Miền Tây điêu đứng vì biến đổi khí hậu – 4 kỳ

27/07/2015 14:56 GMT+7

TT – Biến đổi khí hậu đang có những tác động mạnh mẽ đến ĐBSCL: nước nhiễm mặn bất thường trong mùa mưa, thiếu nước ngọt trầm trọng, nhiều vùng đất bị nước “ngoạm”, cá tôm không còn nữa…

Kỳ 1: Mặn tấn công, trở tay không kịp

Nước nhiễm mặn cùng với nhiễm phèn kết lại từng mảng lớn trên mặt ruộng khiến lúa chết ở phường Vĩnh Thông, Rạch Giá, Kiên Giang - Ảnh: Hữu Khoa
Nước nhiễm mặn cùng với nhiễm phèn kết lại từng mảng lớn trên mặt ruộng khiến lúa chết ở phường Vĩnh Thông, Rạch Giá, Kiên Giang – Ảnh: Hữu Khoa

Những thay đổi chưa từng có trong lịch sử miền Tây từng được các nhà khoa học cảnh báo và bây giờ xảy ra làm người dân điêu đứng.

Những ngày cuối tháng 7 này, dù đã vào mùa mưa nhưng ở nhiều vùng ngọt hóa tại ĐBSCL bất ngờ bị nước mặn tấn công, đẩy cuộc sống nhiều hộ dân nơi đây vào thế trở tay không kịp.

“Nhà báo nếm thử coi, nước gì mà đắng chát. Đời thuở giờ tui mới thấy nước gì mà lạ quá” – bà Võ Thị Dung (ấp Phương An 2, xã Hưng Phú, huyện Mỹ Tú, Sóc Trăng) nhăn nhó. Cạnh đó, ông Võ Văn Đẹp (chồng bà Dung) rầu rĩ vớt từ bè cá lên từng đợt cá lóc chết phơi bụng.

Một tuần nay, bè cá của vợ chồng ông Đẹp và các hộ dân lân cận bỗng dưng chết hàng loạt. Người nuôi cá ở đây càng bất ngờ hơn khi biết “thủ phạm” hủy diệt cá nuôi là sông bị nhiễm mặn.

“Hồi nào giờ đâu có tình trạng nước mặn thế này” – ông Đẹp thở dài. Ông nuôi 25.000 con cá lóc được 100 ngày, dự định sang tháng 8 thu hoạch, nhưng chưa kịp bán thì cá chết.

Chưa từng thấy

“Mấy ngày trước thấy lục bình trên sông bắt đầu héo chết, tôi nghĩ người ta phun thuốc khai hoang. Nhưng tới khi cá chết, tôi nếm thử nước mới hay nước bị mặn. Sống ở đây mấy chục năm nay tôi đâu thấy cảnh này. Nuôi cá có bệnh mình còn dùng thuốc trị được, còn nước mặn thì chạy đường nào?” – ông Nguyễn Văn Lâm, hàng xóm nhà ông Đẹp, nói.

Ông cho biết gia đình mình đã đầu tư 160 triệu đồng để nuôi 25.000 con cá lóc, cá trê trên sông. Khu vực này vốn là vùng nước ngọt nên người dân cũng không nghĩ tới chuyện bị nước mặn “viếng” như vậy. Quá bất ngờ, người nuôi cá đành chỉ còn biết “chịu trận”.

Ông Đặng Minh Phương, cán bộ nông nghiệp xã Hưng Phú, nói xã này từ trước đến nay nước ngọt quanh năm, chỉ mấy ngày gần đây nước mặn đổ về làm 70 hộ nuôi cá trong xã bị thiệt hại lớn.

Ngoài ra, diện tích 700ha trồng cây ăn trái cũng rơi vào cảnh không có nước tưới vì toàn bộ nước trên sông Quản Lộ – Phụng Hiệp đã bị nhiễm mặn nặng.

Ông Nguyễn Hoàng Cơ, phó phòng nông nghiệp huyện Mỹ Tú, cho hay hôm 10-7, người dân ở khu vực giáp ranh huyện Ngã Năm (Sóc Trăng) bên lưu vực sông Quản Lộ – Phụng Hiệp báo về bị nước mặn tấn công. Khi ông tiến hành quan trắc bất ngờ ghi nhận độ mặn lên 4 – 5‰.

“Đặc biệt ngày 30 (âm lịch) vừa rồi, triều cường lên cao làm nước mặn xâm nhập sâu vào vùng ngọt” – ông Cơ nói.

Nông dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang phải phá bỏ lúa bị hư hại do nhiễm mặn - Ảnh: Hữu Khoa
Nông dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang phải phá bỏ lúa bị hư hại do nhiễm mặn – Ảnh: Hữu Khoa

Cuộc sống đảo lộn

Ở vùng lân cận, người dân xã Phương Phú (huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang) cũng lần đầu tiên chứng kiến cảnh nước mặn tấn công.

Bà Đoàn Thị Đèo (61 tuổi, ấp Phương Bình, xã Phương Phú) nói: “Mấy chục năm trước có lần nước trên sông bị lợ lợ hai, ba ngày rồi hết. Còn tình trạng mặn như năm nay là chưa từng có”.

Nhà bà Đèo trồng 800 gốc cam, trước giờ vẫn tưới bằng nước sông Quản Lộ – Phụng Hiệp. Nhưng sông bất ngờ bị mặn, bà chỉ còn trông vào nguồn nước máy, nhưng không ngờ nước máy cũng bị mặn.

Mọi sinh hoạt của người dân đều bị ảnh hưởng vì nước mặn. Ông Nguyễn Văn Liệt, người dân ấp Phương Hòa (xã Phương Phú), nói do nước trên sông bị mặn nên tắm giặt hay nấu ăn cũng đều khó khăn. “Chúng tôi phải tắm bằng nước mặn, rồi lên xả bằng nước mưa. Nấu cơm cũng vậy, phải vo gạo bằng nước mặn rồi mới nấu bằng nước mưa dự trữ”.

Theo ông Ngô Ngọc Nhàn – chủ nhà máy nước tinh khiết ở thị trấn Trà Lồng (huyện Long Mỹ, Hậu Giang), hơn 10 ngày nay cơ sở của ông phải ngưng hoạt động vì nước từ nhà máy xử lý nước trong thị trấn bị nhiễm mặn.

