Hệ thống Giáo dục tại Việt Nam (P2)

English: EDUCATION IN VIETNAM

Bài báo này mô tả những xu hướng và phát triển hiện nay trong nền giáo dục ở Việt Nam, sự di chuyển của sinh viên và cung cấp một cái nhìn tổng quát về hệ thống giáo dục Việt Nam.

Hệ thống Giáo dục tại Việt Nam (P1)

TÓM TẮT: HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM

QUẢN TRỊ CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC

Cho đến những năm 1980, hệ thống giáo dục Việt Nam được xây dựng theo hệ thống của Liên bang Xô Viết. Chính sách tự do hoá nền kinh tế được ban hành sau Cải cách đổi mới năm 1986 dẫn đến những thay đổi có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều ngành khác nhau, bao gồm cả hệ thống giáo dục, nhưng đất nước vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN). Do đó, rất nhiều phương diện của hệ thống giáo dục được tập trung cao và chỉ đạo bởi Bộ giáo dục và đào tạo tại Hà Nội.

Bộ giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm cho hầu hết các phương diện của việc giáo dục và thực hiện chính sách giáo dục. Cho đến gần đây, Bộ đã áp dụng việc kiểm soát sâu rộng đối với các tổ chức giáo dục đại học; một thực tế được đề cập như một sự cản trở việc hiện đại hóa giáo dục ở Việt Nam. Bộ giáo dục và đào tạo quy định chương trình giảng dạy, sách giáo khoa, hướng dẫn tuyến sinh và nhân sự một cách cứng nhắc. Ví dụ chương trình giảng dạy tiếp tục bắt buộc bao gồm nội dung chủ nghĩa Mác-Lênin, được cho là có phần rất ít liên quan thực tiễn đến thị trường lao động.

Tuy nhiên, chính phủ những năm gần đây đã cho thu hẹp nhiều quy định khác nhau và lên kế hoạch tăng cường việc tự quản của các tổ chức giáo dục đại học(HEIs) “ Liên quan đến việc đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức, nhân viên, tài chính và hợp tác quốc tế”. Gần đây chính phủ cho phép HEIs tăng quyền tự quản để quyết định chương trình giảng dạy và chỉ tiêu tuyển sinh của các trường. Bất chấp những thay đổi này, các nhà quan sát đã lưu ý rằng cho đến bây giờ hệ thống vẫn tiếp tục được đặc trưng bởi tính quan liêu ở mức độ caovà khuynh hướng giữ lại chương trình giảng dạy của chủ nghĩa xã hội, ngay cả ở các trường Đại học Quốc Gia được ưu tiên ở Việt Nam, nơi mà về mặt kỹ thuật đã có sự tự chủ cao hơn các tổ chức khác kể từ những khởi đầu từ năm 1993.

Ngoài các trường đại học được Bộ GD & ĐT giám sát, một số lượng lớn các tổ chức công lập nằm dưới tầm ngắm của những cơ quan chính phủ khác, như là ủy ban nhân dân và một loạt bộ ngành khác nhau giám sát những tổ chức chuyên môn. Từ năm 1998, phần lớn giáo dục hướng nghiệp và đào tạo được giám sát bởi Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội ( Bộ LĐ, TB & XH).

QUỸ GIÁO DỤC

Việt Nam đã tăng mạnh chi tiêu giáo dục trong những năm gần đây. Chi tiêu giáo dục như phần trăm của GDP đã tăng từ 3.57% năm 2000 lên đến 5.18% năm 2016, và kể từ đó duy trì ở mức 5%, đạt đến 5.7% năm 2013.

Chi tiêu cho giáo dục trong phần trăm ngân sách chính phủ cũng đã tăng lên. Giáo dục là khoản chi tiêu lớn nhất trong ngân sách và chiếm 20% tổng chi tiêu chính phủ năm 2015 (10 tỷ USD), con số cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu 14.1% năm 2013.

Dù việc tài trợ tăng lên, việc học ở trường công lập trên danh nghĩa Xã hội chủ nghĩa Việt nam không hoàn toàn miễn phí và đang ngày càng trở nên đắt đỏ. Mặc dù giáo dục tiểu học được chính thức cung cấp miễn phí và chính phủ chịu hầu hết các loại phí, các trường tiểu học thu nhiều loại phí bổ sung khác nhau, bao gồm đủ loại từ thuế bảo trì cho đến phí mua sách và đồng phục. Trong khi đó, các trường trung học công lập được cho phép thu một khoản học phí nhỏ. Ngoài ra, đó không có gì lạ đối với việc phụ huynh khi trả thêm tiền cho giáo viên với những bài giảng riêng để bảo đảm việc học tập thành công của con họ – một thực tế tham nhũng đã làm tăng giá cả và sự bất bình đẳng trong giáo dục công lập.

Ở giáo dục đại học, học phí trung bình từ 262 USD đến 385 USD mỗi năm ( trong năm 2015/16) nhưng chắc chắn sẽ tăng lên. Một vài trường đại học công lập đã được miễn giới hạn học phí. Các trường đại học top đầu như Đại học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh hiện tại đang thu học phí hàng năm 1000 USD cho chương trình cử nhân.

Để giảm bớt gánh nặng tài chính nhà nước và hiện đại hóa hệ thống giáo dục, chính phủ cũng đang tìm kiếm cách tiến tới tư nhân hóa giáo dục, một mục tiêu có thể làm tăng chi phí cho học sinh. Mục đích là tăng chia sẻ từ các nguồn tài trợ tư nhân ở các trường đại học công lập và đảm bảo tăng 40% sinh viên sẽ đăng ký ở các cơ sở tư thục cho đến năm 2020.

TUYỂN SINH VÀ TIẾN BỘ TRONG GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC

Theo tổng cục thống kê Việt Nam, khoảng 7.8 triệu học sinh tiểu học, 5.14 triệu học sinh THCS, và 2.4 triệu học sinh THPT đã đăng ký vào 15,254 trường tiểu học, 10,321 trường THCS, 2,399 trường THPT, và 986 trường học hỗn hợp trên khắp Việt Nam năm 2015/16.

Tăng tài trợ cho giáo dục và những biện pháp cải cách khác đã dẫn đến  những cải thiện to lớn trong tỷ lệ tuyển sinh và chất lượng giáo dục. Ví dụ ở cấp tiểu học, nhiều tiến bộ đã thu hẹp khoảng cách giữa trung tâm thành thị và khu vực nông thôn – tỷ lệ học tiểu học ở khu vực nông thôn như Tây Nguyên và đồng bằng Mê Kông tăng từ 58% và 80% năm 2000/01 đến 99% và 94% năm 2012/2013. Tỷ lệ học lại và bỏ học giảm đáng kể trên khắp cả nước.

