Thập giá và Lưỡi gươm – Cuộc xuất hành

(Trích từ tác phẩm “Thập giá và Lưỡi gươm”,  linh mục Trần Tam Tỉnh)
Xem Mục lục tác phẩm ở cuối bài
Ấn bản 1978 của nhà xuất bản Trẻ
Chương II

BINH THÁNH GIÁ, NẠN NHÂN CỦA ĐẠO QUÂN THÁNH GIÁ

(tiếp theo)

6 ─ CUỘC XUẤT HÀNH

Sự vui mừng của nhân dân Việt Nam, tiếc thay lại là cái tang của bà con Công giáo vùng Đồng bằng sông Hồng. Bị các linh mục lôi kéo vào cuộc mạo hiểm nhục nhã và bi đát này, họ cảm thấy mình bị bỏ rơi do sự phản bội của quân Pháp. Hốt hoảng, lo âu, thất vọng, họ nguyền rủa những người mới đây là đồng minh của mình. J. Tuócnu (Tournoux) kể lại trong tập «Bí mật quốc gia» rằng một giám mục đã tới bộ Tổng tham mưu vùng mà viên sĩ quan chỉ huy quân viễn chinh như sau:

«Này ông, tôi đã tới văn phòng này năm 1952. Lúc đó ông chưa ở đây, mà một tay trung tá khác ngồi ghế chỉ huy của ông đó. Tôi đã nói với ông ta: Ông hãy hứa với tôi rằng các ông sẽ không bao giờ bỏ chúng tôi». Viên sĩ quan trả lời: «Thưa Đức cha, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ ra đi đâu. Nhưng nay, chính ông là đại diện cho đạo quân của Pháp. Ông đang tự hạ nhục mình đấy».

Hình như cũng chính giám mục ấy đã từng nói với Bảo Đại mấy tháng trước đó: «Trong tình hình hiện nay, chúng tôi cho rằng chỉ mình Ngài là có thể thành công. Vì thế, chúng tôi ủng hộ Ngài với tất cả sự xác tín. Nếu Ngài thất bại thì chúng tôi cũng thất bại thôi».

Vị giám mục này (Phạm Ngọc Chi) sau coi sóc địa phận Đà Nẵng.

Ngày 28 tháng 6 năm 1954, quân đội Pháp thực hiện cuộc hành quân quân sau cùng tại Việt Nam, là rút khỏi mạn Nam đồng bằng sông Hồng mà chẳng gặp vụ đụng độ nào. Phát Diệm và Bùi Chu trở thành mồi ngon cho quân đội nhân dân đang chiến thắng. Nhiều binh lính Bùi Chu quẳng khí giới và trốn theo giám mục Phạm Ngọc Chi cùng với các linh mục và một toán giáo dân khá đông của ông. Giám mục Phát Diệm Lê Hữu Từ thì nhảy lên chiếc canô cuối cùng của quân Pháp đang rời cảng, bỏ quân lính của ông tại chỗ. Một vài tên thấy giám mục mình hành động hèn nhát như thế bèn nổi giận đến nỗi lấy lựu đạn ném theo ông. Các linh mục – đại úy và quân lính các giáo xứ vội vã bỏ chạy, kéo theo gia đình của mình đi di cư.

Không nói về quyền tự do chọn nơi cư trú trong Hiệp định Giơnevơ là lối thoát sau cùng của các linh mục: họ tìm cách chạy trốn, đem theo đoàn chiên, người muốn kẻ không, cũng phải theo. Trong lúc hoảng hốt, họ tìm cách tránh né một mật lệnh của Vatican đưa ra năm 1952 phòng trường hợp chính phủ Hồ Chi Minh chiến thắng. Quả thế, rút kinh nghiệm từ Trung Quốc: các giáo sĩ đã rút chạy theo quân đội Tưởng Giới Thạch, bỏ lại mấy triệu giáo dân không có linh mục, Rôma đã chỉ thị rằng nếu cộng sản thắng thì tất cả những người có trách nhiệm phải ở lại với con chiên, chỉ các chủng viện và ban giám đốc được ra đi mà thôi. Bởi vậy, để biện hộ cho việc chạy trốn, các giám mục và linh mục tìm cách biện minh rằng, họ phải rời bỏ vị trí của họ để đi theo coi sóc con chiên đã trốn khỏi vùng cộng sản, hầu bảo vệ đức tin của mình. Trong cuộc di cư này nhiều chính phủ đã sẳn lòng hỗ trợ, mỗi nước theo cách của mình.