Ông Phan Văn Hiền, chủ nhà máy xử lý nước cung cấp cho hơn 600 hộ dân tại thị trấn Trà Lồng, kể cơ sở của ông hoạt động gần 20 năm nay, lần đầu tiên ông phải chịu cảnh cung cấp nước mặn cho bà con.

“Nước bị phèn, bị dơ chúng tôi xử lý được. Còn nước mặn như thế này là thua” – ông Hiền cho biết. Hiện người dân sống trong khu vực Phương Phú, Trà Lồng rơi vào cảnh thiếu nước ngọt nghiêm trọng.

Ông Lê Phước Đại, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Hậu Giang, cho biết nước mặn tăng đột biến trong tháng 7. Mặn đã ảnh hưởng đến TP Vị Thanh, các xã Vĩnh Viễn, Vĩnh Viễn A, Lương Tâm, Lương Nghĩa, Thuận Hòa, Lương Phú, Tân Phú, Trà Lồng của huyện Long Mỹ; xã Phương Phú, thị trấn Búng Tàu, xã Tân Phước Hưng của huyện Phụng Hiệp…

“Nếu triều cường từ Bạc Liêu đưa lên mạnh (qua đường sông Quản Lộ – Phụng Hiệp) thì sẽ nhiễm mặn đến thị xã Ngã Bảy của Hậu Giang, điều trước nay chưa từng có. Mặn xâm nhập đã đe dọa đến 18.000ha đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Hiện nay chúng tôi đã đóng các cửa cống, bồi tức đê bao, thông báo cho bà con không nên lấy nước sông nhiễm mặn để tưới lúa” – ông Đại nói.

Nguồn: Trung tâm Khí tượng thủy văn Kiên Giang – Đồ họa: Tấn Đạt

“Chạy” mặn

Tại Kiên Giang, từ giữa tháng 7 thường lệ mọi năm vụ lúa hè thu đã trổ đòng đòng, nhưng năm nay ven bờ hai con sông Cái Bé và Cái Lớn thuộc hai huyện Châu Thành và An Biên là những cánh đồng đỏ quạch màu phèn, nước trong ruộng nhiễm mặn nên nông dân không thể sạ lúa.

Dưới chân cầu Cái Bé, ông Danh Tui (46 tuổi, ngụ ấp An Phước, xã Bình An, Châu Thành) đứng thẫn thờ nhìn dòng nước mặn dưới con kênh Xả Xiêm rồi lủi thủi trở về nhà.

Ông Tui cho biết khoảng ba năm trở lại đây, thời gian nước ngọt đổ về ngày càng xa dần. Mọi năm giờ này lúa hè thu chỉ còn hơn tháng nữa là có thể thu hoạch, nhưng năm nay đến giờ vẫn chưa sạ được nên chắc phải chờ tới vụ đông xuân. Vậy là coi như mất trắng một vụ lúa.

Ông Tui cho hay do mấy năm nay thời tiết thất thường nên hai cha con ông phải “chạy mặn”, dẫn nhau đi làm công nhân cầu đường ở Phú Quốc. Cách đây hơn một tháng, ông Tui xin nghỉ phép năm ngày về nhà sạ lúa. Nhưng chờ đến nay đã mòn mỏi, trong nhà sắp hết gạo ăn mà nước ngọt vẫn chưa về.

Ven quốc lộ 63, chị Thị Chơn (31 tuổi, ngụ ấp An Thới, xã Bình An) cũng trong tình cảnh tương tự. Chồng chị Chơn không chờ được nước ngọt đã rời nhà đi làm thợ hồ kiếm sống.

Dọc con đường dẫn về trung tâm ấp An Thới là những ngôi nhà đóng cửa im lìm vì vắng chủ, phía sau là những cánh đồng nhiễm mặn nối đuôi nhau chạy dài hút tầm mắt. Những cánh đồng ven tuyến kênh Rạch Giá – Long Xuyên thuộc địa phận Rạch Giá cũng bị nhiễm mặn.

Chị Danh Thị Kim Linh, ngụ xã Phi Thông (Rạch Giá), cho hay chị và nhiều người dân địa phương được chủ ruộng thuê giặm lại lúa bị nhiễm mặn. Đây cũng là lần đầu tiên giữa vụ hè thu lại có người thuê đi giặm lúa.

* Ông CAM QUANG VINH, chủ tịch UBND huyện Phụng Hiệp (Hậu Giang), cho biết do tình hình mặn xâm nhập bất ngờ nên người dân địa phương gặp nhiều lúng túng trong xử lý. Đây là lần đầu tiên trong 20 năm qua địa bàn huyện Phụng Hiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi xâm nhập mặn vào giữa mùa mưa.* Ông NGUYỄN VĂN TÂM, giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, cho biết đợt hạn hán từ đầu tháng 7 đến nay hết sức bất thường, chưa từng ghi nhận suốt 15 năm qua.

Không nên cố gắng lấy nước 
đủ bù

Theo TS Lê Anh Tuấn – phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ), tình trạng xâm nhập mặn bất thường vào mùa mưa trong những ngày qua có nguyên nhân do thượng nguồn sông Mekong khu vực giữa Lào và Thái Lan vẫn chưa có mưa và bị khô hạn rất nhiều, nước từ thượng nguồn đổ về khu vực ĐBSCL rất thấp.

Trong khi đó, lượng mưa tại ĐBSCL thời gian qua không đều, khả năng chứa nước ở các hồ chứa như tại Kiên Giang cũng ít, vì vậy mặn từ Biển Tây và Biển Đông có điều kiện xâm nhập sâu hơn vào đất liền.

Ông Tuấn cũng cho biết theo dự báo từ đài khí tượng các quốc gia dọc sông Mekong, ít nhất đến giữa tháng 8 mới có mưa trở lại ở thượng nguồn, lúc đó mới có đủ lượng nước phục vụ sinh hoạt và nông nghiệp.

Ông Tuấn nói do Thái Lan vẫn đang khô hạn nhiều, chính phủ nước này đã yêu cầu nông dân không được dùng nước kênh rạch tưới tiêu.

Ông Tuấn khuyến nghị ở các quốc gia khác, một khi khô hạn là phải chấp nhận thiệt hại của ngành nông nghiệp, ngành này không nên cố gắng lấy nước đủ bù sự thiếu hụt vì đó là nơi lấy nước nhiều nhất. Nên ưu tiên nước cho mục đích sinh hoạt trước và chấp nhận bị thiệt hại về mặt sản lượng nông nghiệp nhằm đảm bảo nước sinh hoạt cho người dân.

