Liệu Việt Nam sẽ đối mặt với một trận hạn hán trầm trọng lần nữa

English: Is Vietnam in for Another Devastating Drought?

Bài học từ thảm họa năm ngoái có thể định hình cách tiếp cận đối phó với biến đổi  khí hậu ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long

Is Vietnam in for Another Devastating Drought?
Một người nông dân đang đốt những cây lúa khô, toàn bộ lúa đã bị chết khô do bị ảnh hưởng nặng nề của nạn hạn hán ở huyện Sóc Trăng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, Việt Nam (ngày 30, tháng 3, năm 2016). Hình ảnh:Reuters/Kham

Kì nghỉ Tết âm lịch của Việt Nam đã kết thúc, đánh dấu sự bắt đầu của mùa khô ở vùng đồng bằng châu thổ sông Mê Kông, Việt Nam. Ngay tại lúc này, ở các huyện ven biển đồng bằng châu thổ, hàng ngàn người nông dân, đặc biệt là những người đã chịu ảnh hưởng thảm hại của trận hạn hán lịch sử năm ngoái, đang được huy động để chuẩn bị đối phó với một trận hạn hán nghiêm trọng khác, được dự đoán sẽ diễn ra trong vài tuần tới.

Trong suốt mùa khô năm ngoái, trận hạn hán kỷ lục, theo sau là sự xâm nhập mặn, gây thiệt hại 15 nghìn tỷ VND (669 triệu $) đến sản xuất nông nghiệp. Trận hạn hán cũng là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề nhân đạo và tác động kinh tế khác: gần nửa triệu hộ gia đình thiếu nước sạch và lương thực, hàng ngàn người phải di chuyển đến các khu vực thành thị để tìm kiếm việc làm. Hạn hán gây ra bởi nguyên nhân chính là các đập thủy điện Trung Quốc xây dựng ở khu vực thượng nguồn sông Mê Kông, kết hợp với ảnh hưởng của hiện tượng El Nino.

Để giảm thiểu thiệt hại về nông nghiệp do ảnh hưởng của thiên tai kép như đã xảy ra năm 2016 – hạn hán gay gắt và xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền, trầm trọng thêm bởi đập thủy điện của Trung Quốc – tất cả các tỉnh trong vùng bị ảnh hưởng đã bắt đầu dự trữ nước sạch bằng mọi biện pháp có thể. Các xã bị ảnh hưởng ở Hậu Giang, Bến Tre, Tiền Giang, nông dân đã sử dụng bể để hứng nước mưa và đào giếng tìm nước ngầm. Họ cũng phải giảm vụ lúa hàng năm và chuyển đổi sang trồng hoa màu để giảm nhu cầu về nước. Trong lúc đó, nhà chức trách địa phương tiến hành nạo vét kênh mương và các phương tiện tưới tiêu và lắp đặt hệ thống đường ống nước sạch ở những điểm nóng về hạn hán. Thêm vào đó, việc xây dựng các con đê ngăn mặn tạm thời và trồng cây chống mặn xung quanh vùng châu thổ đang được gấp rút hoàn thành để ngăn nước mặn xâm nhập theo đường kênh mương.

Các nhà môi trường và nhà hoạt động địa phương đang lo ngại sâu sắc đến vấn đề nếu Trung Quốc tiếp tục duy trì việc xả nước một cách chậm chạp và miễn cưỡng trong suốt thời kỳ mực nước thấp, như họ đã làm năm ngoái, nông nghiệp vùng hạ lưu sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, và một lần nữa sẽ gây ra thảm họa môi trường cho toàn bộ khu vực hạ lưu sông Mê Kông. Nhiều nông dân địa phương và các nhà môi trường vẫn đang lo lắng về tương lai của vùng châu thổ. “Đó chỉ là những giải pháp tình thế,” một nhà môi trường ở đại học Cần Thơ, yêu cầu được giấu tên, cho biết. “Hạn hán nghiêm trọng như đã xảy ra năm ngoái, tương lai sẽ diễn ra thường xuyên hơn vì hệ sinh thái khu vực đã bị phá hủy bởi sự phát triển không bền vững và đập thủy điện của Trung Quốc, những điều này đã ảnh hưởng tới mọi thứ từ mực nước đến nhiệt độ nước, sự di cư của các loài cá, cũng như sự lắng đọng phù sa.”