1) Trước Hết.

Quân Pháp không dễ gì nuốt trôi cái nhục bại trận. Qua Hiệp định Giơnevơ, nước Pháp không còn gì để bám tại Bắc Việt; còn tại miền Nam, mặc dầu có cái bộ mặt độc lập bề ngoài (Pháp ưng thuận cho từ năm 1949) , tất cả quyền thực tế vẫn nằm trong tay quân đội Pháp (do tướng Êly chỉ huy) và cái gọi là Quân đội Việt Nam (dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan người Việt dân Tây, như tướng Nguyễn Văn Hinh, hoặc các sĩ quan cũ của đạo quân thuộc địa). Sau khi đã ký Hiệp định Giơnevơ, thủ tường Menđ1ét Phơrăngxơ (Mades France) gửi một bức thư cho phủ thủ tướng Ngô Đình Diệm, đảm bảo với ông rằng nước Pháp sẽ không công nhận một chính quyền nào khác của Việt Nam. Đàng khác, các quyền lợi kinh tế của tư bản Pháp tại Việt Nam còn quá lớn lao, không thể bị hy sinh một hy vọng mong manh của một hiệp nghị kinh tế và thương mại với một chính phủ đã chiến đấu gần 10 năm nay để giành lại quyền độc lập hoàn toàn về chính trị, kinh tế và văn hóa.

Quân Pháp chẳng dấu diếm gì trò chơi của họ… J. Côngpanh (J. Compain), thống sứ Bắc Việt do Cao ủy Pháp tại Đông Dương cắt cử, đã tuyên bố công khai rằng: quân Pháp khi rút lui, sẽ làm cho Hà Nội hoàn toàn trống vắng vì chính việc di tản đi một triệu người. Tướng Cônhi (Cogny) đã ký những sự vụ lệnh, truyền cho tất cả công chức người Việt phải rời Hà Nội đi vào Sài Gòn. Phí tổn vận chuyển vào Nam sẽ do nước Pháp đài thọ hoàn toàn.

2) Để Bốc Dân Di Tản

Nước Pháp xin Hoa Kỳ cung cấp cho máy bay và tàu thủy của hạm đội 7. Người Mỹ, trung thành với chủ thuyết Măc-Actuya và thuyết Đôminô, đã không chịu và Hiệp định Giơnevơ, sau khi đã đặt lên một người cầm đầu chính phủ Sài Gòn theo ý mình là Ngô Đình Diệm, tín đồ công giáo, được Hồng y Xpenman (Spellman) Tổng giám mục Nữu Ước bảo trợ. Sau Hiệp định Giơnevơ, họ lập ra tổ chức Hiệp hội Đông nam Á (OTASE), một liên minh chống Cộng, gồm các cường quốc chính của phương Tây và một số nước chư hầu châu Á. Tại chỗ, quân của Mỹ do trung tá G. Lenden (Landsdale) chỉ huy, nhộn nhịp làm công tác chiến tranh tâm lý chống Bắc Việt Nam, nhất là xúi giục dân chúng bỏ xứ sở đi vào Nam.

