Chiến lược nội hóa bò ngoại (3 kỳ)

Chiến lược nội hóa bò ngoại

TNKhông có lợi thế về đồng cỏ, mỗi năm VN đang phải bỏ ra nhiều trăm triệu USD để nhập khẩu bò và số lượng bò nhập vẫn đang tăng theo cấp số nhân. Nhưng 2 năm nay, với việc nhập bò Úc vỗ béo và bò Úc sinh sản, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đang từng bước hiện thực hóa chiến lược nội địa hóa bò ngoại để chủ động cả về nguồn cung thịt và tiến tới chủ động con giống cho thị trường nội địa đầy tiềm năng.

Một ngày đàn bò của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai ăn hết 600 tấn cỏ -Ảnh: N.H

Thị trường “tỉ đô”

Theo thống kê, nếu như năm 2007 tổng đàn bò của VN có khoảng 6,7 triệu con thì đến nay chỉ còn khoảng hơn 5 triệu con và vẫn tiếp tục giảm. Số lượng bò trong nước giảm trong khi nhu cầu ngày càng tăng.

Chỉ riêng năm 2014, thị trường nội địa đã tiêu thụ khoảng 1,2 triệu con bò nhưng bò trong nước chỉ cung cấp khoảng 200.000 con; bò thẩm lậu qua biên giới Lào, Campuchia ước tính vài trăm ngàn con; bò Úc nhập khoảng 181.000 con, còn lại là bò đông lạnh. Số liệu của Cục Chăn nuôi cũng cho thấy, bò nhập đang tăng theo cấp số nhân. Số lượng bò nhập khẩu từ Úc năm 2014 gấp 2,7 năm 2013. Trong 7 tháng đầu năm nay, VN đã nhập về 210.000 con bò Úc, nhiều hơn cả năm 2014 là 29.000 con. Mặc dù vậy, tỷ lệ thịt trâu bò trong khẩu phần ăn của người Việt vẫn hết sức khiêm tốn, chỉ khoảng 6%, bằng 1/3 tỷ lệ trung bình của thế giới là 23%.

Nói thế để thấy, thị trường bò thịt trong nước cực kỳ tiềm năng nhưng lại đang dựa chủ yếu vào nhập khẩu. Để tiệm cận với mức tiêu thụ thịt bò trung bình của thế giới, chúng ta sẽ phải nhập khẩu nhiều hơn, tiêu tốn ngoại tệ nhiều hơn. Đó cũng là lý do, từ năm 2012 trở lại đây có rất nhiều đại gia VN ở đủ các lĩnh vực, ngành nghề, từ bất động sản, ngân hàng, tiêu dùng… âm thầm “nhảy” sang nhập bò về thị trường nội địa, chủ yếu là từ Úc.

Với công nghệ nuôi bò hiện đại nhất thế giới, thịt bò Úc được người tiêu dùng trong nước đón nhận nhanh chóng vì giá mềm (tương đương với bò nội); thịt dẻo và đặc biệt là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đơn cử như ở Đồng Nai hiện 99% là tiêu thụ bò Úc. Tại các chợ, hệ thống siêu thị trên cả nước đều được bò Úc phủ sóng và trở thành quen thuộc với các bà nội trợ. Nhưng hầu hết các doanh nghiệp hiện tại đều chỉ nhập bò thương mại. Nghĩa là nhập bò về, đưa vào lò mổ rồi bán ra thị trường, thu tiền luôn. Còn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL), với lợi thế về đất, cánh đồng cỏ, vốn… và quan trọng nhất là giấc mơ “cải tạo giống nòi” cho đàn bò VN đã bị suy thoái cả về chất và lượng, tập đoàn này chủ yếu nhập bò non, đã nuôi khoảng 12 – 18 tháng ở Úc về VN nuôi thêm 5 tháng nữa theo quy trình khép kín. Tuân thủ tuyệt đối chế độ ăn uống, giải trí, ngủ nghỉ… để trọng lượng, chất lượng, các chỉ số vệ sinh an toàn thực phẩm đạt tiêu chuẩn của cả Úc và VN rồi mới xuất chuồng.

