Đinh chính những hiểu lầm về năng lượng tái tạo tại Việt Nam (P4)

GreenID mong muốn giúp cộng đồng hiểu rõ những hiểu lầm thường gặp đang cản trở sự phát triển của NLTT tại Việt Nam và hy vọng rằng cuốn tài liệu này sẽ mang lại những thông tin bổ ích cho người đọc.

Hiểu lầm 1. NLTT không ổn định, thường làm gián đoạn quá trình cung cấp điện và không thể cung cấp điện liên tục 24/24.

Hiểu lầm 2. NLTT đắt đỏ và xa xỉ, chỉ phù hợp với những quốc gia phát triển

Hiểu lầm 4. Tỷ trọng NLTT càng cao trong cơ cấu nguồn điện, càng làm tăng giá điện

Sự thật là NLTT có thể góp phần giảm giá bán buôn của các nguồn điện khác.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá điện, bao gồm chi phí trang thiết bị, chi phí đầu tư, chi phí nhiên liệu, chi phí truyền tải, phân phối, chi phí dự trữ, vận hành và bảo trì, chi phí quản lý và dịch vụ. Những loại chi phí này thay đổi phụ thuộc vào tình hình của từng nơi. Nhưng thực tế cho thấy NLTT đã được so sánh nhiều với những nguồn năng lượng đang gây ô nhiễm nhất.

Ở Việt Nam, giá điện được tính chủ yếu dựa vào LCOE, chi phí truyền tải và chi phí phân phối điện. LCOE bao gồm 2 thành phần, đó là chi phí cố định6 và chi phí biến đổi7. Khi phân tích chi tiết từng chi phí, phần chi phí biến đổi thường cao hơn chi phí cố định do chi phí nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn. Điều này giải thích lý do vì sao chi phí nhiên liệu thường chiếm phần lớn nhất trong tổng các loại chi phí của các nhà máy điện nhiên liệu hóa thạch. Giá nhiên liệu nhập khẩu càng cao sẽ dẫn đến sự gia tăng đáng kể chi phí biến đổi, điều này ảnh hưởng đến giá điện hơn so với các yếu tố khác. Ví dụ với các nhà máy điện than sử dụng nguồn than nhập khẩu, nếu giá than cứ tăng lên 1% thì sẽ kéo theo LCOE tăng thêm từ 6% – 15% (GreenID, 2015).

Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới LCOE chỉ trong khoảng 5 – 7 xu Mỹ/kWh (khoảng 1.100 đồng đến 1.600 đồng/kWh) vì các nước này có điều kiện thuận lợi lắp đặt những hệ thống điện mặt trời và cánh đồng gió quy mô lớn để sản xuất điện. Với giá thành như vậy năng lượng gió và năng lượng mặt trời hoàn toàn có thể cạnh tranh với điện than và các nguồn điện năng khác (IRENA, 2015). Và, như đã giải thích ở trên, chi phí để sản xuất điện năng từ nguồn NLTT đang có xu hướng ngày

6 Những chi phí cố định: chi phí vốn và chi phí vận hành và bảo trì cố định
7 Chi phí biến động: chi phí nhiên liệu và chi phí vận hành bảo dưỡng biến động

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá điện, bao gồm chi phí trang thiết bị, chi phí đầu tư, chi phí nhiên liệu, chi phí truyền tải, phân phối, chi phí dự trữ, vận hành và bảo trì, chi phí quản lý và dịch vụ. Những loại chi phí này thay đổi phụ thuộc vào tình hình của từng nơi. Nhưng thực tế cho thấy NLTT đã được so sánh nhiều với những nguồn năng lượng đang gây ô nhiễm nhất.

Ở Việt Nam, giá điện được tính chủ yếu dựa vào LCOE, chi phí truyền tải và chi phí phân phối điện. LCOE bao gồm 2 thành phần, đó là chi phí cố định6 và chi phí biến đổi7. Khi phân tích chi tiết từng chi phí, phần chi phí biến đổi thường cao hơn chi phí cố định do chi phí nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn. Điều này giải thích lý do vì sao chi phí nhiên liệu thường chiếm phần lớn nhất trong tổng các loại chi phí của các nhà máy điện nhiên liệu hóa thạch. Giá nhiên liệu nhập khẩu càng cao sẽ dẫn đến sự gia tăng đáng kể chi phí biến đổi, điều này ảnh hưởng đến giá điện hơn so với các yếu tố khác. Ví dụ với các nhà máy điện than sử dụng nguồn than nhập khẩu, nếu giá than cứ tăng lên 1% thì sẽ kéo theo LCOE tăng thêm từ 6% – 15% (GreenID, 2015).

Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới LCOE chỉ trong khoảng 5 – 7 xu Mỹ/kWh (khoảng 1.100 đồng đến 1.600 đồng/kWh) vì các nước này có điều kiện thuận lợi lắp đặt những hệ thống điện mặt trời và cánh đồng gió quy mô lớn để sản xuất điện. Với giá thành như vậy năng lượng gió và năng lượng mặt trời hoàn toàn có thể cạnh tranh với điện than và các nguồn điện năng khác (IRENA, 2015). Và, như đã giải thích ở trên, chi phí để sản xuất điện năng từ nguồn NLTT đang có xu hướng ngày

6 Những chi phí cố định: chi phí vốn và chi phí vận hành và bảo trì cố định
7 Chi phí biến động: chi phí nhiên liệu và chi phí vận hành bảo dưỡng biến động

Trong khi đó thị trường NLTT ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn trứng nước (trừ thủy điện nhỏ), vì vậy chi phí sản xuất điện từ NLTT ở Việt Nam ban đầu sẽ khá cao và chỉ sau khi thị trường này phát triển mạnh giá điện NLTT trong nước mới rẻ như mức giá của quốc tế như đã trình bày ở trên. Điều này có nghĩa là Việt Nam cần phải nghĩ cách để bắt đầu khai thác NLTT và đẩy chi phí sản xuất điện NLTT xuống. Có thể Việt Nam nên bắt đầu tính chi phí thực của than và các loại nhiên liệu hóa thạch khác đối với sức khỏe, sinh kế và môi trường, hay còn gọi là “chi phí ngoại biên”.

Chi phí thực của điện than và các loại hình năng lượng sử dụng các nguồn nhiên liệu hóa thạch khác để sản xuất điện bao gồm môi trường bị hủy hoại, tàn phá từ việc khai thác than, ô nhiễm do vận chuyển và sử dụng than, và việc sử dụng than đá và tất cả các dạng nhiên liệu hóa thạch khác để sản xuất điện cũng đang gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu. Những tổn thất ngoại biên chưa được tính toán trong giá điện sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch nhưng chúng là những chi phí không hề rẻ mà xã hội và Chính phủ đang phải gánh chịu. LCOE của điện than ở Việt Nam cũng đã được tính toán với một mức thuế hay cũng được hiểu giá các-bon được áp dụng ở mức khiêm tốn là 10 đô la Mỹ/tấn CO2 để bù đắp cho những phí tổn mà các nhà máy điện than gây ra trong suốt vòng đời hoạt động. Áp dụng mức thuế này sẽ làm LCOE của loại hình điện năng này dao động ở mức 7,2 cent Mỹ đến 10,4 cent Mỹ (khoảng 1636 đồng đến 2636 đồng) để sản xuất 1kWh điện (UNDP, 2016), tùy thuộc vào công nghệ mà nhà máy điện than sử dụng và nguồn than là than nội địa hay nhập khẩu. Mức dao động chi phí này mới chỉ là giá bán điện tại cửa nhà máy, cần phải tính thêm trung bình 10% chi phí cho truyền tài và phân phối điện khi so sánh với giá bán lẻ trung bình là 7,6 cent Mỹ/kWh (1.727 đồng) (Bảng 10).

Kết hợp dừng trợ giá gián tiếp cho việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch để sản xuất điện với việc tăng nhẹ giá bán lẻ điện cũng sẽ giúp cho giá điện sản xuất từ NLTT trở nên cạnh tranh hơn. Tăng tỷ trọng NLTT trong nguồn cơ cấu điện không phải là nguyên nhân chính dẫn đến việc tăng giá điện nhưng điều này cũng rất có thể xảy ra trong điều kiện thị trường NLTT của Việt Nam còn non trẻ. Điện NLTT sẽ trở nên cạnh tranh hơn nếu áp dụng thuế hoặc chi phí vào các loại hình năng lượng sử dụng nhiên liệu hóa thạch để giải quyết những tổn thất ngoại biên, điều này cũng ít tác động đến giá điện tiêu dùng bởi vì lựa chọn cho NLTT sẽ tiếp tục rẻ hơn. Hơn nữa, năng lượng mặt trời và năng lượng gió được tạo ra khi có gió thổi và khi mặt trời chiếu sáng, và trong các thị trường phát điện cạnh tranh, người mua thường chọn nguồn năng lượng có giá rẻ nhất, như vậy NLTT sẽ trở thành yếu tố đẩy giá bán buôn của các nguồn điện khác xuống, và điều này thì đã được kiểm chứng ở các quốc gia khác.

Download toàn bộ tài liệu tại đây:

06012017_Booklet_Rosa_Viet version

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s