Ông Tuấn nhận định trước đây cũng có tình trạng khô hạn ở thượng nguồn nhưng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, không kéo dài như những gì đang diễn ra. Nguyên nhân của tình trạng kéo dài này là do hiện tượng El Nino đang trở lại.

K.THÀNH – K.NAM – 
H.KHOA – C.QUỐC, (còn nữa)

***

Miền Tây khát giữa mùa mưa

28/07/2015 16:15 GMT+7

TTNước ngọt ngày càng trở thành “chuyện khó” ở nhiều nơi tại vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long. Biến đổi khí hậu và bàn tay con người đang làm nảy sinh nạn thiếu nước sạch, căng thẳng chưa từng có.

Một thửa đất (xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, Cà Mau) trước đây là vườn dâu, nay bị nước mặn xâm nhập khiến dâu chết hàng loạt, đất xác xơ - Ảnh: Kiên Thành
Một thửa đất (xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, Cà Mau) trước đây là vườn dâu, nay bị nước mặn xâm nhập khiến dâu chết hàng loạt, đất xác xơ – Ảnh: Kiên Thành

Những cơn mưa đầu mùa tưởng đã làm dịu lắng nỗi bận tâm về nước ở vùng rộng lớn giáp ranh giữa Cà Mau và Kiên Giang, nơi mà mỗi mùa khô đến người dân tại đây hứng chịu những cơn khát. Nhưng khát vẫn khát.

Sống bên sông vẫn 
thiếu nước gay gắt

Ông Nguyễn Văn Hoàng (ấp 18, xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, Cà Mau) nói từ nhiều năm nay, người dân ở đây đã tìm hết cách để có nước sinh sống. Qua một mùa khô hạn kéo dài, cách mà họ phải chịu là mua nước với giá trên trời (40.000 đồng/lu nước 1m3).

“Nhà báo nói làm sao cho vùng này sớm có nước ngọt về, chứ dân ở đây “túng” nước xưa nay rồi”, hầu như người dân nào tại xã Biển Bạch cũng gửi gắm những hi vọng thoát khỏi cảnh thiếu thốn nước nôi, điều mà họ phải chịu từ nhiều năm nay.

Xã Biển Bạch bên sông Trẹm, một trong những con sông lớn của tỉnh Cà Mau. Trớ trêu thay, chính những hộ dân sống ven sông này lại là những người hằng năm phải chịu cảnh vô cùng khó khăn về nước.

Xã có 2.000 hộ dân thì có đến 1.400 hộ nằm ven sông này hằng năm thiếu nước gay gắt. Mùa khô, đến hẹn lại lên, dòng sông này trở nên nhiễm mặn ngày càng nặng. Khó chồng thêm khó khi nguồn nước ngầm tại đây cũng chẳng khá gì hơn.

Từ nhiều năm nay, năm nào cũng có vài hộ dân đánh liều thuê người khoan cây nước ngầm với giá 3 – 5 triệu đồng mỗi cây nước. Tuy nhiên cũng ngần ấy năm, chưa có hộ dân nào được thỏa nguyện từ nguồn nước ngầm sinh hoạt này. Bởi nguồn nước ngầm ở đây cũng bị nhiễm mặn, nhiễm phèn không thua gì nước trên sông vào mùa khô.

Đưa chúng tôi ra phía sau nhà, nơi có cây nước vừa mới khoan và cũng vừa bị bỏ phế, chị Phạm Thị Hận (ấp 18, xã Biển Bạch) nói gia đình chị đã bỏ ra 4 triệu đồng thuê thợ từ xã Tân Bằng đến khoan đất tìm nước ngầm.

Sau nhiều giờ khoan đến độ sâu 50m thì có nước. Cả nhà chưa kịp vui thì thợ đòi… rút ống lên, vì nước mà họ phát hiện được vừa mặn vừa chua, vừa có mùi hôi. Chưa hết hi vọng, vợ chồng chị Hận ra chợ mua máy bơm điện về gắn vào đường ống với suy nghĩ khi bơm hết nước phèn mặn sẽ tới lớp nước ngọt. Nhưng sau nhiều ngày bơm, họ cũng không sao có được nước sạch.

Cạnh nhà chị Hận là nhà bà Tư Tròn, Tư Thanh, Hai Mứt… hay bên kia sông Trẹm, nhà Út Khánh, Bảy Lái, Năm Xíu… cũng từng đổ tiền khoan cây nước rồi bỏ. Số hộ dân “đánh liều” như thế cứ nhiều hơn sau mỗi mùa khô.

Khoan sâu 100m cũng không có nước sạch

Không chỉ bị nhiễm phèn, mặn, nhiều địa phương trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với tình trạng nhiều giếng nước ngầm bị bỏ phế do không còn nước để lấy.

Theo một báo cáo của Sở TN-MT tỉnh Cà Mau, toàn tỉnh có 141.226 giếng nước ngầm, nhiều nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long (cứ mỗi 2km có 30 giếng nước ngầm).

Cà Mau cũng là tỉnh được đánh giá có nguồn nước ngầm dồi dào, với trữ lượng khoảng 5,8 triệu m3/ngày, phân bổ ở sáu tầng sâu.

Cứ mỗi ngày đêm, người dân Cà Mau lấy trên 370.000m3 nước ngầm. Bị khai thác quá mức, nhiều giếng nước ngầm trở nên kiệt, không còn nước để bơm. Lúc này, người dân chỉ còn cách bỏ phế cây nước đã khoan.

Tại Cà Mau đã có trên 2.000 giếng nước bị bỏ như thế. Một cán bộ quản lý nước Sở TN-MT Cà Mau cho hay các giếng nước bị bỏ này trở thành nguy cơ gây ô nhiễm hệ thống nước ngầm. Tỉnh phải xuất trên 6 tỉ đồng ngân sách để trám lấp các giếng nước không còn sử dụng.

“Năm 2014, tỉnh chúng tôi đã trám lấp 800 cây nước. Kế hoạch năm nay sẽ trám lấp 1.000 cây. Năm sau sẽ trám các cây nước còn lại” – ông này cho biết.

Tương tự, tại Bạc Liêu cũng đã có khoảng 2.000 giếng nước ngầm bị hư hỏng, bỏ phế cần 
trám lấp.