Ngoài ra, đập thủy điện Trung Quốc trên thượng lưu sông Mê Kông gây lắng đến 80% lượng phù sa của khu vực. Phù sa sông Mê Kông là yếu tố sống còn cho khu vực châu thổ rộng lớn, bởi vì nó giúp bổ sung dinh dưỡng bị rửa trôi trong suốt mùa mưa và giúp chống lại sự dâng cao của mực nước biển, cũng như xói mòn bờ biển. Như vậy, mặc dù các nhà chức trách và người dân có thể  dự trữ nước sạch cho mùa khô, nhưng không có nước ở thượng nguồn và sự bồi đắp phù sa, vùng châu thổ thấp trũng có thể không thoát khỏi sự xói mòn tất yếu, gây sạt lở đất, điều này có thể đến sớm hơn dự đoán trong các kịch bản về sự dâng cao của mực nước biển ở Việt Nam.

Sự tác động của đập thủy điện Trung Quốc đã trở nên rõ ràng, không thể chối cãi được trong trận hán hạn năm ngoái, đã tàn phá khu vực hạ lưu màu mỡ dọc sông Mê kong. Tóm lại, Trung Quốc có một phần trách nhiệm đối với tình trạng thảm khốc của toàn khu vực. Mặc dù vậy, như tôi đã chỉ ra trong bài đã đăng trước đây trên  The Diplomat , phản ứng của Bắc Kinh với vấn đề này còn nhiều tranh cãi và khác xa so với những gì các nhà lãnh đạo nước này lớn tiếng cam kết trong các diễn đàn khu vực và hợp tác song phương. Với sự thật này, những người nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long hết sức bi quan và cam chịu bởi họ không biết họ còn có thể kiếm sống từ nông nghiệp được bao lâu nữa.

“Lo lắng hay không lo lắng, cũng không có gì khác biệt và cũng không khác nhau nhiều bởi chúng tôi không có tiếng nói,” Lâm Ngọc Tiến, một nông dân 32 tuổi người  dân tộc Khmer ở huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, nơi những hậu quả của trận hạn hán năm 2016 còn hiện diện khá rõ ràng. “Chúng tôi không thể kiểm soát sự thay đổi khí hậu với thời tiết ngày càng nóng hơn hay cho dừng việc xây dựng đập thủy điện ở các nước phía thượng nguồn. Và khi những tác động này xảy đến cùng một lúc, đó là một cơn ác mộng  thật sự  mà những người nông dân bình thường ở khu vực hạ lưu như chúng tôi buộc phải chịu đựng,” anh cho biết.

Còn vài tuần nữa cho những người dân khu vực đồng bằng châu thổ chuẩn bị và sẵn sàng đối phó với đợt hạn hán mới. Việc cần thiết là phải xem lại sự phát triển và các vấn đề thời gian gần đây ở đồng bằng sông Mê Kông để giải quyết các vấn đề nan giải cho chính phủ Việt Nam và người dân trong cách tiếp cận với sự phát triển phù hợp với thay đổi khí hậu ở khu vực có hệ sinh thái đa dạng nhưng dễ bị tổn thương này. Chúng tôi hy vọng những giải pháp này sẽ giúp ngăn chặn thảm họa kép khủng khiếp xảy ra như năm ngoái, cũng như chúng tôi chờ đợi những phản ứng có trách nhiệm hơn từ Trung Quốc để giảm bớt đáng kể những ảnh hưởng của mùa nước cạn đối với khu vực hạ lưu.