Thực tế cho thấy, thị trường bò thịt nội đúng là thị trường hết sức màu mỡ vì cầu cao hơn cung. Thế nên, chỉ riêng việc bán bò đã giúp doanh thu 6 tháng đầu năm nay của HAGL tăng gấp 3 lần cùng kỳ năm ngoái, đạt 1.985 tỉ đồng, trong đó riêng bò đóng góp 766 tỉ đồng, chiếm gần 40% trong tổng doanh thu của tập đoàn. Hiện mỗi ngày có khoảng 350 con bò thịt của tập đoàn này xuất chuồng đi ra thị trường cả nước. Dự kiến từ tháng sau, số lượng sẽ tăng lên 400 – 450 con/ngày vì cuối năm là thời điểm nhu cầu về thịt bò tăng mạnh.

Bò Việt gốc Úc, Mỹ…

Nhưng đó cũng mới chỉ là chiến lược mang tính gối đầu, lấy ngắn nuôi dài. Chiến lược lâu dài hơn của ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Tập đoàn HAGL, là nhập bò giống từ Úc, từ Mỹ, từ các quốc gia có thế mạnh về bò vào VN rồi cho phối giống, sinh sản, chăn nuôi theo đúng quy trình công nghệ tiên tiến nhất để cho ra đời những lứa bò Việt gốc Úc, gốc Mỹ… Đến nay, HAGL đã và đang nhập vài chục ngàn con bò sinh sản đang “đồn trú” tại Lào, Campuchia để từng bước thực hiện chiến lược này.

Hiện tổng đàn bò thịt của HAGL vào khoảng 120.000 con; bò sữa (cả bê) 12.000 con; tại Gia Lai tập đoàn đang trồng 2.500 – 3.000 ha cỏ, chưa kể tại Lào, Campuchia và các tỉnh, thành khác.

Nội địa hóa bò cũng giống như nội địa hóa xe hơi hay nội địa hóa đồ điện tử, ngoài mục tiêu đầu tiên là tạo ra một giống bò Việt gốc ngoại tốt thì một mục tiêu lớn nữa là chủ động nguồn cung, giảm giá thành cho người tiêu dùng mà vẫn đảm bảo nguồn lợi lớn cho công ty. Trên thực tế, việc phụ thuộc quá lớn vào nhập khẩu thịt bò hay bất cứ loại thực phẩm nào khác đều tiềm ẩn các rủi ro. Nếu vì một lý do gì đó, nước xuất khẩu hạn chế, thậm chí không xuất nữa hay đơn giản là dịch bệnh… sẽ khiến thị trường trong nước bị thiếu hụt nguồn cung, dẫn đến bất ổn giá cả, gây xáo trộn thị trường. Về phía doanh nghiệp (DN), phụ thuộc hẳn vào nhập khẩu cũng không ít rủi ro. Đơn cử như đợt điều chỉnh tăng tỷ giá vừa rồi sẽ khiến giá hàng nhập tăng mạnh. Nếu bổ trên giá sản phẩm thì người tiêu dùng chịu thiệt thòi, phải mua giá cao. Còn nếu không thể bổ vào giá, DN sẽ lỗ. Rất nhiều DN nhập khẩu cũng đang kêu lỗ hàng trăm, hàng ngàn tỉ từ đợt biến động tỷ giá vừa rồi. Vì vậy, nếu chủ động được nguồn cung, không chỉ khiến đất nước đỡ tiêu tốn ngoại tệ nhập khẩu, ổn định thị trường mà với DN, lợi nhuận cũng lớn hơn nhiều so với nhập bò Úc thương mại.

Thực tế, với lợi thế về quỹ đất để xây chuồng trại, nguồn thức ăn và đầu tư công nghệ cao ngay từ đầu nên giá bán cạnh tranh so với các đơn vị khác trên thị trường. Cũng vì trồng được cỏ, bắp, chủ động được nguyên liệu thức ăn giúp HAGL tiết kiệm tối đa chi phí. Thậm chí, chỉ riêng tiền bán phân bò (do không sử dụng hết) cũng giúp tập đoàn này thu 200 – 300 triệu đồng/ngày.

Máy cắt, nghiền cỏ tự động của HAGL – Ảnh: Nguyên Khanh

Theo điều tra riêng của PV Thanh Niên, giá thịt bò hơi nhập thương mại từ Úc trong tháng 9 này khoảng 2,86 – 2,9 USD/kg, thuế 5%, hao hụt trong quá trình vận chuyển theo tính toán của một người chuyên nhập khẩu bò Úc vào khoảng 4%/con bò, với tỷ giá hiện tại thì bò hơi Úc về tới VN rơi vào khoảng 72.000 đồng/kg. Muốn có lời phải bán cao hơn mức này. Nhưng do tiết kiệm được chi phí như nói trên, giá bò Úc hơi của HAGL cạnh tranh hơn, chỉ từ 60.000 – 70.000 đồng/kg. Giá bán lẻ thịt bò Úc của tập đoàn này (ngoài thị trường gọi là bò Gia Lai) cũng thấp hơn so với bò Úc nhập thương mại.