Tỷ lệ giáo dục THCS tăng từ 69.5% năm 2000/01 lên đến 92% năm 2012/13 toàn quốc, mặc dù có sự chênh lệch kéo dài giữa vùng nông thôn và thành phố ở cấp trung học. Các thành tựu khác bao gồm sự cải thiện đáng kể tỷ lệ học sinh – giáo viên và tăng tỷ lệ biết chữ của thanh niên từ 93% năm 2002 lên 97% năm 2012. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông đứng tại mức 95% năm 2015/16.

Nhấn mạnh những cải thiện gần đây trong chất lượng giáo dục ở bậc trung học, Việt Nam xếp thứ 17 trong số 65 quốc gia, dẫn đầu là các nước phương tây như Úc, Hoa Kì hoặc Pháp, khi lần đầu tiên tham gia nghiên cứu trong Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) * do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế( OECD) thực hiện năm 2012. Một số nhà quan sát đã tranh luận rằng những kết quả tốt đáng chú ý không thực sự phản ánh chất lượng giáo dục ở Việt nam mà có thể kết quả của bài kiểm tra chỉ nhấn mạnh vào toán học và định dạng tiêu chuẩn hóa kiểm tra của nó. Một số khác cho rằng thành công của Việt Nam là dựa vào thiết kế ngoại khóa thông minh và nên phục vụ như một mô hình cho các nước Đông Nam Á xếp hạng thấp hơn như Malaysia, Indonesia và Thái Lan.

* tham khảo Học sinh Việt Nam đánh bại học sinh Mỹ về điểm số thi, nhưng các nhà giáo dục Việt Nam chế giễu các bài thi

GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Tiểu học ở Việt Nam bắt đầu từ 6 tuổi và kéo dài 5 năm (lớp 1-5, cho đến 11 tuổi). Các chủ đề được dạy bao gồm tiếng Việt, toán học, giáo dục công dân, khoa học và xã hội, mỹ thuật, thể dục cũng như lịch sử và địa lý ở lớp 4 và lớp 5. Năm 2017, Bộ GD và ĐT thông báo rằng sẽ giới thiệu đào tạo ngoại ngữ và tin học bắt đầu từ lớp 3 và đồng thời cũng dạy các ngôn ngữ thiểu số như môn học tự chọn.

Chương trình giáo dục nhấn mạnh học thuộc lòng và ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Việt. Sách giáo khoa học tập tăng lên ở các lớp cao hơn. Việc lên lớp dựa trên các bài kiểm tra liên tiếp và bài kiểm tra cuối năm. Bài kiểm tra đầu ra được yêu cầu sử dụng  cho đến những năm 2000 nhưng đã được bãi bỏ.

Cho đến năm 2005, giáo dục bắt buộc ở Việt Nam kết thúc với việc hoàn thành giáo dục tiểu học ở tuổi 11( lớp 5) – một độ tuổi sớm theo tiêu chuẩn quốc tế. Luật giáo dục ở Việt Nam năm 2005 kể từ khi quy định phổ cập và giáo dục bắt buộc cho đến lớp 9, nhưng mục tiêu đó vẫn chưa được hoàn thành. Các cải cách hiện nay đang tìm cách phổ cập giáo dục trung học cho đến cuối thập kỷ và triển khai thực hiện giáo dục bắt buộc cho đến 15 tuổi( lớp 9) trên khắp toàn quốc, bắt đầu từ năm 2020.

GIÁO DỤC TRUNG HỌC

Sau khi hoàn thành lớp 5, học sinh có thể tiếp tục học tập trong chu kì 4 năm giáo dục trung học cơ sở hoặc đăng ký chương trình đào tạo dạy nghề ngắn hạn.

Xét tuyển vào trung học cơ sở được mở ra cho tất cả các học sinh đã hoàn thành giáo dục tiểu học. Trung học kéo dài từ lớp 6 đến lớp 9 và kết thúc với tấm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở.

Chương trình giảng dạy bao gồm tiếng Việt, ngoại ngữ, toán học, các môn khoa học tự nhiên, GDCD, lịch sử, địa lý, công nghệ, tin học, mỹ thuật và thể dục. Ngoại ngữ thứ hai và tiếng dân tộc thiểu số được đưa ra như những môn tự chọn. Học sinh tham gia từ 30 lớp 45 phút mỗi tuần và việc lên lớp dựa trên bài đánh giá của giáo viên và những bài kiểm tra. Một bài kiểm tra tốt nghiệp trung cấp cuối cùng được sử dụng để hoàn thiện chương trình nhưng từ năm 2006 đã không còn dùng đến.

PHỔ THÔNG

Học lên giáo dục phổ thông không bắt buộc, và thi tyển là cạnh tranh và dựa trên bài kiểm tra.

Bộ GD và ĐT những năm gần đây thực hiện các biện pháp khác nhau để bài kiểm tra tốt nghiệp và kiểm tra đầu vào có hiệu quả hơn và hệ thống hiện đang trải qua những thay đổi thường xuyên. Ví dụ như các bài kiểm tra bổ sung chủ động để đạt được ưu tiên tuyển sinh tại các trường THCS đã bị đình chỉ vào năm 2016.

Tuy nhiên, việc vào học tại các trường giáo dục trung học cơ sở công lập phụ thuộc vào bài kiểm tra đầu vào nghiêm ngặt. Sự cạnh tranh đặc biệt dữ dội đối với các những ngôi trường trung học phổ thông uy tín, dành cho học sinh năng khiếu và chỉ nhận những học sinh giỏi nhất. Những tổ chức có sự chọn lọc cao khác đưa ra những chương trình tập trung vào những môn học như ngoại ngữ.

Những học sinh không ghi được điểm đủ cao trong các bài kiểm tra đầu vào của các trường THPT thông thường sẽ tìm kiếm cơ hội vào các chương trình trung cấp đào tạo nghề ( được thảo luận dưới đây) hoặc phải học ở những trường tư đắt đỏ.

Giáo dục trung học phổ thông bao gồm lớp  10 đến lớp 12 (15-18 tuổi) và kết thúc với Bằng Tốt Nghiệp THPT. Các chương trình thường được cung cấp theo ba dòng hoặc nhóm môn học( công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và ngoại ngữ).

Tất cả các yêu cầu của khóa học trong các môn học chuyên ngành được quy định bởi Bộ GD và ĐT và liên quan đến tổng số 6 giờ mỗi tuần về toán học, vật lý, hóa học và sinh học trong khối khoa học tự nhiên; và văn học, lịch sử, địa lý và ngoại ngữ trong khối khoa học xã hội và ngoại ngữ. Tuy nhiên, những cải cách hiện nay được thông báo năm 2017, sẽ cho phép học sinh tự chọn với những môn học trọng tâm hiện chiếm 1/3 chương trình giảng dạy. Vượt ra khỏi những chương trình giảng dạy trọng tâm, tất cả các học sinh chọn một chương trình giảng dạy cốt lõi bao gồm các môn học khác nhau từ tiếng Việt cho tới ngoại ngữ ( hầu hết là tiếng Anh), toán học, thể chất và giáo dục quốc phòng.