Từ nhiều giếng nước ngầm bị bỏ hoang, để tiếp tục có nước sử dụng, người dân nơi đây lại tiếp tục thuê thợ khoan giếng ở tầng sâu hơn. Một thợ khoan nước tại xã Hồ Thị Kỷ (huyện Thới Bình, Cà Mau) cho biết có rất nhiều giếng đã khoan nhưng không tìm được nước, hoặc khoan đến độ sâu 100m gặp nước bị nhiễm mặn.

Thế là thợ khoan bỏ lỗ khoan tìm vị trí khác. Phần lớn thợ khoan nước là dân “tay ngang”, cứ khoan theo cảm tính, khi không có nước thì rút giàn khoan để khoan chỗ khác, bỏ lại lỗ thủng và tạo nên hiện tượng thông tầng, ô nhiễm lây lan.

Những vườn dâu 
bị mặn bức tử

Ông Trần Văn Chuối (74 tuổi, ấp 18, xã Biển Bạch) cho biết thời gian gần đây, đặc biệt mùa khô năm nay, vùng này bị nhiễm mặn nặng nề. Dân ở đây không những không có nước sinh hoạt, nước mặn xâm nhập còn bức tử hàng loạt vườn dâu của người dân trong vùng.

Người dân Biển Bạch một thời từng rất tự hào về những vườn dâu nổi tiếng của xứ sở. Theo ông Chuối, những năm gần đây nước mặn xâm nhập đã làm dâu chết hàng loạt.

Ông Chuối kể mới năm trước có đài truyền hình còn vào quay phim quảng bá các vườn dâu ở xóm ông, nhưng năm nay thì không còn vườn dâu nào nữa.

“Nhà Út Loan, Út Hô, Chín Mến, Năm Tấn… dâu chết, người ta chặt bỏ lấy đất làm vuông tôm. Xứ này thất nước lắm rồi!” – ông cụ thở dài. Đưa chúng tôi ra vườn nhà xơ xác, bà Huỳnh Thị Ni (ấp 18, xã Biển Bạch) cho hay vườn dâu 10 năm tuổi của bà bị nước mặn “giết” chết năm rồi. Bà Ni chỉ về góc vườn xa: “Táng cây khô đó là cây dâu duy nhất còn lại”.

Người dân Biển Bạch cho biết mấy năm trước dân ở đây cũng có giai đoạn được sử dụng nước sạch, đó là khi vùng này được đầu tư xây dựng hệ thống nước sạch kéo tới tận nhà dân, dân háo hức đóng tiền để kéo nước về nhà.

Được thời gian ngắn, người có trách nhiệm thông báo với dân nhà máy nước bị hư. Người dân một lần nữa lại đóng tiền để sửa hệ thống nước. Nhưng không ngờ nước tới nhà dân lại bị phèn, mặn, “chỉ có đàn ông mới dám tắm nước đó, đàn bà không tắm vì nước quá dơ, chứ chưa nói ăn uống” – ông Hoàng nói.

Tình trạng đó kéo dài không lâu thì hệ thống này ngưng cung cấp nước, dù là “chỉ để cho đàn ông tắm”. Dân trong vùng lại trở lại tình trạng như trước.

Chị Phạm Thị Hận (ấp 18, xã Biển Bạch) vừa khoan được cây nước nhưng phải bỏ phế vì nước bị nhiễm phèn, mặn không thể sử dụng - Ảnh: Kiên Thành
Chị Phạm Thị Hận (ấp 18, xã Biển Bạch) vừa khoan được cây nước nhưng phải bỏ phế vì nước bị nhiễm phèn, mặn không thể sử dụng – Ảnh: Kiên Thành

Khan hiếm nước ngọt là nỗi bận tâm lớn ở nhiều địa phương ven biển đồng bằng sông Cửu Long những năm gần đây. Bạc Liêu, Sóc Trăng có hơn nửa diện tích tự nhiên bị nhiễm mặn. Các tỉnh Bến Tre, Kiên Giang, Long An, Trà Vinh… nguồn nước ngọt vẫn luôn thiếu hụt. Đã thế, ở các địa phương này ngày càng bị ảnh hưởng rõ rệt của nạn xâm nhập mặn. Trong tình thế đó, người ta chỉ còn biết trông chờ vào nguồn nước ngầm. Tuy nhiên, nguồn nước này cũng đã bắt đầu bị sụt giảm nghiêm trọng.

Phải nghiên cứu giải pháp thay thế nước ngầm

Lý giải vấn đề xâm nhập mặn giữa mùa mưa gây cảnh thiếu nước sinh hoạt ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thạc sĩ Kỷ Quang Vinh – văn phòng công tác biến đổi khí hậu Cần Thơ – nhận định từ đầu tháng 6 đến nay mực nước trên sông Mekong đo tại Tân Châu và Châu Đốc (An Giang) thấp chứng tỏ nước ở thượng nguồn không có (do không có mưa), trong khi một số vùng hạ nguồn có mưa thì lượng mưa này ra biển hết.

Ngoài vấn đề thiếu nước từ thượng nguồn, có khả năng nước biển vừa qua nhiều hơn do băng tan cộng với gió đông nam mạnh đã đẩy luồng nước mặt vào sâu hơn gây mặn ở một số khu vực của đồng bằng sông Cửu Long.

Về vấn đề khan nước ngọt ở Cà Mau và Kiên Giang, ông Vinh cho biết theo nghiên cứu của những chuyên gia hàng đầu về địa chất thì nước ngầm tại đồng bằng sông Cửu Long thuộc dạng túi, bao quanh bởi đất sét và các mạch nước ngầm đan xen nhau trong đó.

Khác với mạch nước ngầm ở đồng bằng sông Hồng hay vùng TP.HCM, mạch nước ngầm dạng túi một khi đã được hút lên để sử dụng thì không bổ cập (tái tạo) trở lại, vì vậy càng xài nhiều càng cạn kiệt.

Trong khi những vùng có giải pháp nước ngọt thay thế, cơ quan chức năng cấm khai thác nước ngầm quá mức thì vùng nhiễm mặn, nước ngầm cạn kiệt như Cà Mau, Kiên Giang rất khó để cấm dân khai thác nước ngầm, cứ thế nước ngầm bị khai thác càng nhiều và ngày càng hiếm hoi.