Còn nếu tạo ra được các giống bò Việt gốc ngoại, nuôi từ bé, lợi nhuận còn lớn hơn. Nhưng điều quan trọng hơn với ông chủ Tập đoàn HAGL, người Việt, DN Việt phải làm chủ thị trường thịt bò Việt, làm chủ cuộc chơi chứ không phụ thuộc vào nhập khẩu mãi được.

Nguyên Khanh

*****

Chiến lược nội hóa bò ngoại – Kỳ 2: Kiểm soát thịt bò đến tận… bàn ăn

TNHiện trên thị trường kinh doanh bò Úc có khoảng 14 – 15 công ty lớn, trong đó có khá nhiều các “đại gia” lừng lẫy một thời ở các lĩnh vực tài chính, tiêu dùng… Sự tham gia của họ đang được kỳ vọng sẽ thay đổi cơ cấu ngành nuôi và kinh doanh bò truyền thống.

Chiến lược nội hóa bò ngoại - Kỳ 2: Kiểm soát thịt bò đến tận... bàn ăn - ảnh 1Xe chở thức ăn cho bò của HAGL – Ảnh: Lương Thiện

Khoảng 11 giờ đêm 4.9, những tảng thịt bò đầu tiên của lò mổ lớn nhất Tiền Giang được chất lên xe và lăn bánh ra cổng để tới tay các đầu mối bán lẻ. Chị P., chủ lò ngồi ngay ngoài cửa, miệng đọc, tay ghi, mắt dõi theo từng tảng thịt được chất lên chiếc cân tạ đặt ngay trước, vừa nói: “Đêm qua (3.9), một xe bò đồng (bò nội) bị thú y bắt vì bơm nước nên 2 đêm nay lò chị mổ 100% bò Úc, chủ yếu là bò Gia Lai”. “Thế người mua có chịu không?”, tôi hỏi. “Chịu chứ, họ thích bò Úc lắm vì thịt mềm, giá tương đương bò đồng và quan trọng nhất là không bị bơm nước nên vệ sinh hơn”, chị nói.

“Nước mắt”… bò đồng

Lò của chị P. là một trong các điểm tiếp nhận số bò Úc đầu tiên cập cảng vào VN để đưa ra thị trường và cũng là nơi mổ bò Úc với số lượng lớn hiện nay. Bình thường 70 – 80 con, cao điểm lên tới hơn 100 con nhưng mấy tháng vừa rồi “tụt” xuống chỉ còn trung bình khoảng 50 con/đêm. Số lượng bò Úc đang chiếm tới 90% tổng lượng bò mổ của lò. Chị P. bảo lẽ ra chuyển hết sang bò Úc nhưng vì “tình cảm” với một số thương lái và bạn hàng làm bò đồng lâu năm nên chị vẫn duy trì một tỷ lệ nhỏ. “Làm bò đồng cầm chắc lỗ vì tỷ lệ thịt thấp hơn nhiều so với bò Úc mà giá cả cũng tương đương. Trung bình tôi lỗ 10 triệu đồng/con bò đồng. Người ta bơm nước vào bò đồng cũng vì lý do này”, chị P. nói.

Một chủ lò mổ có thâm niên hơn chục năm tại Long An cũng tiết lộ tình trạng bơm nước vào thịt bò khiến chính các chủ lò bị lỗ nặng. Vì họ mua bò nguyên con, cân ký và tính tiền. Nhưng khi mổ ra, bị bơm nước thì hao hụt quá lớn dẫn đến bị lỗ. “Nhưng kinh hoàng hơn cả là có những con bò bị bơm nước quá nhiều, trước khi mổ người ta phải dùng dao đâm vào bụng nó cho chảy bớt nước ra. Tôi là chủ lò mà còn thấy rùng mình”, vị này nói. Bơm nước khiến thịt bị nhiễm khuẩn, nhanh hư là một trong những nguyên nhân lớn khiến bò đồng bị một bộ phận lớn người tiêu dùng nội địa tẩy chay.