Học sinh trung học tham gia lớp học kéo dài từ 30 – 45 phút mỗi tuần. Việc lên lớp dựa trên đánh giá của giáo viên và bài kiểm tra cuối năm. Những học sinh trượt những bài kiểm tra hằng năm 2 lần sẽ phải học lại. Tốt nghiệp trung học phổ thông yêu cầu vượt qua bài thi tốt nghiệp nghiêm ngặt, bài thi được sử dụng cả cho việc xét tuyển vào đại học.

(xem phần tuyển sinh đại học dưới đây để biết thêm chi tiết)

THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TRUNG HỌC

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯỚNG NGHIỆP

Một vài lựa chọn cho giáo dục hướng nghiệp và đào tạo tồn tại ở VN. Cả Bộ GD và ĐT và Bộ LĐTBXH đều giám sát các chương trình giáo dục đào tạo và dạy nghề từ chương trình giáo dục thường xuyên ngắn hạn tới chương trình đào tạo chính quy ở cả cấp trung học và sau trung học. Chương trình chứng chỉ nghề ngắn hạn được cung cấp tại các trung tâm đào tạo nghề được mở cho học sinh tốt nghiệp tiểu học, trong khi các chương trình dài hạn( lên đến 3 năm) được cung cấp ở các trường dạy nghề thường yêu cầu ít nhất phải có bằng trung học cơ sở để nhận vào học.

Những chương trình dài hạn đã cấp bằng tốt nghiệp nghề- một chứng chỉ đủ tiêu chuẩn để xin việc ở một số ngành nghề.

Học sinh sau tốt nghiệp trung học cũng có thể đăng ký vào các chương trình trung học dạy nghề/kỹ thuật định hướng học thuật hơn, được gọi là trung học chuyên nghiệp hoặc giáo dục trung cấp chuyên nghiệp, kết hợp đào tạo nghề với giáo dục phổ thông. Những chương trình này cấp Bằng Tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, kéo dài từ 3-4 năm và thường yêu cầu vượt qua kỳ thi tuyển đầu vào.

Vượt qua kỳ thi tốt nghiệp THPT sau khi hoàn thành chương trình cho phép tham gia giáo dục đại học, nhưng hầu hết học sinh học nghề đều tiếp tục học cao đẳng. Những học sinh đã có Bằng Tốt nghiệp thpt có thể lấy được Bằng Trung cấp chuyên nghiệp trong chương trình rút ngắn từ 1-2 năm.[3]

Ở cấp độ sau trung học, chương trình đào tạo và dạy nghề thường được cung cấp ở các trường cao đẳng, dù chương trình trình độ cao đẳng cũng đang được cung cấp bởi nhiều trường đại học. Nhiều chương trình kéo dài từ 2-3.5 năm và cấp Bằng Cử nhân Cao đẳng hoặc Bằng Tốt nghiệp Cao đẳng. Các chương trình hướng đến việc làm và một thành phần đào tạo thực tế lên đến 30%. Lĩnh vực học tập bao gồm Quản trị kinh doanh, Ngân hàng, Kế toán, Du lịch, Công nghệ thông tin hoặc chăm sóc sức khỏe. Tuyển sinh dựa vào kỳ thi tốt nghiệp THPT.

NHU CẦU CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO VÀ DẠY NGHỀ (VET)

Việt Nam đang có nhu cầu cấp thiết lao động lành nghề – một sự thiếu hụt được thúc đẩy bởi nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng và sự hiện diện ngày càng nhiều của các công ty nước ngoài. Thành phần lực lượng lao động Việt Nam đã thay đổi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Việc làm trong ngành nông nghiệp giảm từ 69% năm 1997 xuống còn 48% năm 2011 với khoảng 1 triệu công nhân chuyển từ ngành nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ hằng năm vào năm 2014. Tuy nhiên, đa số lực lượng lao động thành thị hiện nay đang thiếu hụt kỹ năng và kỹ thuật chuyên môn trong nhiều lĩnh vực, bao gồm đủ ngành từ công nghệ thông tin và truyền thông cho đến ngân hàng, kế toán, du lịch và chăm sóc sức khỏe. Toàn bộ 83% lực lượng lao động Việt Nam vẫn chưa có kinh nghiệm năm 2012 và năng suất lao động của đất nước     (một chỉ số phát triển nguồn lực con người) là 37% ở Thái Lan và 23.3% ở Malaysia năm 2010 theo OECD.

Do đó Chính phủ Việt Nam ưu tiên hàng đầu việc phát triển nguồn lực con người và tìm cách bắt kịp với các nước khác trong cộng đồng ASEAN. Điều đó đã tăng ngân sách cho VET và thúc đẩy thành lập các tổ chức đào tạo nghề, số lượng các tổ chức ngày càng được mở rộng lên đến 165  trường Cao đẳng nghề, 301 trường trung cấp nghề, 874 trung tâm đào tạo nghề và rất nhiều chương trình đào tạo khác dưới sự giám sát của Bộ LĐ, TB và XH năm 2014.

Chính phủ cũng đã tìm kiếm trợ giúp từ nhiều nước và các tổ chức khác như Australia, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu và Ngân hàng phát triển Châu Á trong việc xây dựng một hệ thống VET hiện đại hóa. Dự kiến sẽ đẩy mạnh tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề chính quy từ 60 đến 65% lực lượng lao động vào năm 2020 trong khi mở rộng tuyển sinh trong chương trình học tập định hướng nghề nghiệp từ 70 đến 80% tổng số học sinh ở Việt Nam.

Nhiệm vụ đào tạo nghề của Việt Nam cũng được thúc đẩy bởi nhu cầu gia tăng cho VET giữa thanh niên Việt nam. Đặc biệt, viễn cảnh thất nghiệp cho những sinh viên tố nghiệp đại học, đã làm tăng số lượng học sinh tốt nghiệp trung học lựa chọn học nghề thay vì học đại học. Như báo điện tử Vietnamnet đã lưu ý, “kể cả những sinh viên tốt nghiệp đại học ngày càng gia tăng lựa chọn bỏ tấm bằng của mình vào ngăn kéo và quay lại trường nghề bởi vì các khu công nghiệp và nhà máy chỉ cần công nhân lành nghề chứ không phải bằng tốt nghiệp đại học”. Chỉ riêng từ 2000/01 đến 2009/10, số lượng học sinh đăng ký vào các trường đào tạo nghề và các chương trình trung cấp chuyên nghiệp tăng lên đến 132%.

TUYỂN SINH VÀO CÁC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Tiến trình từ THCS đến Đại học ở Việt Nam có tính cạnh tranh cực cao và dựa trên các kỳ thi yêu cầu đặt áp lực lớn lên học sinh, giống với hệ thống thi cử ở Trung Quốc.