Trước thực trạng này, ông Vinh cho rằng giải pháp là cần tận dụng các kênh, mương hiện có ở đồng bằng sông Cửu Long, chỗ nào có thể làm hồ chứa được thì làm hồ chứa (có thể mỗi xã làm mỗi hồ chứa) để tích nước mưa, nước lũ vào mùa mưa cho dân sử dụng trong mùa khô.

Giải pháp này ít tốn kém và không gây xung đột trong quá trình vận hành như những dự án trữ nước mang tính “đao to búa lớn” hàng trăm, hàng nghìn tỉ đồng.

Giải pháp này cần được thực hiện đồng bộ với việc sử dụng tiết kiệm nước hiện có bằng việc chuyển đổi cây trồng bằng những loại cây ít cần nước hơn.

Ngoài ra các nhà khoa học, cơ quan hữu quan cần phải nghiên cứu giải pháp tái tạo cho mạch nước ngầm mà nhiều nước tiên tiến đang làm (làm sạch nước mưa, nước lũ để bơm vào tầng nước ngầm); nghiên cứu xử lý nước mặn thành nước ngọt để cung cấp cho dân mà các nước như Israel hay Singapore đã làm được, có thể học tập và nhờ sự giúp đỡ của họ.

Một vấn đề khác đơn giản hơn, theo ông Vinh, vùng Cà Mau, Kiên Giang có lượng mưa nhiều, vì vậy cần nghiên cứu sử dụng cẩn trọng nguồn nước mưa cũng là cách giải quyết hiệu quả cho câu chuyện khan nước ngọt của vùng này.

CHÍ QUỐC

KIÊN THÀNH

***

Miền Tây điêu đứng vì biến đổi khí hậu – Kỳ 3: “Chạy biển”, “chạy sông”

29/07/2015 07:49 GMT+7

TTNgay cả những vùng đất được tiếng ôn hòa thì đến nay thiên nhiên bắt đầu “đổi tánh”, lấy đất, lấy rừng, với tốc độ nhanh chưa từng có.

Một người dân ở khu vực biển Ba Động (huyện Duyên Hải, Trà Vinh) bên hàng thông chắn sóng đã bị biển đánh trơ gốc- Ảnh: Kiên Thành
Một người dân ở khu vực biển Ba Động (huyện Duyên Hải, Trà Vinh) bên hàng thông chắn sóng đã bị biển đánh trơ gốc- Ảnh: Kiên Thành

Hàng vạn dân khắp các tỉnh khu vực ĐBSCL phải sống cảnh “chạy biển”, “chạy sông”.

Nhóm thanh niên ngồi túm tụm bên mỏm đất “hàm ếch” ở đầu cồn Châu Ma (xã Phú Thuận B, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp) lặng thinh nhìn về hướng nước chảy từ thượng nguồn sông Tiền đổ về.

Trong câu chuyện của mình, họ nhắc về những ngôi nhà trong các xóm làng đã mất. Mới đây, cũng tại nơi này, hàng loạt ngôi nhà đã bị sóng đánh trôi. Người dân sống trên cồn Châu Ma biết rõ đó không phải là những ngôi nhà cuối cùng trên cồn bị sông nuốt chửng.

Thiên nhiên “trở mặt”

Lúc chúng tôi đến, ông Phạm Văn Lầm (67 tuổi) đang chuẩn bị cho những ngày cuối cùng của mình trong căn nhà nơi đầu cồn. Vì lão nông chắc chắn cứ tình trạng này, không lâu sau sóng sẽ đánh tới nhà ông.

Theo “kịch bản” của ông Lầm dự đoán, cơn thịnh nộ của thủy thần sẽ còn chưa dừng lại tại ngôi nhà “run rẩy” của ông mà sẽ còn “ăn qua vườn bạch đàn giống của anh Nguyễn Hoàng Vũ ở kế cạnh, sóng sẽ xuyên qua khóm tre, uy hiếp những xóm làng lân cận”.

Thoáng ngậm ngùi, anh Đồng Văn Mỹ (ấp Phú Trung, xã Phú Thuận B), người dân sinh sống trên cồn Châu Ma, nói cuộc sống thanh bình ở cồn này chấm dứt khi sông mẹ Mekong từ chỗ mang phù sa bồi lấp cho cồn thì bỗng “quay đầu” tấn công vườn cây, nhà cửa của dân.

Đã có hàng trăm người bị sông “gặm” mất nhà, phải đi nơi khác sinh sống. Ông Mỹ nói hơn 10 năm trước cồn Châu Ma còn cách xa trên 1km về phía thượng nguồn, nhưng bảy năm trở lại đây tốc độ sạt lở nhanh đến mức năm nào cũng có nhiều người dân trên cồn phải “chạy sông”.

Gia đình những người như ông Bảy Khô, Ba Nhĩ, Hồng Chương, Tư Dứt, Ký Sây… được nhắc đến như là các hộ dân gần nhất rơi vào cảnh nhà tan cửa nát.

Cồn Châu Ma ngày trước là một cồn lớn trên sông Tiền, chiều dài lên đến 3km, rộng gần 500ha. Năm 1994, cồn Châu Ma là một xã có tên là xã Phú Trung (thuộc huyện Hồng Ngự), có khoảng 5.000 dân. Thế nhưng, xã này chỉ tồn tại được sáu năm thì bị xóa sổ.

Một lãnh đạo UBND xã Phú Thuận B cho biết xã Phú Trung (cũ) bị xóa là vì cồn Châu Ma sạt lở mất đến 70% diện tích, phần diện tích còn lại chỉ còn đủ một ấp và sáp nhập vào xã Phú Thuận B.

Chuyện biển “quay đầu” nuốt động cát, tài sản của người dân ở vùng Ba Động (huyện Duyên Hải, Trà Vinh) trước nay chưa có tiền lệ. Khu vực này biển vốn bồi lắng, chạy dài theo bờ phía đông tỉnh Trà Vinh thiên nhiên đã tích tụ nên những động cát khổng lồ, cao quá nhà dân.

Các động cát này vốn là nét đẹp độc đáo vùng Ba Động và là một trong những thắng cảnh du lịch nổi tiếng của ĐBSCL.

Đối với người dân nơi đây, các động cát là “con đê tự nhiên” giữ vai trò chắn sóng gió, che chở làng xóm nhà cửa, ruộng rẫy. Năm 1994, phía sau các động cát này, địa phương đã trồng hàng loạt cây dương (thông) để phòng hộ và tạo cảnh quan.