Một lý do nữa khiến các chủ lò không còn mặn mà với bò đồng, đúng như chị P. nhận xét là tỷ lệ thịt thấp. Giống bò màu vàng của VN chỉ khoảng 250 kg/con có tỷ lệ thịt 50%, trong khi bò Úc trên 500 kg/con và tỷ lệ thịt là 55%. Với giá tương đương, làm bò Úc đương nhiên lợi hơn nhiều. Thị trường quay lưng, số lượng đàn bò thì giảm mạnh theo từng năm. Bò đồng chính thức nhường cuộc chơi cho bò ngoại trên chính sân nhà.

Nguyên tắc chia sẻ

Nhưng không phải cứ bò nhập là có thể yên tâm. Nếu không có một cơ chế kiểm soát tốt cộng với sự hợp tác chia sẻ lợi ích giữa các chủ lò với những đơn vị nuôi, nhập bò Úc thì những vấn đề của bò đồng cũng có khả năng lặp lại trên bò Úc. Bởi hầu hết những đơn vị nuôi bò Úc vỗ béo, bò Úc thương mại đều thông qua mạng lưới các lò mổ, vốn là đầu mối cung cấp thịt bò cho thị trường hàng chục năm qua.

Chị P. kể, chị cũng từng bầm dập, lỗ nặng vì bò Úc. Là người hào hứng đón nhận lứa bò Úc đầu tiên về lò của mình năm 2012, chị chia sẻ: “Tìm hiểu thấy bò Úc ngon, tỷ lệ thịt cao mà giá lại cạnh tranh nên tôi chắc chắn sẽ thắng. Ai ngờ sau khi mổ vài tiếng, thịt bò bỗng sậm màu lại như thịt trâu, ai cũng chê, thế là lỗ”. Sau khi tìm hiểu chị mới biết, đặc thù của bò Úc là nếu để nguội tự nhiên sau khi mổ, thịt sẽ sẫm màu. Để giữ sắc đỏ của thịt, phải làm nguội từ từ. Giải quyết được vấn đề này thì lại phát sinh thêm vấn đề mới. Đó là một số công ty nhập bò đã già, hoặc nhập về nhưng trong thời gian chờ mổ không nuôi đúng quy trình nên hao hụt lớn, thế là lại lỗ. “Chán quá nên tôi tự giảm số lượng bò mổ mỗi đêm xuống 50 con”, chị P. nói.

Trên thực tế, việc mua đứt, bán đoạn giữa các công ty nhập khẩu bò thương mại và chủ lò rất dễ dẫn đến các rủi ro như nói trên. Nhiều trường hợp, các đơn vị nhập bò Úc chủ động bù lỗ cho lò để duy trì mạng lưới phân phối. Nhưng đây không phải là giải pháp lâu dài và chắc chắn chỗ này, chỗ kia sẽ dẫn đến tình trạng bơm nước như đã diễn ra với bò đồng. Đó là chưa kể trường hợp bò Úc vào đến lò mổ, cắt thẻ tai (chứng minh được mổ tại lò) rồi lại được dắt qua cửa sau để buôn lậu qua Trung Quốc kiếm lời cao. Vì hiện hiệp định bán bò chưa có hiệu lực nên Úc chưa xuất bò qua Trung Quốc. Các trường hợp này nếu bị phát hiện, phía Úc sẽ cấm nhập…

“Nhưng giờ bán bò Gia Lai đã có lời rồi nên tôi yên tâm”, chị P. thông báo và cho biết, chị sẽ tăng lượng mổ trở lại. Không nói cụ thể lý do lời, nhưng chị P. cho biết chị và phía bò Gia Lai (của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai) đã “ngả bài” với nhau và việc của chị giờ đây là bảo đảm đúng và tốt nhất các yêu cầu về giết mổ, vệ sinh thực phẩm theo quy định khi đi ra thị trường.

Đem vấn đề này trao đổi người có trách nhiệm của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai thì được biết tập đoàn này đã tính một tỷ lệ lợi nhuận định mức trên mỗi con bò cho chủ lò chứ không phải mua đứt, bán đoạn, lời ăn lỗ chịu như cách làm của nhiều đơn vị khác. Ngược lại, phía chủ lò phải đáp ứng tuyệt đối các yêu cầu về giết mổ, về vệ sinh an toàn thực phẩm của bò thịt từ lúc vào lò cho tới ra thị trường. “Họ làm càng sạch, càng uy tín thì tiêu thụ càng cao, lời càng lớn”, người này nói.