Các kỳ thi được mệnh danh là “ mùa tự tử”, do sự gia tăng số học sinh tự tử sau khi trường đại học thông báo điểm của các bài kiểm tra đầu vào mỗi mùa hè. Năm 2012, chỉ 30% thí sinh vượt qua kỳ kiểm tra đầu vào, theo VietNamNet.

Những áp lực kỳ thi này là một trong nhiều lý do khiến chính phủ Việt Nam ban hành những cải cách sâu rộng và đang diễn ra trong tuyển sinh đại học. Cho đến năm 2015, học sinh đầu tiên thi tốt nghiệp trung học phổ thông vào tháng 5/6 và tiếp theo là kỳ thi quốc gia tuyển sinh vào đại học trong tháng 7 (còn được gọi là ba kỳ thi chính). Nhưng kể từ năm 2015, kỳ thi vào đại học đã được gộp với kỳ thi tốt nghiệp thpt thành kỳ thi trung học phổ thông quốc gia, bây giờ được sử dụng để

tuyển sinh đại học. Sự thay đổi nhằm đơn giản hóa quá trình tuyển sinh vất vả và giảm chi phí cho các trường đại học,  cũng như là học sinh, rất nhiều người ỷ lại vào trường dự bị đắt đỏ để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển đầu vào đại học. Hầu hết học sinh ở các vùng nông thôn bây giờ cũng có thể làm bài kiểm tra tại địa phương, thay vì phải đi ra Hà Nội và Sài Gòn để tham dự kỳ thi tuyển sinh.

Cấu tạo và nội dung của kỳ thi mới này đã trải qua một số thay đổi bắt đầu từ lần đầu được thông báo. Định dạng gần đây nhất năm 2017 của kỳ thi tốt nghiệp quốc gia 2 trong 1 bao gồm 5 môn học kiểm tra; 3 môn bắt buộc (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ) và hai môn kết hợp theo khối, bao gồm khoa học tự nhiên( vật lý, hóa học, sinh học) và khoa học xã hội ( lịch sử, địa lý, GDCD).

Học sinh tham gia dự tuyển vào đại học phải làm bài kiểm tra 4 môn học, nhưng cũng có thể chọn tham gia môn thứ 5 để tăng lựa chọn nhập học. Những học sinh không có mong muốn học lên đại học có thể chọn tốt nghiệp với ba môn thi bắt buộc.

Các kỳ thi diễn ra vào tháng 6 hoặc 7 được thực hiện bởi Sở giáo dục các tỉnh và bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm và bài viết. Điểm tối thiểu để qua mỗi môn là 5/10. Các trường đại học thường tuyển sinh dựa vào tổng điểm ba môn để họ xem xét thích hợp với ngành học đã được chọn. Điểm kiểm tra càng cao thì càng có nhiều cơ hội hơn để được trúng tuyển vào các các trường ở nguyện vọng đầu tiên (học sinh có thể nộp đơn vào nhiều trường). Ngưỡng điểm đầu vào tối thiểu cho xét tuyển đại học được đưa ra bởi Bộ GD và ĐT là tổng điểm 15/30 ở ba môn, nhưng yêu cầu của mỗi trường khác nhau và thường cao hơn nhiều, với những trường đại học danh tiếng chỉ nhận học sinh với 29 điểm hoặc cao hơn. Trường cao đẳng thường yêu cầu thấp điểm hơn đại học

(ngưỡng điểm tối thiểu đầu vào chính thức là 12)

Chính phủ dự kiến giảm bớt tầm quan trọng của các kỳ thi và tuyên bố rằng kỳ thi tốt nghiệp quốc gia sẽ được hủy bỏ hoàn toàn sau năm 2020, ở thời điểm đó tuyển sinh sẽ dựa trên toàn bộ thành tích của học sinh trong trường THPT, thay vì một kỳ thi cao cấp cuối cùng. Nội dung của bài kiểm tra cuối kỳ sẽ được đưa vào chương trình giảng dạy trung học phổ thông.  Với hiện trạng những thay đổi thường xuyên được đưa ra trong tuyển sinh đại học những năm gần đây, thì thực tế vẫn còn phải quan sát xem, nếu như và khi nào những thay đổi này được thực hiện.

Cũng cần lưu ý rằng Bộ GD và ĐT cho các trường đại học công lập tự do quyết định những yêu cầu tuyển sinh của họ ngoài kết quả kỳ thi tốt nghiệp. Một vài trường đại học lớn và có danh tiếng, bao gồm Đại học Quốc Gia Việt Nam (Hà Nội) hoặc đại học Ngoại Thương, lấy ví dụ, bây giờ sử dụng kỳ thi tuyển sinh riêng. Kể từ khi điểm trung bình và tỷ lệ đỗ trong kỳ thi tốt nghiệp quốc gia được tổ chức năm 2017 cao hơn hẳn so với những năm trước, số lượng các trường đại học bắt đầu sử dụng kỳ thi tuyển sinh riêng của họ tăng lên, càng nhiều các bài kiểm tra có chọn lọc hơn.

CÁC TỔ CHỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Phân loại

Các loại tổ chức giáo dục đại học (HEIs) ở Việt Nam bao gồm trường Cao đẳng- cao đẳng cộng đồng, đào tạo giáo viên và các trường cao đẳng chuyên ngành khác, đại học đơn ngành, đại học đa ngành và các học viện nghiên cứu sau đại học. Theo luật giáo dục đại học Việt nam năm 2015, các tổ chức giáo dục đại học là công lập, tư thục hoặc do người dân thành lập ( Các tổ chức tài trợ học phí được điều hành bởi các cơ quan phi chính phủ như Công đoàn, hợp tác xã hoặc tổ chức thanh niên).  Ngoài ra còn có hai trường đại học Mở công lập ( ĐH Mở Tp.HCM và ĐH Mở Hà Nội), đưa ra chương trình cho học sinh ghi được điểm thấp trong kỳ thi thpt được nhận vào các trường đại học chính quy. Các chương trình mở( mộ rồng)cũng được đưa ra ở các trường đại học khác.

Các trường đại học lớn nhất, xếp hạng và nghiên cứu

Hai hệ thống trường đại học lớn nhất Việt Nam là Đại học quốc gia Việt Nam, Tp.HCM và Đại học quốc gia Việt Nam, Hà Nội – cả hai hệ thống ĐH công lập với  nhiều trường ĐH thành viên đơn ngành. Đại học quốc gia Việt Nam (VNU) ở Tp.HCM, thành phố lớn nhất đất nước, có tổng số tuyển sinh khoảng 61,500 sinh viên và cung cấp ít nhất 120 chương trình cử nhân cũng như là nhiều chương trình thạc sĩ và tiến sĩ.