Nhờ việc xuất bản «Tài liệu Lầu Năm góc», chúng ta biết được phần nào những mưu chước đó (The Pentagon Papers, tr. 58-64). Trước tiên là chiến dịch tung tin đồn: «chiến dịch thứ nhất nhằm khéo léo tung ra câu chuyện một tiểu đoàn Cộng sản Trung hoa tại Bắc Kỳ đã trả thù một làng Việt, phụ nữ bị hãm hiếm… điều đó làm cho người ta nhớ lại sách nhiễu của quân lính Tưởng Giới Thạch năm 1945 và như vậy làm cho người Việt càng lo sợ về một cuộc chiếm đóng của quân Tàu dưới chế độ Việt minh (…). Mấy tuần sau, người ta thuật lại với nhau câu chuyện giật gân về những điều tàn ác mà các sư đoàn lính Trung Hoa làm tại vùng đất Việt minh. Sau một cuộc điều tra, người ta mới biết rằng đó chỉ là chiến dịch tung tin đã cũ, được tô lại cho ra vẻ Việt Nam thôi.

Chiến tranh tâm lý tìm cách hạ giá uy tín chính phủ Hồ Chí Minh trước khi chính phủ này tiến vào Hà Nội. Một người Việt ái quốc (sic) và một đại úy Mỹ «đã đi rải các tập tài liệu có ký tên Việt minh, chỉ vẽ cho dân chúng phải hành động những gì khi Việt minh chiếm được vùng Hà Nội. Đầu tháng 10, các chỉ dẫn chủ yếu trong đó liên quan tới quyền tư hữu, việc đổi tiền và 3 ngày nghĩ việc dành cho thợ thuyền khi Cộng sản chiếm được chính quyền. Qua hôm sau, số người đăng ký xin vào Nam đã tăng lên gấp ba. Hai ngày sau, tiền Việt minh chỉ còn 50% giá trị». Lợi dụng sự mê tín dân gian, trước dịp Giáng sinh, năm 1955, người Mỹ lại sử dụng một vũ khí khác. «Một người ái quốc mà chúng ta gọi là Triều đình, làm việc tại một sở in lịch bói toán, phổ biến rất rộng rãi, nhất là tại các tỉnh miền Bắc đang còn nằm trong tầm tay của ta. Người ta mời các thầy bói Việt Nam nổi tiếng đến, tiên đoán về những thất bại nghiêm trọng của một số cán bộ Việt minh và về việc thống nhất tại miền Nam». Người ta không biết bộ Lịch đó gây ra những hậu quả to lớn chừng nào.

Cũng có những tin đồn rằng quân Mỹ sẽ ném bom nguyên tử tiêu diệt miền Bắc.

3) Nếu các hoạt động phá hoại của bọn Pháp và Mỹ gây được ảnh hưởng lên toàn thể dân chúng người Việt, thì có những luận điệu tuyên truyền khác đóng một vai trò quyết định hơn nơi các cộng đồng người Công giáo.

Trước tiên, họ sử dụng Đức Mẹ fatima, mà việc tôn sùng mấy năm gần đây đã được tăng cường, qua việc thành lập Đạo binh Đức Mẹ, Đạo binh Xanh, Hiệp hội Chiến sĩ Đức Mẹ. Tất nhiên Đức Mẹ được giao cho chức năng chính trị là để giải thoát những kẻ tôn sùng Ngài. Người ta đồn rằng Đức Mẹ hiện ra ở Ba Làng, Thanh Hóa, để ra lệnh cho giáo dân đi vào Nam, bởi vì Mẹ cũng bỏ miền Bắc Việt Nam. «Việc hiện ra» hình như đã được dàn dựng tài tình bởi một linh mục, ông đã mặc áo Đức Mẹ cho một thiếu niên và đã cho em đứng sau bàn thờ Đức Mẹ Fatima. Trước mấy cây nến lung linh, một vài nhà «đạo đức» coi đó là Đức Mẹ hiện ra, nói với họ một giọng dịu dàng nhưng minh bạch rằng, “phải lìa bỏ” đất Cộng sản bất cứ với giá nào, mà tìm lánh sang vùng đất tự do. Đức Mẹ sắp sửa bỏ miền Bắc. Từ miệng qua tai, tin đồn được loan ra như một vết dầu loang và được thêm thắt bằng những nét chấm phá mới, kèm theo những lời tiên tri mới, hoặc những điềm gở tiên báo tai ương sắp tới. Óc tưởng tượng của dân chúng lại bày ra những chuyện linh mục bị tàn sát, những mật lệnh của Hồ Chí Minh bảo phải tiêu diệt cho hết người Công giáo, hay là bắt họ phải bỏ đạo.