Thế nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, khu vực Cồn Trứng đã diễn ra hiện tượng bất thường: biển không bồi lắng mà “ăn” luôn động cát. Năm 2005, Ban phòng chống lụt bão tỉnh Trà Vinh đã xuất kinh phí be đắp phần bị lở, thế nhưng công trình này không thể chống chọi được sóng.

Năm 2007, biển lấy mất động cát, năm sau lấy luôn rừng thông. Không còn được che chắn, nhà cửa của dân dần bị biển tấn công. Không bao lâu, biển đã “ăn” sâu vào đất liền hơn 100m, dài khoảng 3,5km, đẩy hàng trăm hộ dân ở đây vào cảnh nguy hiểm.

Công trình bờ kè bêtông được xây dựng tại một số nơi bị sạt lở ở Ba Động, nhưng chỉ đến năm 2013 sóng biển tấn công làm hư hại bờ kè. Dân Ba Động lại đứng trước mối đe dọa của sóng biển.

Diện tích đất sản xuất bị thiệt hại theo đỉnh triều cường dâng ở Cà Mau - Đồ họa: Tấn Đạt
Diện tích đất sản xuất bị thiệt hại theo đỉnh triều cường dâng ở Cà Mau – Đồ họa: Tấn Đạt

1 triệu người sẽ bị 
tác động trực tiếp

Theo tính toán, toàn khu vực ĐBSCL có trên 10.000 hộ dân sống trong khu vực bị đe dọa sạt lở ven sông, biển (Cà Mau trên 3.300 hộ, Đồng Tháp gần 4.000 hộ, An Giang trên 2.200 hộ, Bạc Liêu gần 2.000 hộ…), đồng nghĩa với hàng vạn hộ dân đã và đang sống trong sự đe dọa của nạn sạt lở.

Ông Tô Quốc Nam, phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, cho biết do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tình hình sạt lở ở tỉnh này đang diễn ra phức tạp cả ven biển và ven sông.

Cũng theo ông Nam, từ năm 2007, toàn tuyến biển ven bán đảo Cà Mau dài 254km trên địa bàn tỉnh này cứ mỗi năm sạt lở 15m, có nơi biển ăn vào đến 50m. Thống kê từ cơ quan này cho thấy mỗi năm Cà Mau mất trên 300ha rừng phòng hộ ven biển.

“Nếu không có giải pháp hữu hiệu thì không bao lâu nữa rừng phòng hộ sẽ bị xóa sổ” – ông Nam lo ngại.

Không những biển “nuốt” rừng, biển còn “đuổi” nhiều xóm dân, phá vỡ nhiều đoạn đê phòng hộ biển Tây. Ông Nguyễn Long Hoai, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Cà Mau, cho hay tuy mùa mưa mới bắt đầu nhưng sóng biển đã nhiều lần uy hiếp đê biển Tây, nhiều đoạn trở thành “điểm nóng” gay gắt.

Theo TS Đào Trọng Tứ – cố vấn Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, hiện khu vực ĐBSCL có 265 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển với tổng chiều dài hơn 450km. Hầu hết bờ biển của ĐBSCL đều bị xói lở.

“Mỗi năm sạt lở đã ngốn đến 500ha đất của vùng với tốc độ sạt lở dọc theo bờ biển lên đến 30 – 40 m/năm” – TS Tứ nói. Dự báo đến năm 2050 sẽ có khoảng 1 triệu người bị tác động trực tiếp bởi xói lở ven bờ và mất đất tại ĐBSCL.

Một diễn đàn về biến đổi khí hậu ở ĐBSCL tổ chức tại Cần Thơ cách nay ít lâu, ông Marc Goichot, chuyên gia thuộc Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), đưa ra con số thực tế: ở phía đông (khu vực Bến Tre, Trà Vinh) có đến 48% khu vực bờ biển có biểu hiện thoái lui, trong khi chỉ có 22% có biểu hiện lấn ra biển;

Trong khi khu vực phía tây (vùng bán đảo Cà Mau) nơi trước đây có tỉ lệ lấn ra biển cao thì nay đến 70% diện tích có diễn biến thoái lui, trung bình 12,2 m/năm. Ông Marc Goichot cho rằng: “Nếu không được bảo vệ hiệu quả thì một phần ĐBSCL sẽ biến mất”.

Theo GS.TS Bùi Cách Tuyến – thứ trưởng Bộ TN&MT, một trong các nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi lượng nước, suy thoái đất và suy giảm đa dạng sinh học ở vùng ĐBSCL là do những năm gần đây việc phát triển nhanh chóng nguồn năng lượng thủy điện trên sông Mekong đã làm thay đổi số lượng và chất lượng trầm tích, gây tác động tiêu cực lên môi trường ĐBSCL.

ĐBSCL đang “chìm”

Cách nay ít lâu, các chuyên gia của Viện Địa kỹ thuật Hoàng gia Na Uy (NGI) đưa ra một con số khiến nhiều người phải giật mình: mỗi năm, tỉnh Cà Mau sụt lún 1,56 – 2,3cm.

Các chuyên gia của NGI nhận định nguyên nhân sụt lún là do vùng này nước ngầm đã bị khai thác quá mức. Vấn đề đang xảy ra rõ nét nhất ở những nơi có đất sét mềm, dễ nén liên kết với tầng đất sâu hơn tầng sỏi.

Từ chuyện sụt lún này, Cà Mau và vùng lân cận có thể sẽ đối diện với tình trạng mất đất, bờ biển sẽ bị sạt lở mạnh, mất rừng; mặn sẽ xâm nhập sâu vào các sông và tấn công tầng nước ngầm…

“Nếu không hạn chế hoặc dừng việc bơm nước ngầm thì toàn bộ tỉnh Cà Mau có thể biến mất hoàn toàn trong vài thập niên tới” – NGI khuyến cáo.

Mới đây, một báo cáo của Sở NN&PTNT Cà Mau cho biết hằng năm tỉnh phải chi ra hàng trăm tỉ đồng để đối phó với tình trạng sạt lở, sụt lún, nước dâng.

Qua nhiều năm quan trắc, khảo sát, Sở đưa ra những con số: trong vòng năm năm, mực nước tại cửa sông Gành Hào đã dâng cao 0,73m. Cụ thể, năm 2007 mực nước đo được tại cửa sông này là +1,5m, năm 2012 mực nước lên +2,23m.

