BÌNH LUẬN VỀ QUY HOẠCH ĐIỆN 7 HIỆU CHỈNH – LIÊN MINH NĂNG LƯỢNG BỀN VỮNG VIỆT NAM

“Cần tạo nhiều đột phá trong chính sách để đảm bảo tính khả thi và sự đồng bộ giữa định hướng và phương án tăng mạnh năng lượng tái tạo và giảm nhiệt điện than”  

Ngày 18 tháng 3 vừa  qua, Quy hoạch phát triển điện  lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020,  có xét đến năm 2030  HIỆU CHỈNH (QHĐ VII  HC) đã được Thủ  Tướng Chính Phủ phê duyệt.  Những nội dung cơ bản của QHĐ VII HC đã  được chia sẻ và thảo luận tại hội thảo “Phát triển  Năng lượng  – Tăng trưởng  Xanh – Biến  đổi khí  hậu: Nỗ lực  và Khoảng trống”  do Liên  minh Năng lượng  Bền vững Việt  Nam – VSEA – (1)  tổ chức sáng  ngày 24/3/201.

QHĐ VII  HC định hướng  chính sách  phát triển nguồn  điện trong  giai đoạn  tới tập  trung vào  “giảm công  suất và số  lượng các  nhà máy nhiệt điện  than  (NMNĐ than)”,  “giảm bớt  nhu cầu  nhiên liệu  hóa thạch”,  “sử dụng  các công nghệ tiên  tiến trong  nhà máy  nhiệt điện  (tăng hiệu  suất, giảm  tiêu hao nhiên  liệu, giảm  phát thải”, “tăng mạnh tỷ  trọng năng lượng tái tạo (NLTT)  trong cơ cấu nguồn điện”.

Luôn quan  tâm và thúc  đẩy sự  phát triển  năng lượng  bền vững ở  Việt Nam,  VSEA cho  rằng định  hướng điều chỉnh này  của Chính phủ  rất phù  hợp với nguyện  vọng của người dân cũng  như xu  thế  chung của thế giới hướng đến phát triển năng lượng sạch và bền vững.

Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu nguồn điện  trong QHĐ VII HC, nhiệt điện than vẫn dự kiến chiếm tới hơn 50% tổng sản  lượng điện sản xuất trong mười và  mười lăm năm tới. Khối lượng than  nhập khẩu để phát điện dự  kiến vào năm 2030 lên tới hơn 85  triệu tấn, cao gần gấp đôi so  với lượng than cung  ứng nội địa.  Kịch bản  này đặt ra  câu hỏi lớn  với an  ninh năng lượng  của Việt Nam. Liệu an ninh năng lượng  quốc gia có được đảm bảo khi theo  phương án hơn một nửa hệ thống điện phụ  thuộc vào  nhiệt điện than  trong đó  2/3 nguồn nhiên  liệu phụ  thuộc vào bên  ngoài?

Trên thực tế,  đây là nguồn điện  không được cộng đồng  trong nước và  quốc tế ủng hộ  tiếp tục phát triển  vì là  một trong  những nguồn  phát thải  khí nhà kính  lớn nhất.  Bên cạnh  đó, những quan ngại  về ô nhiễm  không khí và  ảnh hưởng tới  sức khỏe do  sản xuất điện  than cũng là  bài học lớn  từ trường hợp nhiệt  điện Vĩnh Tân  2 – Việt  Nam, cũng như  từ kinh nghiệm  của Trung Quốc và các quốc gia đã và đang phụ thuộc vào nhiệt điện than. Nguồn điện này hiện cũng đang  có giá thành được cho là  rẻ ở Việt Nam vì những tác động  và ảnh hưởng vô cùng to lớn tới  môi trường sinh thái và xã hội chưa được đánh giá đầy đủ và tính toán vào giá thành. Tỷ trọng  của NLTT  đã được  tăng lên  (37,9% tổng  công suất  đặt năm  2030) trong QHĐ  VII  HC nhưng bao gồm cả thủy điện lớn và vừa, trong  khi năng lượng gió và mặt trời là hai nguồn NLTT được mong  đợi phát triển  nhất thì vẫn  chiếm tỷ trọng  rất khiêm tốn.

Thực tế phát  triển NLTT trên thế giới  đang diễn ra hết  sức mạnh mẽ. Theo  báo cáo của UNEP (2),  đầu tư của thế  giới vào NLTT cao gấp hai lần so với đầu  tư vào nguồn điện từ nhiên liệu hóa thạch trong năm 2015. Lần đầu tiên  trong năm 2015,  đầu tư  vào NLTT của  các quốc  gia không thuộc  Tổ chức Hợp  tác và Phát triển  kinh tế (OECD) cao  hơn 20% so  với các nước  phát triển. Kỹ  thuật – công  nghệ  trong lĩnh vực này đặc  biệt là với điện năng  lượng mặt trời đang được  cải thiện hàng ngày, giá thành công nghệ giảm  nhanh có thể cạnh tranh  được với điện từ nhiên  liệu hóa thạch. Tại Ấn  Độ, giá điện cho  1kWh  từ năng  lượng mặt  trời khoảng  6,5 cent,  hiện đang  rẻ  hơn so  với nhiệt  điện than, theo lời của Bộ trưởng Bộ Năng lượng Ấn Độ (3).

Ngoài ra, vấn  đề sử dụng  năng lượng tiết kiệm  và hiệu quả  cũng chưa được  đề cập rõ ràng  cụ thể trong QHĐ VII  HC. Theo một nghiên cứu  của Trung tâm Phát triển  Sáng tạo Xanh (GreenID) về dự báo nhu  cầu điện của Việt Nam đến  năm 2030 có tính tới  kịch bản tiết kiệm năng lượng, nhu cầu điện  có thể giảm  tới 33,8% so  với QHĐ VII, lớn  hơn nhiều con  số 18% mà QHĐ  VII  HC đưa ra. Từ những quan sát trên,  VSEA cho rằng để hiện thực hóa các định  hướng mà QHĐ VII HC đã đề ra và khắc phục  những khoảng trống hiện thời, trước tiên  cần cải cách chính sách  tính giá điện. Giá điện cần phải minh bạch  và bao gồm đầy đủ các chi phí  ngoại biên về môi trường, xã hội và thuế carbon.

Cùng lúc đó, cần khẩn trương  ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các công nghệ  tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế đối với nhà máy nhiệt điện than  mới. Cần thường xuyên nghiên cứu  hiệu quả đầu tư của các  nhà máy điện theo các kịch bản  phát triển khác nhau để tạo sự  đột phá cho phát triển NLTT  trong Quy hoạch điện VIII giai đoạn sắp tới.

VP thường trực Liên minh Năng lượng Bền vững Việt Nam

Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh – Phòng 707, tòa nhà Sunrise, 90 Trần Thái Tông, Cầu Giấy, Hà Nội. Điện thoại: 04 3 79 563 72. Website: www.greenidvietnam.org.vn. Fanpage: GreenID Vietnam

1 VSEA được thành lập từ năm 2012 bởi 5 tổ chức NGOs hành động hướng tới một nền năng lượng bền vững vì con  người và môi trường. Từ 2016, VSEA có 8 thành viên bao gồm GreenID, Cewarec, Live&Learn, C&E, Change,  LPSD,WWF-Vietnam và SNV.   

2  http://www.undp.org/content/undp/en/home/librarypage/environment- energy/low_emission_climateresilientdevelopment/derisking-renewable-energy-investment.html    

3 http://reneweconomy.com.au/2016/india-energy-minister-says-solar-power-now-cheaper-coal-29756     

XEM: Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s