Đinh chính những hiểu lầm về năng lượng tái tạo tại Việt Nam (P7)

GreenID mong muốn giúp cộng đồng hiểu rõ những hiểu lầm thường gặp đang cản trở sự phát triển của NLTT tại Việt Nam và hy vọng rằng cuốn tài liệu này sẽ mang lại những thông tin bổ ích cho người đọc.

Hiểu lầm 1. NLTT không ổn định, thường làm gián đoạn quá trình cung cấp điện và không thể cung cấp điện liên tục 24/24.

Hiểu lầm 2. NLTT đắt đỏ và xa xỉ, chỉ phù hợp với những quốc gia phát triển

Hiểu lầm 3. Ngành công nghiệp sản xuất điện từ nhiên liệu hóa thạch tạo ra nhiều việc làm hơn ngành NLTT

Hiểu lầm 7. Thiếu nhân lực có chuyên môn về NLTT làm cản trở quá trình phát triển NLTT tại Việt Nam

Sự thật là Việt Nam đã có một đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn về NLTT, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng gió. Thông qua chương trình phát triển nhân lực toàn diện, Việt Nam hoàn toàn có thể khắc phục những hạn chế về nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLTT.

Một báo cáo do GIZ thực hiện năm 2016 về đánh giá nhu cầu nhân lực cho thấy, Việt Nam đã có đội ngũ nhân lực có chuyên môn về năng lượng gió, và những nhân lực có chuyên môn này cần được nhân rộng trong cả khối Nhà nước và tư nhân nếu Việt Nam muốn năng lượng gió sẽ đóng góp một lượng đáng kể trong cơ cấu nguồn điện. Viện năng lượng và một nhóm nhỏ các tổ chức tư vấn tư nhân có một đội ngũ nhân viên có đủ năng lực chuyên môn về quy hoạch điện cũng như có hiểu biết về năng lượng gió. Một số nhà sản xuất và các công ty tư nhân kinh doanh về năng lượng gió cũng đang hoạt động tại Việt Nam. Hiện cũng có đội ngũ nhân lực ở địa phương có khả năng đo lường mức tiêu thụ và đánh giá sản lượng điện gió. Tuy nhiên, Việt Nam cần phải cải thiện một số lĩnh vực trong NLTT như  thiết kế kỹ thuật quy mô tổng thể, lập các báo cáo nghiên cứu khả thi, phân tích tác động xã hội và môi trường. Báo cáo cũng cho rằng trình độ giáo dục đang ngày càng được nâng cao và các hoạt động nghiên cứu đang được diễn ra tại một số trường đại học trọng điểm trong cả nước. Đã có khoảng 20 trường đại học tại Việt Nam đào tạo về về NLTT kết hợp thực hiện nghiên cứu trong lĩnh vực năng lượng gió. Các trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội và Đại học Điện lực đã có những chương trình đào tạo về NLTT cho cả trình độ đại học và sau đại học. Đánh giá một cách tổng thể, báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam đã có một đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn về NLTT, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng gió.

Không thể phủ nhận nguồn nhân lực là một nhân tố quan trọng nhưng chúng ta không nên coi điều này là rào cản đang cản trở quá trính phát triển NLTT ở Việt Nam. Nếu Chính phủ thực sự muốn hỗ trợ cho ngành NLTT thông qua chương trình phát triển nhân lực toàn diện, có sự trợ giúp từ các trường đại học và các nhà tư vấn trong nước và quốc tế thì chúng ta có thể hoàn toàn khắc phục những hạn chế về nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLTT. Ví dụ như ở Trung Quốc, ngay khi Chính phủ nước này đồng ý tạo điều kiện cho phát triển NLTT, các ngành công nghiệp được Chính phủ hỗ trợ một phần đã bắt đầu sản xuất bộ chuyển đổi năng lượng gió, ban đầu dưới hình thức hợp tác liên doanh và sau đó chuyển sang sản xuất theo giấy phép. Hoạt động này được tiến hành cùng với việc đồng thực hiện các dự án nghiên cứu giữa các bên liên quan, thành lập một loạt các chương trình đào tạo bậc đại học, cũng như các chương trình đào tạo nghề về kỹ thuật NLTT (GIZ, 2016).