Đầu tư nuôi công nghệ cao thôi chưa đủ, cục diện cuộc chơi trên thị trường bò thịt chỉ thực sự thay đổi nếu các “đại gia” bước vào ngành này chủ động tạo ra một quy trình khép kín từ chuồng nuôi cho đến bàn ăn như Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đang làm.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng số bò của VN năm 2007 là khoảng 6,7 triệu con, sang năm 2008 giảm còn 6,3 triệu con, năm 2010 còn 5,9 triệu con và tới nay còn hơn 5 triệu con. Lý do giảm theo cơ quan này là tốc độ cơ giới hóa trong nông nghiệp ngày càng cao, diện tích chăn thả ngày càng hẹp và thời gian tái đàn thấp. Nhưng theo những người trong nghề thì còn thêm 2 lý do quan trọng nữa là giống, thức ăn đều không có, chúng ta chủ yếu nuôi tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp là chính.

Nguyên Khanh

*****

Chiến lược nội hóa bò ngoại – Kỳ 3: ‘Đại gia’ sẽ thay đổi nông nghiệp

TNGil Inbar, người Israel đã từng làm việc ở rất nhiều nơi trên thế giới và hiện đang là Giám đốc dự án của Công ty CP chăn nuôi Gia Lai (Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai) cho biết, HAGL có lợi thế rất lớn để nuôi bò nói chung và bò sữa nói riêng.

Bán phân bò có thể giúp HAGL thu tiền tỉ khi đàn bò phát triển lên 300.000 con vào năm 2017 – Ảnh: Lương Thiện

Nhận xét này đi ngược với luồng ý kiến hiện nay cho rằng VN không có lợi thế để chăn nuôi bò. Vậy VN có lợi thế hay bất lợi để phát triển ngành công nghiệp bò là câu hỏi cần được nghiêm túc xem xét để có chiến lược phát triển đúng đắn.

Quy mô, công nghệ…

Theo Gil Inbar, lợi thế thứ nhất của HAGL là khí hậu. Khí hậu đóng vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi bò sữa bởi tập tính của bò là ưa lạnh, mát. Khi thời tiết mát mẻ bò sẽ cho nhiều sữa hơn. “Đặc biệt, trang trại này được bao quanh bởi núi nên môi trường hết sức trong lành” – Gil nói. Lợi thế thứ hai là đất, vì có quỹ đất lớn nên tập đoàn kiểm soát hoàn toàn về thức ăn thô xanh và chất lượng của thức ăn. Trang trại nuôi bò, trồng cỏ, nhà máy… đều nằm tập trung nên chi phí vận chuyển (chiếm khá lớn trong tổng chi phí của doanh nghiệp) được tiết giảm tối đa. Gil nhận định: “Với lợi thế này, quy mô này và dự kiến còn mở rộng thêm nữa thì khả năng làm chủ trong ngành công nghiệp bò của tập đoàn là rất lớn”.

Hiện tổng đàn bò của HAGL là 120.000 con. Theo kế hoạch đến năm 2017 sẽ tăng lên 300.000 con. Theo tính toán với đàn bò 300.000 con, tập đoàn sẽ thu về từ 900 tấn cho đến 1.500 tấn phân/ngày, tương đương hàng tỉ đồng. Hiện mỗi ngày tập đoàn thu 200 – 300 triệu đồng từ việc bán phân bò.

Còn nhớ, khi lý giải về sự sụt giảm của đàn bò trong nước và chuyện người Việt ăn thịt nhập ngày càng tăng, nhiều ý kiến cho rằng do chúng ta không có lợi thế về đồng cỏ, thức ăn… và buộc phải chấp nhận kết quả này. Điều này không sai, bởi thực tế, nuôi bò ở VN vẫn chủ yếu theo phương thức truyền thống, tận dụng các phụ phẩm thức ăn và đặc biệt quy mô còn nhỏ lẻ, manh mún nên không thể cạnh tranh được. Nhưng “chấp nhận” kết quả này hay không lại là việc khác.

Tiềm năng của thị trường nội cộng với tầm nhìn dài hạn, hàng loạt “đại gia” đã đổ vốn vào nông nghiệp trên khắp các mặt trận, từ nuôi bò, trồng rau, mía đường, cao su, thức ăn gia súc… Theo đánh giá của TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN trong một lần trả lời phỏng vấn trên Báo Thanh Niên, các đại gia chính là người sẽ thay đổi “cuộc chơi trong nông nghiệp”. Bởi những dự án của họ đều làm trên quy mô lớn, họ sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp mà bao nhiêu năm nay Bộ NN-PTNT vẫn loay hoay. Vì sản xuất nông nghiệp mà cứ làm cá thể, làm nhỏ thì không có cách nào chuyển đổi cơ cấu được. Vấn đề quan trọng thứ hai là các tập đoàn này kiểm soát được chất lượng sản phẩm mà người nông dân làm ra. Trước đây, các hộ nông dân làm thì mỗi người một tí, chất lượng không đồng đều nhưng DN đầu tư với quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao, có quản trị thì chất lượng đảm bảo, đồng đều. Ngoài ra, với lợi thế về mối quan hệ, các tập đoàn này có điều kiện tiếp xúc đối tác, tiếp xúc các thị trường bên ngoài, biết cách thức xúc tiến thương mại, định hướng được thị trường nên đầu ra không bấp bênh như số phận nông sản Việt lâu nay.