Bài học số 1: Hàng thập kỷ với Chính sách cũ “Ưu tiên phát triển trước” phải trả giá bằng việc không thể hồi phục lại  môi trường 

Từ khi thành lập khu công nghiệp đầu tiên ở thành phố Cần Thơ khoảng 20 năm trước, tất cả các tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu cạnh tranh với các tỉnh khác trong việc phát triển các khu công nghiệp và kêu gọi đầu tư nước ngoài, bắt đầu cuộc chạy đua công nghiệp hóa dai dẳng ở trong khu vực. Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, các nhà lãnh đạo tỉnh đã quyết định thu hồi đất nông nghiệp màu mỡ để cho các dự án phát triển tư nhân. Theo báo cáo của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), các cơ quan chức năng ở đồng bằng sông Cửu Long đã thành lập ồ ạt đến 74 khu công nghiệp và 214 cụm công nghiệp với tổng diện tích lên đến 42000 hecta- phần lớn trong số đó là đất sản xuất nông nghiệp năng suất cao dọc theo con sông chính.  Rất nhiều ngôi làng nổi tiếng với các đặc sản trái cây và gạo (như bưởi da xanh và bưởi đào, cam vua, sầu riêng, táo sữa, gạo thơm ở Long An, Đồng Tháp, Hậu Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ,…) đã bị công nghiệp hóa mà không cân nhắc kỹ lưỡng đến an ninh lương thực và tác động môi trường.

Hàng trăm nghìn người nông dân ở những làng công nghiệp hóa phải rời bỏ đất đai của tổ tiên, là tài sản cũng như phương tiện sản xuất chính của mình để đến định cư tại các khu đô thị. Vài hộ gia đình đột nhiên trở nên giàu có bởi hàng triệu đồng từ tiền bồi thường ruộng đất, nhưng lại không có khả năng cũng như sự chuẩn bị cần thiết cho cuộc sống mới. Họ sớm tái nghèo và trở thành nhân công giá rẻ cho các nhà máy xây dựng lên trên chính mảnh đất của mình.

Trớ trêu hơn, chỉ một phần nhỏ trong hơn 40,000 hecta đất kể trên được công nghiệp hóa thực sự, nhưng ngay lập tực những dự án ít ỏi này trở thành nơi phát thải ô nhiễm nghiêm trọng, gây ra những ảnh hưởng nặng nề đến môi trường và hệ sinh thái khu vực. Trong khi đó, phần lớn đất thu hồi cho đến nay vẫn chưa được đưa vào sử dụng, nguyên nhân là do những nhà đầu tư nước ngoài quyết định rút lui khỏi hợp đồng hoặc những dự án hàng tỉ đô la đó thực chất là những dự án ảo, gây nên sự lãng phí lớn và thiệt hại nông nghiệp năm này qua năm khác do đất bị bỏ không. Cuối cùng, những gì còn sót lại là những cánh rừng tàn lụi và những nhà máy ô nhiễm nằm rải rác như những ngôi mộ rải rác ở khắp vùng châu thổ. Tình trạng này góp phần vào sự suy thoái môi trường, tăng nhiệt độ khu vực, thu hẹp diện tích rừng che phủ, và giảm mật độ vườn cây trái của người nông dân. Những khu rừng và vườn cây trái này đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết khí hậu như trong thời gian nắng nóng, hạn hán, lũ lụt vì chúng có khả năng lưu giữ một lượng lớn nước trong suốt mùa mưa.

Bài học số 2: Chúa Trời chỉ giúp những người biết tự cứu chính mình

Trong khi những người nông dân ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang phải chật vật đối phó với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thì những người nông dân ở Cù Lao Giêng, trên sông Mê Kông, một khu vực dễ bị ảnh hưởng của thiên tai, nằm gần biên giới Việt Nam-Campuchia đã đón mừng một cái Tết no ấm sau một vụ mùa bội thu.