«Chạy trốn để cứu lấy mạng sống và cứu lấy đức tin». «Chúa Kitô đã đi vào Nam». «Đức Mẹ đã rời bỏ Bắc Việt». Những khẩu hiệu phi lý đó làm cho người Kitô hữu phương Tây phải cười, nhưng lại có tác dụng rất lớn nơi một cộng đồng Kitô hữu đã từng bị giam nhốt xưa nay trong sự ngu dốt và trong một kiểu tin đạo được gọi là thời trung cổ. Trong các ốc đảo khép kín đó của giáo dân, những gì gọi là “Bí mật của Đức Mẹ Fatima” đều được coi như là tín điều bắt buộc, trong khi nó chỉ dựa vào một mớ tài tài liệu tuyên truyền nhảm nhí. Nếu những năm 1949-1953, các linh mục đã thể biến giáo dân hiền lành vô tội đó thành những tên sát nhân cuồng nhiệt, nhờ khẩu hiệu «tiêu diệt cộng sản để làm vinh danh Chúa», thì họ cũng chẳng khó khăn gì trong việc tạo ra cuộc «Xuất hành vĩ đại», năm 1943-1955.

Hiển nhiên, người nông dân Việt Nam sống gắn bó với đất đai của tổ tiên, với mái nhà, với mảnh vườn, với nhà thờ họ và làng xóm hơn nông dân các nước khác. Nhưng họ lại dám từ bỏ tất cả mọi sự để bảo vệ đức tin, nhất là khi các cha xứ của họ lại đảm bảo với họ rằng, tại miền Nam Việt Nam có một vị thủ tướng Công giáo đang chờ đón họ và sẽ cấp cho họ những vùng đất phì nhiêu để làm ăn. Và khối dân chúng đó một khi đã bước chân ra đi, thì không gì có thể ngăn họ lại được. Thế là với những áp lực đủ kiểu cách, nhờ một lối tuyên truyền xảo trá, tạo ra một cơn hốt hoảng tinh thần nơi dân chúng Công giáo, người ta đã thành công đưa vào Nam hàng trăm ngàn nông dân, bởi vì khối di cư Công giáo sẽ là một lực lượng chính trị to lớn cho chính quyền Ngô Đình Diệm.

Ở đây, chúng tôi không muốn nói về một hạng người di cư khác, chủ yếu gồm những người thành thị, Công giáo hay không, đã từng sống dựa vào chính quyền thực dân hay đạo quân chiếm đóng và đã lợi dụng chiến tranh để làm giàu. Tự nhiên họ phải đi theo quan thầy vào Nam cư ngụ. Nhưng cuộc xuất hành thê thảm của nông dân Công giáo không thể nào xảy ra, nếu không có sự phối hợp với những hành động vừa kể trên.