VNU-Hà Nội thì nhỏ hơn với 34,000 sinh viên, theo Bộ GD và ĐT. Trường này được báo cáo có tỷ lệ chấp nhận hồ sơ khoảng 30% và thu học phí 1000 USD mỗi năm cho chương trình cử nhân.

Một bảng xếp hạng phi chính phủ ĐH Việt Nam xếp hạng VNU Hà Nội, ĐH Tôn Đức Thắng và ĐH Nông Nghiệp VN là những trường đại học tốt nhất quốc qia, nhưng đã bị chỉ trích nặng nề bởi phương pháp xếp hạng của họ. Không một trường ĐH nào ở VN  nằm trong top 1000 trường đh phổ biến nhất trên thế giới. Chính phủ Việt nam đang cố gắng thay đổi điều đó và đã chọn ra 3 trường ĐH, ĐH Việt – Đức, ĐH Khoa học và công nghệ và ĐH Việt – Nhật để phát triển thành những trường đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Nghiên cứu học thuật ở VN vẫn chủ yếu thực hiện tại các tổ chức nghiên cứu ( một di sản dựa trên hệ thống Liên Xô cũ). Các trường ĐH từ 1998 đã được cho phép đưa ra các chương trình sau tốt nghiệp, nhưng các lĩnh vực nghiên cứu học thuật cho đến nay vẫn còn tương đối kém phát triển và thiếu thốn so với quốc tế. Đầu ra của các xuất bản nghiên cứu bởi các học giả Việt Nam, lấy ví dụ, thấp hơn nhiều so với đầu ra xuất bản của các nước khác trong khu vực như Thái Lan. Các chương trình tuyển sinh học nâng cao vẫn còn tương đối ít nếu phát triển nhanh. Trong khi chỉ có 30,683  sinh viên thạc sĩ và 2,505 ứng viên tiến sĩ trên toàn quốc năm 2009, thống kê mới nhất được công bố bởi Bộ GD và ĐT chỉ ra rằng con số này đã lên đến 105,801( 6% tổng số tuyển sinh) sinh viên học thạc sĩ và 15,112 sinh viên học tiến sĩ ( 0.85% tổng số tuyển sinh) năm 2017. Tại Thái Lan, bằng cách so sánh, sinh viên học thạc sĩ và tiến sĩ chiếm 8.5% và 1.1% tổng số tuyển sinh năm 2016. Các quan chức Bộ GD và ĐT năm 2016 bày tỏ nỗi lo lắng rằng sự tăng lên nhanh chóng này đạt được bằng đánh đổi với chất lượng và dẫn đến sự lạm phát những Tiến sĩ chưa được đào tạo đầy đủ.

Tăng trưởng nhanh và những vấn đề nhân sự.

Hệ thống đại học Việt nam đã mở rộng đột ngột trong vài thập kỷ qua – từ 101 trường công lập, không có tổ chức tư nhân, và 133,000 sinh viên năm 1987 đến 357 trường đại học và cao đẳng công lập, 88 trường tư và gần 2.12 triệu sinh viên năm 2015.

Việc đại chúng hóa nhanh chóng trong vài thập kỷ qua đã dẫn đến những trường đại học đông đúc và không đủ giáo viên trên tỉ lệ sinh viên, nhưng tình huống này đã được cải thiện phần nào trong những năm gần đây, sự tăng trưởng trong tuyển sinh gần đây đã chậm lại, và số sinh viên thực tế đã giảm từ  khoảng 2 triệu năm 2014 xuống 1.85 triệu năm 2015, có khả năng do thay đổi đăng ký hướng về lĩnh vực đào tạo nghề. Từ 2005 đến 2014, số giảng viên tang ở lĩnh vực giáo dục đại học đã vượt qua số lượng sinh viên tuyển sinh – giảng viên tăng lên 88% so với 70% tăng ở sinh viên.

Theo thống kê được công bố bởi Tổng cục thống kê Việt Nam, tỷ lệ giáo viên – học sinh trong giáo dục ĐH đã được cải thiện đáng chú ý những năm gần đây và đứng ở mức 1: 22.7 năm 2015. Mục tiêu chính là giảm tỉ lệ này xuống còn 1:20 vào năm 2020. Từ 2016 đến 2017, số lượng giảng viên ở ĐH công lập tăng 4.6%. Nhưng vẫn phải xem mục tiêu giảm tỉ lệ chênh lệch giảng viên-sinh viên có thể căn chỉnh cùng lúc với mục tiêu tăng tuyển sinh lên gấp đôi từ 2% dân số năm 2010 lên 4.5% dân số năm 2020. Cho đến bây giờ, những mục tiêu tuyển sinh vẫn là một công việc đang tiến triển, mặc dù đại chúng hóa nhanh chóng.

Số sinh viên chiếm khoảng 2.6% dân số năm 2014[4]

Một vấn đề khác là chất lượng giảng dạy ở Việt Nam. Năm 2009, ít hơn một nửa giảng viên ở đại học có bằng sau đại học. Tình hình này đã được cải thiện. Năm 2012, 46% giảng viên có bằng thạc sĩ và 14% có bằng tiến sĩ. Tuy nhiên, các trường ĐH Việt Nam hiện nay gặp khó khăn với việc tuyển dụng giảng viên đủ năng lực, đặc biệt là với những người có bằng Tiến sĩ. Chính phủ dự kiến tăng số lượng giảng viên có bằng thạc sĩ và tiến sĩ lên 60 và 35% tổng số cán bộ giảng dạy tương ứng vào năm 2020. Nhưng sự thiếu hụt giáo viên hiện nay có thể làm chậm việc đạt đến mục tiêu này. Các giảng viên Việt Nam có chiều hướng trả lương thấp, và những người giữ bằng tiến sĩ thường có nhiều cơ hội việc làm được trả lương cao ở nhiều lĩnh vực khác.

Các viện tư thục

Tổ chức giáo dục đại học (HEI) tư thục  đầu tiên, Đại Học Thăng Long ở Hà Nội, được mở ra năm 1988. Do tính chất chính trị nhạy cảm của việc tư nhân hóa trong Đảng Cộng Sản Việt Nam, những Đại học tư thục ban đầu giới hạn người sáng lập và tổ chức bán công lập (Các tổ chức tài trợ học phí nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước). ĐH tư thục vì lợi nhuận sẽ không được cho phép cho đến năm 2005. Từ khi thay đổi, số lượng các tổ chức tư nhân đã tăng lên nhanh chóng và đạt 88 ĐH tư thục năm 2015. Mặc cho sự tăng trưởng, tuy nhiên, tổng tuyển sinh ở các khu vực tư chỉ đạt khoảng 13% năm 2015 ( giảm từ 15% vào 2010), theo thống kê nhà nước. Con số này thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 40% của chính phủ vào năm 2020.