Sở nhận định nếu mực nước tiếp tục dâng như hiện nay thì trong thời gian tới có khoảng 90.000ha đất sản xuất (tương đương 1/6 diện tích của tỉnh) có nguy cơ bị ngập, nhất là hai huyện cực nam Năm Căn và Ngọc Hiển.

Ông Nguyễn Long Hoai, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau, cho biết nguyên nhân gây ngập là do việc khai thác nước ngầm quá mức làm sụt lún đất cộng với triều cường nước dâng.

PGS.TS Lê Anh Tuấn, phó viện trưởng Viện Biến đổi khí hậu ĐBSCL, cho rằng dẫn đến tình trạng ngập tại vùng này là do hai nguyên nhân: nước biển dâng lên, còn đất thì đang lún xuống.

Tình trạng này không chỉ xảy ra đối với riêng Cà Mau mà cả khu vực ĐBSCL. Sụt lún diễn ra nhiều nơi, nhưng riêng vùng bán đảo Cà Mau do người dân sử dụng quá nhiều nước ngầm để làm giảm độ mặn cho nước nuôi tôm đã làm tình trạng sụt lún càng nghiêm trọng.

Ngoài nguyên nhân do nước ngầm bị sụt giảm làm sụt lún đất, gây ra tình trạng vùng đất phía nam đang “chìm” dần, ông Tuấn cũng cho rằng vì vùng đất này là vùng đất mới được bồi lắng, chưa ổn định.

Việc xây dựng ở đây nhiều công trình đã làm tăng gia tải trên nền đất yếu cũng là nguyên nhân góp phần dẫn đến sụt lún diễn ra nhanh hơn.

Cùng với những thiệt hại về kinh tế khi nước ngập làm mất đất sản xuất, cuộc sống của người dân vùng ngập cũng đang bị ảnh hưởng nặng nề. Các tỉnh vùng ĐBSCL nhiều năm đã di dời số lượng lớn người dân đến nơi an toàn.

KIÊN THÀNH (còn tiếp)

***
MIỀN TÂY ĐIÊU ĐỨNG VÌ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU – KỲ CUỐI:

Tài nguyên: Không thể mạnh ai nấy khai thác, quản lý

30/07/2015 14:30 GMT+7

TT PGS.TS Nguyễn Hiếu Trung gợi mở những giải pháp có thể giúp hạn chế rủi ro đối với người dân miền Tây trong khi biến đổi khí hậu đang làm nhiều người điêu đứng.

Trồng rừng và xây bờ kè bảo vệ đất được nhiều tỉnh ở ĐBSCL tiến hành để đối phó tình trạng biến đổi khí hậu, nhưng kết quả chưa được là bao - Ảnh: Huỳnh Lâm
Trồng rừng và xây bờ kè bảo vệ đất được nhiều tỉnh ở ĐBSCL tiến hành để đối phó tình trạng biến đổi khí hậu, nhưng kết quả chưa được là bao – Ảnh: Huỳnh Lâm

PGS.TS Nguyễn Hiếu Trung, phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu kiêm trưởng khoa quản lý tài nguyên nước ĐH Cần Thơ cho biết những gì loạt bài “Miền Tây điêu đứng vì biến đổi khí hậu”Tuổi Trẻ phản ánh rất đáng quan ngại.

Biến đổi khí hậu đã có tác động rất cụ thể đến sản xuất và cuộc sống người dân trong vùng.

* Thưa ông, điều rất đáng lo ngại là dù nhiều năm nay các nhà khoa học đã cảnh báo biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng nặng nề cho ĐBSCL, nhưng có vẻ chính quyền và người dân các tỉnh trong vùng đang rất chủ quan, “đủng đỉnh” ứng phó?

– Tôi nghĩ thời gian gần đây chuyện biến đổi khí hậu đã được các tỉnh quan tâm hơn, có kế hoạch, có thành lập các ban bệ hẳn hoi. Nhưng vấn đề ở chỗ họ rất bị động, thiếu cán bộ am hiểu chuyên môn đủ năng lực tham mưu và thiếu tài chính để nghiên cứu, làm việc.

Hiện chỉ Cần Thơ có văn phòng công tác biến đổi khí hậu và văn phòng này hoạt động khá hiệu quả, còn các tỉnh chưa rõ vai trò của bộ phận này nên hiệu quả dự báo cảnh báo cho người dân còn quá ít.

* Theo ông, giải pháp trước mắt và dài hạn cho vấn nạn này là gì?

– Năm nay bị mặn như vậy mà chúng ta cứ bỏ tiền ra xây dựng đê, cống nhưng năm sau lại không có mặn nữa thì sẽ lãng phí. Thường giải pháp của chúng ta là lúc nào cũng đắp đê, xây kè, nâng nền, giải quyết ngay trong khi thông tin mình chưa có bài bản.

Vừa rồi một nhóm các nhà khoa học của chúng tôi có kết hợp với một số cơ quan liên quan trong và ngoài nước “chạy” thử kịch bản là chi tiền xây dựng cống Cái Lớn, Cái Bé (Kiên Giang), đóng cửa sông Tiền thì thấy mặn có thể không xâm nhập nhiều, có thể bảo vệ được nhiều vùng trồng lúa nhưng về mặt kinh tế chưa chắc tốt.

Vì vậy, chúng tôi đề xuất trong thời gian ngắn hạn không nên xây dựng công trình có thể giảm mặn nhưng rất tốn kém về kinh tế, mà giải pháp đơn giản hơn là giảm vụ sản xuất tùy theo vùng. Có những vùng có thể giảm từ ba vụ lúa xuống hai vụ, cộng một vụ màu vào mùa khô.

Cụ thể các khu vực như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu, Kiên Giang, Cà Mau… bị ảnh hưởng mặn nhiều nên chuyển đổi số vụ mùa trong năm. Việc giảm số vụ này là bài toán chiến lược của từng tỉnh.

Trong giai đoạn trung hạn không có sự thay đổi lớn về các kiểu sử dụng đất nhưng có thể thay đổi mùa vụ, sử dụng giống có thời gian canh tác ngắn hơn. Đặc biệt cần khuyến cáo người dân sử dụng tiết kiệm nước trong tưới tiêu.