Giêra Tôn-gat (Gerad Tongas), tác giả cuốn «Tôi đã từng sống trong hỏa ngục cộng sản Bắc Việt và tôi đã chọn tự do», với cái tựa đề đó đã đủ cho thấy ông ta không thể là một kẻ thân Cộng, đã kể lại bức tranh thê thảm ông chứng kiến trong những ngày sau Hiệp Định Giơnevơ: «Điều khốn khổ hơn là những người nghèo – những người không có tiền của gì phải lo cứu cả – mà cũng trở thành nạn nhân và là nạn nhân khốn đốn hơn nhiều của một trò tuyên truyền bỉ ổi, là lại nhân danh tôn giáo. Có những cha xứ qua sức cuồng tín, là loại chính trị gia hoạt đầu, hơn là người của Giáo hội và của đạo đức, đưa mặt ra làm những tay tuyên truyền cuồng nhiệt và bẩn thỉu, dùng những lối xảo trá mà gieo rắc sự hốt hoảng tại các vùng nông thôn. Họ như nổi cơn sốt lên để hành hạ linh hồn và lương dân, lợi dụng tính nhẹ dạ cả tín khôn lường của giáo dân, cũng như sự ngu dốt kinh khủng của con chiên. Một khi bầu không khí «mạnh ai nấy chạy» đã tạo xong, từng toán xe tải nhà binh tiến vào các làng để bốc đi thật nhanh, kể cả dùng bạo lực cưỡng ép tất cả dân chúng. Có thể nói không ngoa rằng, đạo quân viễn chinh đang sùng máu, muốn thực hiện cuộc hành quân lớn này – dĩ nhiên luôn luôn dưới danh nghĩa nổi tiếng là «bình định» – trong những vùng đất chính bọn chúng sắp phải rời bỏ, thể theo Hiệp định Giơnevơ. Các toán xe cam nhông đó rảo qua các làng Công giáo, vội vã dùng mọi cach bốc đi hàng ngàn con người khốn khổ, chỉ cho họ đủ thời gian lượm theo vài bộ quần áo và đôi lúc, một vài bao gạo, rồi chở họ tới hai điểm tập trung, Hải Phòng và Hà Nội, mà tôi đã có thể ghi nhận các sự kiện, để đưa ra một chứng từ nghiệm trọng không một ai có thể bác lại:

«Ngày 29 tháng 7 năm 1954, vào quãng 7 giờ tối, vợ chồng tôi đang đi về nhà, bỗng có tiếng ồn ào phát ra từ bóng tối khiến chúng tôi phải đễ ý. Tiến gần chỗ bóng tối, chúng tôi trông thấy một đám đông người lạ nằm đầy lề đường khu phố chúng tôi. Ánh sáng leo lét từ một vài bóng điện chao đảo trước gió cho chúng tôi phát hiện ra một thứ «trò chơi cúp cọp», phụ nữ, người già, trẻ con kẻ chồm hổm, người nằm duỗi dài giữa một đống không biết bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh, nào xắc nào ba-lô đầy dẫy, rồi kẻ đi người lại trong một cảnh hổn náo không ngừng.

«Họ nằm đó hàng ngàn người. Có những người chúng tôi làm quen đã giải thích rằng vào giữa buổi chiều, các toán xe cam nhông của quân đội Pháp đã đổ đám người nông dân này xuống đó, họ bị bốc từ làng tới đây mà chẳng ăn uống gì trước khi ra đi. Và những người được ưu đãi đã đi từ 8 giờ sáng đấy! Vì phải ra đi vội vã theo lệnh bảo lên xe, chẳng nói chẳng rằng kiểu nhà binh (bọn lính đã lao vào nhà họ), rồi có đám đươc cha xứ đến an ủi, khuyên bảo làm họ yên tâm, họ đã trẩy đi với một ít quần áo và đồ dùng kịp thời lấy đem theo, với ít gạo cho vào bao rồi gánh đi.

«Sau một ít phút giải thích, trong lúc chúng tôi nhìn vào cảnh tượng thê lương đó, không cầm nổi nước mắt, họng tôi nghẹn ngào, trí óc ghi sâu bức tranh thảm cảnh di cư đó của những con người vô tội bị giật lôi ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, rồi bốc lên xe, chở đi và bị đối xử chẳng khác nào những súc vật người ta chỡ tới lò mổ!

Trừ một số trường hợp, dân chúng địa phương cứ tỉnh bơ trước các nỗi khổ đau của những đồng bào thiếu thốn cơ cực này, chẳng lạ gì điều đó. Bởi vì chính chúng tôi cũng đã chứng kiến thực trạng như vậy ở những nơi khác vào những giây phút tương tự. Chúng tôi thấy cần nói thêm về tâm trạng quần chúng lúc đó tại Hà Nội; một bầu không khí rất nặng nề bao trùm lên mọi sự, và một luồng gió kinh hoàng thổi khắp nơi, do các cuộc ra đi tôi đã kể trên và được bọn tuyên truyền loan tin nhảm nuôi dưỡng rất cẩn thận. Tình hình thật ghê tởm đến nỗi, những kẻ đi đã phải khen chúng tôi dám ở lại, trước khi họ hở cho chúng tôi biết rằng họ là người ra đi; còn những người ở lại thì nín bặt không dám nói ra, vì chắc là sợ bị trả thù bởi những tay bạo chúa tổ chức di cư».