Qua các thế hệ, những người trồng lúa ở Cù Lao Giêng sống dựa hoàn toàn vào sông Mê Kông, nơi đã hình thành nên cù lao tam giác này, để cung cấp nước tưới tiêu cho mùa vụ. Nhưng từ khi sự ảnh hưởng từ thay đổi khí hậu và đập thủy điện trên sông Mê Kông ngày càng tăng, thay vì than khóc, những người nông dân ở cù lao này đã tiên phong trong việc chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng giống xoài năng suất cao, với tên gọi “xoài ba màu”, vì vỏ xoài thay đổi từ màu xanh đến tím đỏ khi chín. Anh Nguyễn Hoàng Dư, một nông dân tiên phong trong việc nhập hạt giống và phổ biến giống xoài tới các xã trên đảo tóm tắt lại ý tưởng tuyệt vời cũng như công sức của anh một cách ngắn gọn với giọng nói sang sảng:”Rất nhiều nông dân ở đây hiện nay trở thành triệu phú nhờ xoài.” Anh nói thêm rằng những người dân trong làng đã không còn phải lo lắng về sự thay đổi thời tiết lẫn sự giảm mực nước thượng nguồn.

Dư là một trong rất nhiều người nông dân trên cù lao đã thoát nghèo từ khi họ quyết định chuyển đổi cây trồng truyền thống sang trồng đại trà giống xoài ba màu 5 năm trước đây để đương đầu với sự thay đổi của môi trường. Cùng với việc kiếm hàng trăm triệu đồng hàng năm từ thu hoạch xoài, những người nông dân ở cù lao còn được hưởng lợi từ du lịch bởi vườn cây ăn trái của họ đã trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của tỉnh An Giang. “Những thành quả đạt được rất ấn tượng và có ý nghĩa đối với việc giảm tỷ lệ đói nghèo của xã,” ông Huỳnh Văn Cường, chủ tịch Ủy ban nhân dân xã cho biết. Ông đã thông báo trên truyền thông địa phương rằng chính quyền tỉnh sẽ hết sức hỗ trợ hình thức nông nghiệp phù hợp như thế này bằng hàng triệu đồng tiền viện trợ để giúp những người nông dân trồng xoài đạt được tiêu chuẩn VietGap ( tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất nông nghiệp).

Những nỗ lực bền bỉ của người nông dân chống lại nghịch cảnh đã được đền đáp xứng đáng. Cách họ thực hiện vô cùng đơn giản nhưng lại phi thường giúp họ vượt qua khó khăn về môi trường mà toàn khu vực đồng bằng châu thổ sông Cửu Long đang phải đối mặt, đã nhắc nhở chính phủ và những người dân chịu ảnh hưởng ở nơi khác một chân lý: Chúa sẽ giúp những người tự cứu chính mình. Là đất nước cuối cùng ở hạ lưu sông Mê Kông, gánh chịu sự tác động ngày càng khủng khiếp từ các dự án năng lượng của Trung Quốc trên dòng chảy chính, Việt nam cần noi gương những người nông dân ở Cù lao Giêng bằng cách duy trì hoạt động nông nghiệp phụ thuộc vào nước ngọt và bảo vệ phong tục tập quán địa phương trong khi thúc đẩy du lịch sinh thái cộng đồng.

Mô hình phát triển kinh tế này có thể khá quen thuộc ở một số nơi khác, nhưng nó thật sự là vô giá đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long vì nó kết hợp hoàn hảo giữa bảo vệ sinh thái và xóa đói giảm nghèo trong khu vực, cho phép cộng đồng dân cư có thể đối phó hiệu quả với mối nguy hiểm và tác động đồng thời của biến đổi khí hậu và dự án xây đập thủy điện của Trung quốc. Ở khía cạnh này, cách tiếp cận của những người nông dân cù lao đã mở ra một con đường rõ ràng cho Việt Nam có thể tự cứu lấy chính mình bằng chiến lược thích ứng với thay đổi khí hậu, thay vì chờ đợi trong vô vọng sự trợ giúp từ các nước láng giềng ở khu vực thượng lưu. Những gì chính phủ sẽ phải làm, trong rất nhiều điều khác, là để trao quyền và đưa ra cách thức để tiếng nói của công dân có trọng lượng hơn trong các vấn đề quan trọng của quốc gia trong khi thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp đầy tham vọng, với mục đích phát triển một“nền nông nghiệp bền vững, hiện đại, mang lại giá trị cao ở đồng bằng châu thổ sông Mê Kông,” như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại diễn đàn châu thổ sông Mê Kông tháng 6-2016.