Một nghiên cứu của chúng tôi và một tổ chức của Hà Lan ở Sóc Trăng thử nghiệm sử dụng các ao hồ xung quanh trữ nước trong mùa mưa, mùa khô sử dụng cho rau màu, hoặc một phương pháp nữa là tiết kiệm nước trong sản xuất lúa như: không bơm ngập liên tục mà chỉ bơm vừa đủ sát mặt đất để lúa vẫn sống được, khi nước hạ xuống mới bơm thêm.

Đây là phương pháp tiết kiệm một lượng rất lớn về nước mà năng suất vẫn đảm bảo. Với cách này, số lần bơm ít hơn, lượng nước bơm vô cũng giảm rất nhiều.

Tôi nghĩ các tỉnh cần tạo các khu trữ nước khác nhau như làm mới thêm hồ chứa, cải tạo hồ cũ và sử dụng khúc cua các con sông. Một nghiên cứu mới đây của chúng tôi cho thấy các tỉnh có thể sử dụng những khúc cua của sông để ngăn lại một phần trữ nước.

Mùa nước ngọt thì lấy vô trữ nước, khi nước mặn xâm nhập thì ngăn lại trong khúc cua vẫn có nước ngọt. Những chỗ này sẽ là chỗ cấp nước sinh hoạt, lấy nước xử lý.

Hiện tượng sụt lún và sạt lở không chỉ do biến đổi khí hậu mà còn do nhiều vấn đề khác tác động như: không tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ hành lang bờ sông, xây nhà cửa, cầu cống…

Một điều đáng lưu ý là việc xây kè cứng thời gian qua có thể không làm sạt lở ở khu vực đã được kè, nhưng lại gây sạt lở tại khu vực không có kè gần đó do khi xây dựng chưa tính hết tác động của dòng chảy.

Hiện nay các tỉnh đầu nguồn đều làm đê bao nên khi lũ về thay vì phân tán vô nội đồng, giờ nước lũ chỉ chảy trên sông nên vận tốc dòng chảy cao hơn sẽ xắn vô bờ gây sạt lở. Việc sạt lở này thường vào mùa khô bởi khi lũ rút đi thì đất trở nên rỗng và dễ sụt.

PGS.TS Nguyễn Hiếu Trung - Ảnh: C.Quốc
PGS.TS Nguyễn Hiếu Trung – Ảnh: C.Quốc

* Ông có khuyến nghị gì đối với cơ quan hữu quan để có thể giảm thiểu rủi ro cho người dân?

– Tôi nghĩ dài hạn hơn là phải có bài toán quy hoạch, tầm nhìn chiến lược trong vấn đề sử dụng tài nguyên đất, nước; tính bài toán kinh tế nhưng dựa vào sinh kế của dân. Đã đến lúc chúng ta không thể dựa hoàn toàn vào tài nguyên tự nhiên nữa mà phải nhờ vào dịch vụ.

Tùy vùng, chỗ nào trồng lúa, điều kiện tốt mà 100 năm nữa không ảnh hưởng gì thì trồng lúa và mạnh dạn đầu tư cho lúa chất lượng cao. Còn vùng nào dễ rủi ro hơn thì chuyển đổi, tìm hình thức sản xuất khác.

Lâu nay chúng ta quản lý nguồn nước, quy hoạch theo địa phương, mạnh ai nấy khai thác mà không có sự phối hợp điều tiết nguồn nước trong sản xuất và sinh hoạt.

Vì vậy cần có một bộ phận quản lý chuyên sâu về tài nguyên nước chung cho cả vùng ĐBSCL, không chỉ quản lý nước mặt trên sông, nước ngầm mà còn giữ vai trò kiểm tra giám sát, điều tiết nguồn nước cho cả vùng.

Hiện các cơ quan quản lý đó thuộc bộ chuyên ngành, còn sở tài nguyên – môi trường của tỉnh nào lo tỉnh đó nên không sâu sát.

Tìm giải pháp về công nghệ

Tại hội thảo “Công tác bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu trong tình hình hiện nay” do Ủy ban MTTQ VN TP.HCM tổ chức ở TP.HCM sáng 29-7, vấn đề “Miền Tây điêu đứng vì biến đổi khí hậu” được các nhà khoa học rất quan tâm.

Theo các chuyên gia, hiện tượng nước nhiễm mặn ở ĐBSCL hiện nay cũng chính là tác động của biến đổi khí hậu làm nước biển dâng cao.

PGS.TS Bùi Xuân Thành, khoa môi trường và tài nguyên ĐH Bách khoa TP.HCM, cho biết: Vấn đề nhiễm mặn trên không thể giải quyết được bằng các biện pháp thông thường, tự nhiên.

Khi mực nước biển dâng lên, nước mặn sẽ lấn sâu vào trong, dẫn đến chúng ta phải tìm cách giảm tác động đó.

Phải có kế hoạch để giảm thiểu tác động ấy chứ không thể nào dừng được. Chúng ta phải tìm giải pháp về công nghệ để giải quyết vấn đề nước mặn như đầu tư một số công nghệ khử mặn.

Hiện đã có một số công ty của Nhật hay châu Âu mang một số công nghệ xử lý nước lợ thành nước ngọt ở ĐBSCL. Một số công nghệ xử lý nước nhiễm mặn, nước lợ hiện nay trên thế giới là công nghệ lọc thẩm thấu ngược, công nghệ điện thẩm.

Các công nghệ ấy có thể triển khai và mở rộng, hoặc tìm kiếm những nguồn nước thay thế khác nước mưa.

MINH PHƯƠNG

______________

Miền Tây điêu đứng vì biến đổi khí hậu

>> Kỳ 1:  Mặn tấn công, trở tay không kịp

>> Kỳ 2: Miền Tây khát giữa mùa mưa

>> Kỳ 3: “Chạy biển”, “chạy sông”

HOÀNG TRÍ DŨNG – CHÍ QUỐC thực hiện

One thought on “Miền Tây điêu đứng vì biến đổi khí hậu – 4 kỳ

  1. Vấn đề biến đổi khí hậu đã nói nhiều năm nay rồi, nhưng không có kế hoạch gì cả, có lẽ vì chưa có kinh nghiệm. Nhưng nay đã biết điều gì xảy ra, nơi nào sụp lở, nơi nào có đất bồi, phải dự trữ nước thế nào, nên đổi canh tác thế nào… Hy vọng là các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, và người dân sẽ có những giải pháp hiệu quả hơn.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s