Những đoạn trích trên đây miễn khỏi phải chú thích thêm.

Chẳng bao lâu, một Ủy ban mẫu quốc lo cho cuộc di cư được thành lập, với sự giúp đỡ của Mỹ. Tiền «viện trợ» này đã được tính trước từ lâu, cả trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo một bức điện do hãng thông tấn AFP đánh đi ngày 30-6-1954, thì «trong một cuộc họp báo. Tổng thống Aixơnhao đã cho biết rằng, nếu có hiệp định đình chiến thì Mỹ sẽ tổ chức một cuộc di tản để đưa dân miền Bắc vào Nam». Vì mục đích của cuộc di cư trước tiên là chính trị, nhằm gây ra những nỗi bất bình của dân chúng đối với chính phủ Hồ Chí Minh, quân Mỹ đã tung ra hoạt động vể hai mặt; một mặt, tổ chức phá hoại có hệ thống tại Hà Nội trước khi quân lính Pháp rút đi, chẳng hạn lảm hỏng kho xe buýt, phá hư các máy móc và đặt mìn đánh sập Chùa Một Cột, ngôi chùa đầy giá trị lịch sử và tôn giáo có từ hàng trăm năm. Mặt khác, «vì những lý do nhân đạo», cung cấp hàng chục triệu đôla và cho 41 tàu của hạm đội 7 phục vụ cho việc di cư.

tauhamomTrước ngày 12-10-1954, ngày trao chuyển Hà Nội cho chính phù Dân chủ, linh mục Mai Ngoc Khuê (sau này làm CIA và bị thanh toán bí mật tháng 3-1970 tại vùng Sài Gòn) đại diện phía Công giáo trong Ủy ban di cư, đã bí mật phái về vùng Việt minh những nhân viên tuyên truyền nhằm đem hết sạch dân Phát Diệm, Bùi Chu, Thái Bình đi cư. Một số tay trong bọn này đã bị bắt với vụ lệnh, ghi tất cả một kế hoạch đã được vạch ra rất tinh vi.

Dư luận quốc tế sau đó đã được báo động bởi các biến cố bi thảm xảy ra tại các miền duyên hải của Đồng bằng sông Hồng. Báo chí ngày 25-10-1954, viết như sau: «Cuộc xuất hành bằng đường biển, với những người di cư, phần đông phương tiện khác rất yếu ớt, những người di cư, phần đông là Công giáo từ các vùng Bùi Chu, Phát Diệm hiện do Việt minh kiểm soát, trong vòng 24 giờ qua đã lên tới con số khổng lồ, khiến bộ Tư lệnh hải quân Pháp đã quyết định vớt họ. Đêm qua và sáng nay, các đơn vị hải quân Pháp đã chở tới Hải Phòng gần 2000 người di cư, họ vớt được ngoài khơi hải phận Việt minh, ở lối 100km mạng Nam Hải Phòng.

«Theo lời những người di cư, hàng ngàn người khác thuộc địa phận Bùi Chu và Phát Diệm đang tìm cách chạy trốn, có khi phải trả 5000 quan Pháp cho một chỗ trên các thứ thuyền hoặc bè. Nhiều thuyền đã bị lật và đắm luôn trong các cơn bão đang nỗi dữ mấy ngày nay. Như vậy, hàng trăm người di cư đã bị chết đuối trong nạn đó».

Ngày 26-10-2954 báo chí đưa tin: 15.000 người Công giáo bỏ trốn bằng ghe thuyền hoặc bè, để đi tìm tự do, từ các địa phận Bùi Chu và Phát Diệm, đã tới được Hải Phòng.