Bài học số 3: Cần thiết cho chính sách “Ưu tiên lúa gạo”

Câu chuyện thành công của tỷ phú nông dân ở Cù Lao Giêng cũng đã chỉ rõ lý do tại sao Việt Nam nên tìm kiếm một chính sách “Ưu tiên lúa gạo hàng đầu”, ủng hộ việc sản xuất nông nghiệp dựa vào nước ngọt, ít nhất trong tương lai gần, ở đồng bằng châu thổ sông Mê Kông. Trước hết, liên quan tới bài học đầu tiên, sự công nghiệp hóa vội vàng không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng – tăng cường khả năng của chính quyền địa phương trong quản lý công nghiệp và quản lý môi trường và chuẩn bị cho người nông dân những công việc không liên quan đến nông nghiệp – chắc chắn sẽ làm tăng rủi ro về môi trường gây ra bởi đập thủy điện thượng lưu sông Mê Kông và kết quả là rối loạn trật tự xã hội do sự di cư tự phát và tăng tỷ lệ đói nghèo.

Thứ hai, đồng bằng châu thổ sông Mê Kông vẫn là khu vực sản xuất lúa gạo chính ở Việt Nam, không chỉ đóng góp phần quan trọng vào an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông nghiệp, mà còn có vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế đất nước. Ngành nông nghiệp của vùng châu thổ nói riêng là nguồn thu dồi dào của đất nước, như từ xuất khẩu nông nghiệp, tiền đầu tư, tiết kiệm dựa trên thu nhập, dùng để phát triển công nghiệp và các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Như vậy, diện tích đất nông nghiệp càng thu hẹp lại, sự phát triển kinh tế Việt Nam càng phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng.

Thứ ba, mặc dù đồng bằng sông Cửu Long được xem là vựa lúa lớn nhất nước, sản xuất nông nghiệp quanh năm, đói nghèo vẫn là thách thức, đặc biệt trong suốt mùa khô. Cuộc khủng hoảng nhân đạo do thiếu lương thực và nước ngọt, theo sau bởi giá lương thực tăng chóng mặt, trong suốt đợt hạn hán năm ngoái đã cho thấy sự cần thiết phải tăng cường năng lực địa phương trong sản xuất nông nghiệp và duy trì nguồn cung cấp lương thực ổn định

Thứ tư, trong những năm gần đây người nông dân ở tỉnh ven biển như Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu đã chuyển đổi mô hình trồng lúa sang mô hình lúa-tôm, được cho là bền vững và mang lại lợi nhuận cao hơn cách canh tác truyền thống. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hầu hết những người nông dân đi theo mô hình lúa-tôm vẫn chưa thành công trong khi môi trường địa phương và rừng ngập mặn bị phá hủy không thể hồi phục do sự nhiễm mặn sau vài vụ nuôi tôm. Nhìn từ phía của các nhà môi trường, sự biến đổi khí hậu, nhiệt độ và độ mặn nước tăng lên, sự khan hiếm nước mưa cùng với ô nhiễm môi trường, tất cả điều đó làm cho việc trồng lúa vào mùa mưa khá khó khăn, trong khi việc nuôi tôm ngày càng bị ảnh hưởng của dịch bệnh và chất lượng nước. Kết quả là, các xã trồng lúa kết hợp nuôi tôm rất dễ bị thiếu lương thực và nước ngọt trong mùa khô vì những cánh đồng và ao nuôi tôm bị nhiễm mặn nghiêm trọng, không có khả năng trồng lúa hay trồng các loại rau nào nữa.

Do vậy, nếu hệ thống tưới tiêu và mạng lưới đập nước, rừng ngăn xâm nhập mặn còn chưa hoàn thiện và không hiệu quả, chính quyền địa phương và người nông dân phải bảo vệ khu vực đất nông nghiệp bằng mọi cách để ngăn chặn sự xâm nhập mặn.

