhau tạo sức mạnh như tạo môi trường pháp lý hỗ trợ về khoa học công nghệ, dự báo thị trường… để giúp DN nội mạnh hơn. Và cuối cùng là các chính sách về tài chính đối với DN nội cũng chưa được linh hoạt công bằng so với DN ngoại.

Nguyên Nga

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s