Người ta còn nói tới những vụ đụng độ giữa dân di tản với đơn vị bộ đội địa phương của Việt Minh đang tìm cách ngăn cản không cho dân chúng ra đi.

Ngày 22-11-1954, ông Đơxe (Desai, người Ấn), Ủy viên ban Quốc tế Kiểm soát đình chiến, tuyên bố về các công tác đã thực hiện như sau: «Đã có thỏa hiệp với Việt Minh, nhằm đảm bảo sự tự do cho những người muốn rời bỏ Đồng bằng sông Hồng mà đi xuống miền Nam. Cho tới ngày 18 tháng 11 năm 1954, có 5.230 giấy phép đã được cấp phát».

Cuộc xuất hành từ đây càng lan rộng một cách đáng lo và bi đát. Nhằm nhấn mạnh thái độ tàn nhẫn của cộng sản, thông tấn xã Fides loan tin ngày 25 tháng 11 rằng ‘Có 12 vị thừa sai nước ngoài đã chết tại các trại Việt Minh trong chiến tranh Đông Dương. Người ta tin rằng cón lối 100 linh mục Việt Nam đang bị giam trong tù». Để tiếp lời các bản tin đó, thường bị những quan sát viên khách quan bác bỏ, đài Vatican và báo chí Công giáo loan thành cả những chiến dịch tuyên truyền, cho rằng «nhiều vụ tàn sát tập thể người công giáo» đã xảy ra. Đài và các báo đó còn sử dụng con bài «di cư» như con ngựa đầu đàn để biện minh cho việc Nam Việt và người Mỹ không chịu thi hành nghiêm túc Hiệp định Giơnevơ.

«Họ và cùng với họ là cuộc di cư có hình loại và tầm cở độc đáo duy nhất, tiêu biểu cho cuộc chiến thắng cộng sản quốc tế to lớn nhất và có thể là chiền thắng số một kể từ 30 năm nay. Một chiến thắng hòa bình của những nam nữ đã dám phủi tay mà nói tiếng KHÔNG và với nỗi đau thương hiển hách, họ dám chịu mất mọi sự ở nơi mà nhiểu kẻ khác nghĩ là nên nói rằng có thể là phải, có thể là không». (G. Naidenoff, V. 1955).

«Chúng ta hãy luôn nhớ đến món nợ tri ân vô hạn chúng ta mắc với những anh chị em di cư Việt Nam . Chứng từ họ đưa ra cho Giáo hội là thuộc loại to lớn nhất và từ sự vinh hiển như triều thiên của họ trước mặt Thiên Chúa và người ta, một vài tia chiếu dọi xuống trên các vị thừa sai suốt bao nhiêu thế kỷ đã từng giúp cho họ được trở nên như ngày nay» (Queguiner, trong Bản tin Thừa sai Pari).

Báo chí cánh hữu cũng không giữ im lặng. H. Amuru (Amouroux) đã viết trong số báo Aurore ra ngày 4-4-1955 sau nhiều tuần lễ điều tra rằng: «Trong suốt cuộc chiến vừa qua, chúng ta đã nói rằng mính bảo vệ sự tự do và một số giá trị vật chất và tinh thần, trong đó phải kễ nền văn minh Thiên Chúa giáo. Đó là những kiểu khẩu hiệu. Và hôm nay, đây là chứng cớ rằng những điều khẳng định đó chẳng phài chỉ lả khẩu hiệu suông, mà nó hợp với một thực tế rất đáng xúc động, rằng cái dân tộc ruộng nước kia, xưa nay chúng ta chưa bao giờ hiểu họ và chúng ta đã từng mang cả một bộ máy chiến tranh đến chà đi xát lại trên họ, thì hôm nay họ cho biết rằng, họ hiễu được thế nào là tự do, dân chủ…

«Chúng ta, thế giới tự do và không có nước Pháp, chúng ta có thể nào bỏ rơi những con người đó, mặc cho sự trả thù, đem quẳng họ lại vào bàn tay Cộng sản và làm cho cuộc bỏ trốn kỳ diệu của họ năm 1954 hóa ra vô ích sao? ».