Bài học số 4: Thời điểm cho sự sáng tạo của người dân địa phương

Câu chuyện về sự thành công từ ngôi làng tỷ phú ở An Giang đã chứng minh rằng, những người nông dân ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, phần lớn không được đào tạo bài bản, có thể tự làm giàu cho chính mình với các mô hình sản xuất nông nghiệp sáng tạo, tạo thêm nhiều việc làm và hoạt động kinh tế phụ trợ. Mặt khác, nó cũng cho thấy sự hiểu biết và kinh nghiệm của dân cư địa phương trong việc thích ứng với điều kiện môi trường thay đổi theo cách của mình. Rõ ràng, những ngôi làng cù lao này đã cho thấy khả năng giải quyết vấn đề khí hậu và giảm tác động của đập thủy điện thượng nguồn bằng  mô hình nông nghiệp truyền thống đơn giản nhưng phù hợp với hệ sinh thái đang dần thay đổi. Sự sáng tạo của người dân nên được thừa nhận như là một phần quan trọng của cách thức phát triển phù hợp với khí hậu của toàn khu vực.

Từ quan điểm hoạch định chính sách, cách những người nông dân đối phó với điều kiện khí hậu thay đổi nên được xem xét đến khi chính phủ đưa ra các quyết sách. Vì vậy, bất kỳ chính sách hoặc phương pháp đề xuất bởi các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia không nên chỉ xem xét cứng nhắc trên giấy tờ – hoặc, thẳng thắn hơn, áp đặt quan điểm và giải pháp của họ – lên người dân địa phương; đúng hơn, họ nên quan tâm nhiều hơn đến tri thức người dân với một cái nhìn hướng về sự phát triển cân đối cho lợi ích của các bên: người nông dân, nhà kinh tế, chính quyền địa phương.

Kết luận

Các ảnh hưởng của thời tiết, đặc biệt là hạn hán và lũ lụt, không phải là vấn đề mới ở đồng bằng sông Cửu Long. Mặc dù vậy, thảm họa kép lịch sử diễn ra vào năm ngoái là một ví dụ rõ ràng nhất cho thấy sự khắc nghiệt của thời tiết như thế nào khi kết hợp với ảnh hưởng của đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông. Để làm mọi thứ tồi tệ hơn, sự phát triển công nghiệp không bền vững được thực hiện bởi chính quyền khu vực làm tăng thêm mối nguy an ninh môi trường, phá hủy hệ sinh thái khu vực và làm rối loạn trật tự xã hội. Tiếp đó, sự thành công của tỷ phú nông dân ở Cù Lao Giêng, một xã nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của thảm họa, cho thấy triển vọng Việt Nam để tự cứu chính mình bằng những chiến lược phù hợp với sự thay đổi khí hậu. Mặc dù thành công của khu vực này là minh chứng cho sự ổn định và phát triển trong việc bảo vệ môi trường, Việt Nam vẫn còn thận trọng và kiên nhẫn trong việc hoạch định chính sách.

Trong khi theo đuổi chính sách ngoại giao chống lại việc xây dựng đập thủy điện trên sông Mê Kông, Việt Nam cần dựa vào chính mình bằng cách phát triển canh tác nông nghiệp phù hợp, thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp, học tập kinh nghiệm của địa phương. Tất cả đều là những bước cần thiết cho chiến lược phát triển thích nghi với thay đổi khí hậu, đặc biệt là khi lưu vực sông Mê Kông còn nhiều nguy cơ về an ninh môi trường và các tác động phức tạp giữa các nước.

 

Tác giả Nguyễn Minh Quang là giảng viên tại Đại học Cần Thơ, tập trung vào nghiên cứu sự xung đột và an ninh môi trường ở Đông Nam Á. Quan điểm chỉ ra trong bài báo là của riêng tác giả, không phản ánh quan điểm của đại học Cần Thơ

 

Dịch bởi Nguyễn Thị Lệ Mỹ – Đại Học Bách Khoa Hà Nội

Advertisements

One thought on “Liệu Việt Nam sẽ đối mặt với một trận hạn hán trầm trọng lần nữa

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s