Hướng đi cho tương lai

Chúng tôi hiểu rằng đính chính các hiểu lầm về NLTT là rất cần thiết vì điều này sẽ giúp đạt được sự nhất trí, đồng thuận trong xã hội, hướng tới thực hiện các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo do Chính phủ ban hành cuối năm 2015. Chiến lược đã đề ra nhiều mục tiêu mang tính đột phá, được kỳ vọng sẽ tạo ra lực đẩy mạnh mẽ cho ngành NLTT, trong đó có mục tiêu hạn chế phụ thuộc nhập khẩu nhiên liệu từ các quốc gia khác thông qua việc khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo. Ngoài ra, Chiến lược cũng đưa ra mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính hướng tới đạt được những cam kết nêu trong Bản báo cáo đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định được Việt Nam gửi cho Ban thư ký công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC).

Để đạt được những mục tiêu này cần có sự hiểu biết đầy đủ của tất cả các tầng lớp trong xã hội rằng nhiên liệu hóa thạch không phải là vô hạn và nó gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường, sức khỏe, kinh tế và xã hội. Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển đổi sang hệ thống năng lượng hiệu quả hơn với tỷ trọng các nguồn NLTT lớn hơn và ít phát thải hơn thay vì phục thuộc vào hệ thống năng lượng thiên về nhiên liệu hóa thạch mà đa phần sẽ phải nhập khẩu như hiện nay. Để đạt được mục tiêu chuyển đổi năng lượng theo hướng phát triển NLTT, Việt Nam cần thực hiện bốn hành động ưu tiên sau:

1. Tăng cường sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động. Sử dụng điện đúng lúc, đúng chỗ giúp chúng ta không lãng phí nguồn tài nguyên và tiết kiệm điện. Theo nghiên cứu của GreenID, thực hiện các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có thể tiết kiệm 57 tỷ kWh điện, tương đương với số tiền tiết kiệm khoảng 15 tỷ đô la Mỹ dùng để xây dựng 10.000 MW nhiệt điện than vào năm 2030. Mặc dù tăng cường sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần chi phí đầu tư lớn nhưng giải pháp này có thể tránh tác động xấu tới môi trường và xã hội (GreenID, 2015).

  1. Cần khẩn trương thực thi các chính sách khuyến khích cạnh tranh và sự tham gia bình đẳng của các thành phần kinh tế trong xã hội để đầu tư ngay vào các dự án NLTT, và thúc đẩy tăng các nguồn vốn đầu tư cho NLTT trong thời gian tới. So sánh với các nguồn năng lượng truyền thống như than, dầu hay khí đốt, NLTT còn khá mới mẻ và mới chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong cơ cấu nguồn điện (GreenID, 2015).
  2. Dừng đầu tư xây dựng các dự án nhiệt điện than mới và nhà máy điện hạt nhân, đồng thời đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than cũ khi chúng đã hết khấu hao. Nghiên cứu của GreenID cho thấy nếu Việt Nam thực hành sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và phát triển NLTT thì đến năm 2030 chúng ta có thể cắt giảm 70 tỷ kWh điện sản xuất từ nhà máy điện hạt nhân và 165 tỷ kWh điện từ nhà máy điện than sử dụng than nhập khẩu. Điều này có nghĩa là Việt Nam không nhất thiết phải đầu tư xây dựng 10.000 MW công suất điện hạt nhân cũng như 20.000 MW đến 30.000 MW công suất điện than vì sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng như phát triển NLTT có thể giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng.
  3. Ưu tiên hỗ trợ các giải pháp NLTT độc lập thay vì mở rộng lưới điện cho các cộng đồng chưa được nối lưới ở Việt Nam. Hành động này có thể giúp chúng ta gặt hái được nhiều lợi ích, bao gồm 100% hộ gia đình được tiếp cận với nguồn năng lượng sạch, tăng số lượng chuyên gia trong nước trong lĩnh vực NLTT, tăng trình độ chuyên môn kỹ thuật, cũng như thiết lập các chuỗi giá trị nội địa cho công nghệ mới này.

Download toàn bộ tài liệu tại đây:

06012017_Booklet_Rosa_Viet version

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s