Rất nhiều Đại học tư thục của Việt Nam thúc đẩy lợi nhuận “ tổ chức hấp thụ nhu cầu”, đó là những tổ chức cung cấp việc tiếp nhận giáo dục đại học nhung không ở cùng cấp độ chất lượng học thuật hay sự nghiêm ngặt được đưa ra bởi hầu hết các ĐH công lập. Các ĐH tư thục thường đắt đỏ và hiện nay không thể cạnh tranh một cách hiệu quả với những trường đại học công lập phổ biến hàng đầu. Rất nhiều ĐH tư nhân tập trung vào những lĩnh vực hẹp nơi những trường ĐH công lập thất bại trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng (quản trị kinh doanh, Ngoại Ngữ, máy tính và công nghệ thông tin). Năm 2012, mức tuyển sinh ở ĐH tư thục cao đến mức Hiệp hội các trường đại học ngoài công lập đã đưa ra một kiến nghị lên thủ tướng chính phủ cho phép các trường đại học tư thục giảm tiêu chuẩn tuyển sinh để tuyển thêm nhiều học sinh.

Tham nhũng trong giáo dục ở Việt Nam

Việt Nam là đất nước khá tham nhũng theo tiêu chuẩn quốc tế. VN được xếp hạng thứ 33 trong số 176 nước bởi Chỉ số tham những toàn cầu năm 2016 của Tổ chức Minh bạch quốc tế Transparency

International’s (TI). Biến đổi kinh tế nguy hiểm, thiếu trách nhiệm chính trị, băng đỏ và bộ máy quan liêu quy mô lớn và chế độ lương thấp là vài trong số lý do dẫn đến tham nhũng ở VN. Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động Hoa Kỳ lưu ý rằng năm 2016 tham nhũng “tiếp tục là một vấn đề lớn” và “việc lạm dụng quyền hành và hối lộ trong khu vực công phổ biến trên toàn quốc gia” trong khi gần nửa (46%) các công ty nước ngoài coi việc tham nhũng là thử thách lớn nhất của họ.

Giáo dục được coi là lĩnh vực thứ hai nhiều tham nhũng nhất sau ngành cảnh sát. Lạm dụng quyền hành để đảm bảo được nhận vào đại học hoặc cải thiện điểm số là phổ biến do những giáo viên lương thấp dễ bị tham nhũng. Toàn bộ 61% người VN được khảo sát bởi Tổ chức minh bạch quốc tế trả lời xác nhận rằng phụ huynh trả hối lộ cho giáo viên và ban giám hiệu trường học. Một vài người cho biết hối lộ lên đến 3000USD để con mình được nhận vào trường tiểu học mong muốn.[5]

Các vấn đề phổ biến khác bao gồm đạo văn trong giáo dục đại học, bằng giả, thao túng ngân sách dự toán và rò rỉ nguồn tài trợ từ các dự án thu mua( tài liệu giảng dạy và cơ sở vật chất,vv..v)

Các hình thức tham nhũng này có xu hướng ăn mòn chất lượng giảng dạy và kiềm hãm phát triển kinh tế. Việc tham nhũng tràn lan cũng là vấn đề tính hợp pháp về chính trị của Đảng Cộng Sản VN. Chính phủ trong những năm gần đây ban hành nhiều biện pháp chính sách khác nhau để chống lại tham nhũng và thực hiện một số vụ bắt giữ quan chức cấp cao, ít nhất một trong số đó lãnh đến án tử hình. Tuy nhiên vẫn còn phải xem hiệu quả của những phương pháp này ra sao trong việc kiềm chế mức độ tham nhũng địa phương ở Việt Nam.

Sự đảm bảo chất lượng: Hệ thống kiểm định mới

Một trong những cải cách hiện nay được ban hành trong giáo dục đại học là việc thực hiện cơ chế bảo đảm chất lượng mới cho giáo dục ĐH. Năm 2004, Bộ GD và ĐT khởi xướng quy trình công nhận mới dựa trên thể chế tự đánh giá và cơ chế đảm bảo chất lượng nội bộ được đánh giá bên ngoài bởi các cơ quan công nhận. Bốn năm sau, Hội đồng kiểm định quốc gia được thành lập bởi bộ GD và ĐT. Vào năm 2009, 110 trường đại học Việt Nam đã thành lập các trung tâm đảm bảo chất lượng nội bộ và 20 trường đại học đã được công nhận.

Quá trình đã trải qua những thay đổi khác nhau. Hiện tại, việc công nhận được thực hiện bởi 4 trung tâm kiểm định dưới sự điều khiển của Tổng cục Kiểm định giáo dục và kiểm tra thuộc Bộ GD và ĐT. Đó là trung tâm kiểm định giáo dục – ĐH QUốc gia Hà Nội, trung tâm kiểm định giáo dục Tp.HCM, trung tâm kiểm định giáo dục đại học Đà Nẵng và trung tâm kiểm định giáo dục của Hiệp hội các trường ĐH và Cao đẳng VN. Bốn cơ quan này được chỉ định đánh giá những tổ chức giáo dục đại học cũng như là các trường đào tạo nghề ở lĩnh vực đào tạo và dạy nghề. Tiêu chí đánh giá bao gồm một bản báo cáo nhiệm vụ rõ ràng và nguồn lực đầy đủ, nhân sự và chương trình giảng dạy để thực hiện nhiệm vụ này và chuẩn bị cho sinh viên tốt nghiệp sẵn sàng cho công việc cũng như tuân thủ quy định của nhà nước trong việc hợp tác quốc tế và cam kết phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương và Việt Nam ( ví dụ báo cáo tự đánh giá, xem báo cáo của ĐH Tân Tạo, nộp năm 2016)

Việc kiểm định được cấp cho chu kỳ 5 năm và là bắt buộc đối với tất cả các tổ chức giáo dục đại học ở Việt Nam. Do thiếu nguồn lực và nhân sự, tiến trình kiểm định, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn chậm kể cả khi 90% các tổ chức Việt Nam đã thành lập trung tâm đảm bảo chất lượng nội bộ. Tháng 3 năm 2017, Bộ GD và ĐT hứa hẹn rằng 35% các trường ĐH và 10% Các trường Cao Đẳng sẽ được đánh giá và kiểm định cho đến hết năm. Chương trình kiểm định cũng đã được giới thiệu nhưng vẫn tương đối không phổ biến trong năm 2017.