Lời kêu gọi «cảm động đó lại được báo chí Mỹ, đầu tầu của «thế giới tự do» lấy lại, rồi đi dìm nhân dân Việt Nam lẩn nữa vào trong một biển máu.

 

Ấn bản 1978 của nhà xuất bản Trẻ

Mục Lục

LỜI NÓI ĐẦU

DẪN NHẬP

CHƯƠNG I: HƯƠNG LIỆU VÀ CÁC LINH HỒN

1. HƯƠNG LIỆU VÀ ĐẠI BÁC
2. NHỮNG VIỆC CHÚA LÀM QUA BÀN TAY NGƯỜI PHÁP
3. NHỮNG VIỄN ẢNH
4. GIÁM MỤC BÁ ĐA LỘC
5. THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GƯƠM
6. GIÁM MỤC PUY-GI-NIÊ
7. GIÁO HỘI DƯỚI CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA
8. CHỦ NGHĨA PHONG KIẾN TRONG ĐẠO
9. TRONG TRẬN GIÓ XOÁY NHỮNG NĂM 30
10. THẬP GIÁ ĐƯỢC GIẢI PHÓNG

CHƯƠNG II: BINH THÁNH GIÁ, NẠN NHÂN CỦA ĐẠO QUÂN THÁNH GIÁ

1. THẬP GIÁ ĐI CHUNG VỚI NGÔI SAO,
HAY CHỐNG LẠI NGÔI SAO?
2. HỒ CHÍ MINH VÀ LÊ HỮU TỪ
3. THẬP GIÁ BIẾN THÀNH ĐẠI BÁC
4. VÀ CÁI BÃY TAI HẠI BIẾT BAO!
5. CUỘC THÁNH CHIẾN
6. CUỘC XUẤT HÀNH
7. NGƯỜI CÔNG GIÁO, TRỌNG TÂM CỦA CUỘC DI CƯ

CHƯƠNG III: GIÁO HỘI TRONG CƠN BÃO BÙNG

1. GIÁO HỘI CHIẾN THẮNG
2. HOA SEN ĐẪM MÁU
3. AI LÀ NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM.
4. CÁC TƯỚNG TÁ MÚA MAY QUAY CUỒNG
5. ĐỐI DIỆN VỚI CHIẾN TRANH CỦA MỸ
6. GIÁO HỘI ĐỐI DIỆN VỚI VẤN ĐỀ HÒA BÌNH
7. NỖI HĂM DỌA CỦA HÒA BÌNH

CHƯƠNG IV: GIÁO HỘI TRONG KHÁNG CHIẾN

1. NGƯỜI CÔNG GIÁO YÊU NƯỚC VÀ NHỮNG NGƯỜI CÁCH MẠNG
2. NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÁNG CHIẾN Ở NAM BỘ
3. CÔNG GIÁO KHÁNG CHIẾN BẮC BỘ
4. CỤ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI GIÁO HỘI
5. NHỮNG CUỘC ĐỤNG ĐỘ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
6. TÀI SẢN CỦA GIÁO HỘI
7. CÁC CỐ THỪA SAI
8. SỰ ĐÁP TRẢ CỦA GIÁO HỘI TRƯỚC BÀN TAY ĐƯA RA
9. NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN THỨ HAI
10. THÁNH LỄ VÀ RƯỚC KIỆU
11. VIỆC CẬP NHẬT HÓA 
XUYÊN QUA CUỘC GIẢI PHÓNG
NHỮNG CUỘC RA ĐI
VỤ GIÁM MỤC NGUYỄN VĂN THUẬN
CHỐNG ĐỐI
CỘNG TÁC
DẤN THÂN
NHỮNG TÍN HỮU CƠ SỞ
KẾT LUẬN
HƯỚNG NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

PHỤ LỤC :

– PHONG THÁNH
– TRỜI MỚI ĐẤT MỚI

(HẾT)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s