Con bò hạnh phúc và đáp án lợi thế

Cánh đồng cỏ cao ngang người, xanh mướt ngay dưới cái nắng còn khá gay gắt của trời Tây nguyên những ngày đầu tháng 9 có thể khiến nhiều người kinh ngạc. Nhưng nếu đã chứng kiến những cánh đồng mía, cao su, cọ dừa… của HAGL vẫn tươi tốt ngay trong khí hậu khô rang của Lào, Campuchia vì được tưới nhỏ giọt theo công nghệ Isarel thì chúng ta sẽ hiểu, những khó khăn của ngành nông nghiệp hiện tại có thể khắc phục bằng cơ giới hóa, bằng áp dụng công nghệ cao ở mọi quy trình, mọi khâu đoạn trong nuôi, trồng, chế biến, phân phối sản phẩm.

Israel là minh chứng điển hình nhất. Là đất nước ở Trung Đông, khí hậu vô cùng khắc nghiệt với 70% diện tích lãnh thổ là sa mạc, còn lại là đồi núi đá trọc nhưng lại khiến thế giới phải ngả mũ khâm phục vì có nền nông nghiệp tiên tiến nhất. Chỉ có 1,7% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu trên dưới 3,5 tỉ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Kết quả đó cho thấy, nông nghiệp công nghệ cao có thể tạo ra nguồn lợi nhuận lớn cho DN, giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế và thay đổi số phận của người nông dân.

Tính đến thời điểm hiện tại, các “đại gia” chuyển hướng sang nông nghiệp đều đi theo hướng này. Một ngày sau khi chúng tôi rời Gia Lai, một đoàn chủ lò mổ ở nhiều tỉnh, thành đã lên thăm trang trại của HAGL để tận mắt chứng kiến cơ sở vật chất, công nghệ, nguồn và chất lượng bò, năng lực nuôi và vận chuyển của tập đoàn này. Một chủ lò mổ kể, anh đã từng bầm dập vì nguồn cung bò Úc không ổn định. Bữa đó lò của anh đã nhận đặt hàng của tất cả các đầu mối nhưng đến sát giờ tập kết bò đến lò, đột nhiên được báo bò Úc không về kịp khiến anh trở tay không kịp. Những chuyến viếng thăm thế này để các chủ lò yên tâm về nguồn cung, về chất lượng, về uy tín và để hai bên hiểu, yên tâm trong việc phối hợp với nhà sản xuất. Phát triển hệ thống lò mổ vệ tinh là một trong những mục tiêu quan trọng của HAGL để đáp ứng nhu cầu thịt bò cho thị trường.

Theo nguyên tắc của Úc, con bò từ khi sinh sản cho đến khi hóa kiếp phải được đối xử nhân đạo, không đánh đập, không bỏ đói, không có những việc làm cho nó không hạnh phúc. Ngay cả khi hóa kiếp, phải dùng một loại súng bắn cho con bò chết lâm sàng mà không đau đớn. Giết mổ đúng quy trình, con bò được mổ treo nên vệ sinh an toàn đảm bảo. Hiện HAGL đang liên kết với một số lò mổ mở một trung tâm giết mổ cực lớn ở Đồng Nai. Mô hình này quy tập các lò nhỏ trong khu dân cư, gom lại một chỗ để kiểm soát được hết quy trình, ngăn chặn được việc bơm nước, thực hiện giết mổ nhân đạo để bạn hàng lấy thịt và người tiêu dùng yên tâm.

VN là nước nông nghiệp, các đại gia đang hào hứng với nông nghiệp, nhà nước cũng dành mọi ưu tiên để phát triển nông nghiệp. Chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra lợi thế để có một nền nông nghiệp công nghệ cao như nhiều quốc gia đã thành công.

Nguyên Khanh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s