Những cải cách khác: Hệ thống tín chỉ và thang điểm

Đã có một vài thay đổi trong giáo dục đại học trong vài thập kỷ qua. Năm 2007, Bộ GD và ĐT đã giới thiệu hệ thống tín chỉ theo phong cách Hoa Kỳ  ở các tổ chức giáo dục đại học đã cho phép sinh viên tự do hơn trong việc xây dựng chương trình học của chúng. Trong khi những sinh viên theo hệ thống trước tạo thành một nhóm và theo cùng chương trình giảng dạy được thiết lập sẵn xuyên suốt chương trình, sinh viên có thể chọn tự do hơn giữa các lớp học dựa trên tín chỉ. Chương trình giảng dạy mới bao gồm các lớp học bắt buộc và tự chọn ứng với từ 2-4 tín chỉ. Một tín thể hiện cho ít nhất 50 phút học trên lớp và 100 phút bài tập về nhà, và được thực hiện trong một học kỳ 15 tuần. 30 tín chỉ đại diện cho 1 năm học ở cấp đại học. Hầu hết chương trình ở các trường ĐH Việt Nam đều mất 2 học kỳ mỗi năm ( thường từ Tháng 9 đến Tháng 1 và từ tháng 2 đến tháng 6).

Cùng với hệ thống tín chỉ mới, Bộ GD và ĐT đã trang bị 4 thang điểm mới được dùng song song với thang điểm từ 0-10 cũ. Trong khi các khóa học có thể vẫn đánh giá theo thang điểm 0-10 cũ, điểm số bây giờ cần được chuyển sang thang đo mới và điểm trung bình tích lũy cuối cùng của chương trình cấp bằng phải đựơc biểu thị trên thang 0-4, lần lượt với cấp độ chữ cái tương ứng.

Việc chuyển đổi chính thức giữa hai thang điểm được đề cập bên dưới.

Các tổ chức giáo dục Việt Nam đã áp dụng nhiều cách trong việc chỉ ra nhiều điểm trong bản mô tả của họ. Trong khi nhiều trường đã hoàn toàn chuyển qua thang điểm 1-4, nhiều trường liệt kê điểm theo cả hai thang điểm 0-10 và 1-4 trong tài liệu của họ. Điểm tích lũy cuối cùng của chương trình cấp bằng thường được chỉ định theo các chữ cái điểm mới ( A,B,C) hoặc bản mô tả tương ứng( xuất sắc, tốt, trung bình). Một số trường đại học cũng đã sửa đổi một chút theo thang 1-4 bằng cách sử dụng điểm cộng và điểm trừ (A+, A, A-, vv…v) tương tự với thang điểm của Hoa Kỳ.

Phát triển khung chất lượng quốc gia

Tháng 11 năm 2016, Thủ tướng VN phê duyệt việc bổ sung Khung chất lượng quốc gia – National Qualification Framework (NQF) được phát triển bởi Bộ GD và ĐT và Bộ LĐ, TB và XH. Khung 8 cấp độ được căn chỉnh với khung chất lượng tham chiếu ở ASEAN và xu hướng giảm nhẹ việc chuyển đổi chứng chỉ quốc tế. Khung cũng tìm cách tăng cường chất lượng của các chương trình học thuật bằng cách xác định rõ kết quả học tập và tiêu chí điểm chuẩn cho bằng cấp được trao các cấp độ khác nhau. Là bước đầu tiên hướng tới việc thực hiện, những kết quả học tập và tiêu chí điểm chuẩn này bây giờ sẽ được xác định rõ. Hội đồng Anh hiện nay đang hỗ trợ thực hiện khuôn khổ này. Một mục tiêu khác mà chính phủ đang đặt lên đầu cùng với NQF là rút ngắn chương trình giảng dạy trong tương lai. Nếu được thực hiện, những cải cách này có thể giảm bớt thời gian học tiêu chuẩn của bằng cử nhân  ở VN từ bốn xuống còn ba năm.

HỆ THỐNG BẰNG CẤP ĐẠI HỌC

Về cốt lõi, hệ thống bằng cấp của Việt Nam hiện nay giống với của Hoa Kỳ. Bao gồm có bằng cao đẳng trung cấp, bằng cử nhân tiêu chuẩn bốn năm, bằng thạc sĩ hai năm và cuối cùng là học vị tiến sĩ nghiên cứu. Tất cả chứng chỉ bằng cấp từ các trường đại học ở Việt Nam đều phải được Bộ GD & ĐT phê duyệt và ký công nhận chính thức.

Associate Degree (Bằng liên kết ) hay Junior College Graduation Diploma (Bằng Tốt Nghiệp Cao Đẳng). Các chương trình này kéo dài từ 2 đến 3.5 năm, còn được gọi là “chương trình đào tạo ngắn hạn” ở Việt Nam. Các chương trình được giảng dạy ở các trường cao đẳng và một số trường đại học, yêu cầu tối thiểu 90 tín chỉ cho chương trình giảng dạy ba năm thường được áp dụng, bao gồm hướng nghiệp và thực tập. Sinh viên tốt nghiệp có thể được miễn hai năm học khi chuyển sang các chương trình đào tạo cử nhân tại các trường đại học.

Bachelor’s degree (Bằng cử nhân). Chương trình đào tạo cử nhân được giảng dạy ở các trường đại học và thường kéo dài bốn năm trong các ngành học tiêu chuẩn. Sinh viên tốt nghiệp nhận được bằng tốt nghiệp đại học cho biết chính xác cấp độ bằng được trao. Số tín chỉ yêu cầu khác nhau tuỳ các trường nhưng dao động từ 120-140 tín chỉ. Điểm trung bình các môn học phải đạt 2.0 hoặc cao hơn để tốt nghiệp. Chương trình giảng dạy bao gồm một số học phần chung ngoài các học phần chuyên ngành. Các chương trình có thể bao gồm luận án tốt nghiệp hoặc thực tập và bài kiểm tra tốt nghiệp. Các chương trình cấp Bằng kỹ sư thường kéo dài 5 năm và yêu cầu tối thiểu 150 tín chỉ. Một số chương trình cử nhân có thể được học tập theo chế độ bán thời gian.

Master’s degree (Bằng thạc sĩ). Để xét tuyển vào chương trình thạc sĩ cần phải có bằng cử nhân và vượt qua kỳ thi tuyển sinh. Hầu hết các chương trình kéo dài hai năm, nhưng một số chương trình trong các ngành đặc biệt như Kỹ sư, có thể kéo dài ba năm. Các chương trình bán thời gian có thời lượng kéo dài bằng ba chương trình tiêu chuẩn, thường yêu cầu từ 40 đến 45 tín chỉ và hoàn thành một luận án để tốt nghiệp.

Doctor of Philosophy (Tiến Sĩ). Để xét tuyển vào chương trình nghiên cứu tiến sĩ cần phải có bằng thạc sĩ và vượt qua kỳ thi tuyển sinh. Các chương trình kéo dài tối thiểu là hai năm, hầu hết là ba năm, mặc dù ứng cử viên có thể mất nhiều thời gian hơn để tốt nghiệp. Sinh viên có bằng cử nhân với số điểm đặc biệt cao cũng có thể được nhận vào các chương trình tiến sĩ, trong trường hợp đó chương trình này kéo dài ít nhất bốn năm và kết hợp cả chương trình đào tạo thạc sĩ. Để hoàn thành các chương trình tiến sĩ đòi hỏi một số lượng khóa học và chuẩn bị luận án.

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHUYÊN NGHIỆP

Các chương trình đào tạo trong các ngành như y, nha khoa, kiến trúc hoặc dược là các chương trình đại học đơn cấp trong thời gian dài năm hoặc sáu năm, nhập học sau khi khi tốt nghiệp trung học phổ thông. Các danh hiệu được trao bao gồm bác sĩ (Medical Doctor), nha sĩ (Doctor of Dental Medicine) và dược sĩ (Pharmacist).

Các chương trình giáo dục ngành y ở Việt Nam có thời lượng sáu năm và bao gồm một vài học phần khoa học cơ bản trong hai năm đầu, theo sau là lý thuyết lâm sàng và thực hành lâm sàng ở các học kỳ cao hơn. Xét tuyển vào các trường đại học hàng đầu yêu cầu rất cao, một số trường đại học hạng hai nhận học sinh dựa trên có điểm thi thấp hơn. Các chương trình giảng dạy ngắn hơn bốn năm gần đây đã được giới thiệu cho các bác sĩ trợ lý đã có kinh nghiệm làm việc. Các chương trình này nhằm đào tạo bác sĩ cộng đồng.

Bằng tốt nghiệp từ các chương trình giáo dục ngành y yêu cầu vượt qua kì thi cuối cùng được tổ chức bởi trường đại học. Giấy phép làm bác sĩ đa khoa cần 18 tháng làm việc tại bệnh viện hoặc cơ sở tương đương sau khi tốt nghiệp. Không có kỳ thi cấp phép riêng. Đào tạo trong chuyên ngành y tế kéo dài đến bốn năm, tùy thuộc vào chuyên khoa. Phương pháp giáo dục ngành y phổ biến nhất cho giáo dục y khoa ở Việt Nam là chương trình đào tạo lâm sàng hai giai đoạn được giảng dạy bởi các trường đại học y khoa hướng đến việc nhận bằng chuyên gia (Specialist Certificate). Cả hai giai đoạn (chuyên gia cấp 1 và chuyên gia cấp 2), mỗi giai đoạn kéo dài hai năm.

ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN

Việc được phép giảng dạy đối với giáo viên ở Việt Nam phụ thuộc vào trình độ học vấn. Giáo viên mầm non và tiểu học phải có bằng tốt nghiệp trung học sư phạm, thường được cấp bởi các trường trung cấp sư phạm. Giáo viên trung học cơ sở thường có bằng cấp giảng dạy từ một trường cao đẳng sư phạm, trong khi giáo viên trung học phổ thông phải có bằng cử nhân sư phạm từ một trường đại học sư phạm. Những người có bằng cử nhân trong các ngành khác có thể lấy  bằng cấp giảng dạy bằng cách lấy chứng chỉ sư phạm trong một học kỳ bổ sung. Vào năm 2014, Bộ GD & ĐT đã ban hành một chỉ thị đình chỉ hoạt động này nhưng lệnh cấm dường như đã được gỡ bỏ, vì hiện nay các trường đại học ở Việt Nam tiếp tục giảng dạy lại chương trình này. Giống như các bộ phận khác của hệ thống giáo dục Việt Nam, ngành sư phạm đang thay đổi. Bộ GD & ĐT tìm cách tăng cường đào tạo giáo viên đồng thời cố gắng đáp ứng tình trạng thiếu giáo viên. Năm 2012, các nhà chức trách ước tính rằng cả nước thiếu 27.500 giáo viên mầm non.

 

Chú thích 

[1] Khi so sánh số lượng sinh viên quốc tế, rất cần chú ý đến các con số cung cấp bởi các cơ quan và chính phủ khác nhau do khác biệt trong phương pháp thu thập dữ liệu, các định nghĩa “sinh viên quốc tế”  và/hoặc các loại di động được ghi lại (tín chỉ, bằng cấp, v..v). Dữ liệu của Viện thống kê UNESCO cung cấp điểm tham chiếu đáng tin cậy để so sánh vì được biên soạn theo một phương pháp tiêu chuẩn. Tuy nhiên cần được chỉ ra rằng nó chỉ bao gồm số sinh viên theo học chương trình cấp bằng đại học. Không bao gồm sinh viên trao đổi du học ngắn hạn hoặc như ở cấp trung học hoặc trong các chương trình đào tạo ngôn ngữ ngắn hạn.

[2] Các ví dụ được cung cấp bởi Andrew Lawrence bao gồm các nhà khai thác không có giấy phép cung cấp các bằng cao cấp như bằng MBA của Mĩ . Dù học phí lên tới 3500 USD, họ thu hút được rất nhiều sinh viên bị dụ dỗ bởi viễn cảnh có được bằng cấp nước ngoài mà không cần phải biết tiếng anh…. Một cuộc điều tra thực hiện bởi Báo Thanh Niên …., tìm thấy hai tổ chức có trụ sở tại Hoa Kỳ, Đại học  Tây Nam Mỹ và Đại học quốc tế Adam, không được công nhận chính thức ở Hoa kỳ đã cung cấp các chương trình đào tạo MBA 10 tháng giá 4000 USD cho sinh viên Việt Nam. Kỹ năng tiếng anh không bắt buộc và việc điểm danh ít.( Báo thanh niên 2010) Trích dẫn Lawrence, Andrew: Huấn luyện rồng: Giáo dục đại học xuyên quốc gia tại Việt Nam, luận văn thạc sĩ, Đại học Simon Fraser, 2011, tr.62

[3] Trong khi hầu hết các chương trình này đều được cung cấp tại các trường dạy nghề, thì đôi khi cũng được cung cấp bởi các trường cao đẳng trong lĩnh vực giáo dục đại học.

 

[4] Việc tính toán dựa trên thống kê dân số và thống kê sinh viên HE cung cấp bởi Tổng cục thống kê Việt Nam. Không giống các quốc gia khác đo tỷ lệ tuyển sinh theo tỷ lệ sinh viên trong nhóm tuổi liên quan, Việt Nam đo tỷ lệ tham gia bằng số lượng sinh viên theo học trên 10,000 người trong tổng dân số. Các nghiên cứu sử dụng phương pháp khác thấy rằng VN có tỷ lệ đăng ký chung (nhóm lứa tuổi liên quan) là 16% năm 2007- thấp hơn so với Thái Lan (43%), Malaysia (32%) và Trung Quốc ( 20%).

[5] Trích từ Stephanie Chow và Đào Thị Nga: Hối lộ để được nhận vào các trường mong muốn ở Việt Nam, trong: Tổ chức Minh bạch quốc tế, Báo cáo tham nhũng toàn cầu: Giáo dục, Oxford và New York, năm 2013, trang 60 -67.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s