Hệ lụy Trung Quốc vươn ra toàn cầu – 3 kỳ

  • Kỳ 1: Tăng cường bành trướng
  • Kỳ 2: Nhà nước hà hơi tiếp sức
  • Kỳ 3: Xu thế đối đầu thế giới
Nhiều doanh nghiệp lớn của Trung Quốc được khuyến khích đầu tư ra nước ngoài.

***

SGĐT – LTS: Trong nhiều thập niên qua, Trung Quốc đã nổi lên như một cường quốc về đầu tư toàn cầu. Gần đây, nước này cũng trở thành một nguồn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (outward foreign direct investment – OFDI) tăng vọt, vào cả thị trường đang phát triển và phát triển. Cũng từ đó, Trung Quốc, đã chuyển đổi từ một nước xuất khẩu hàng hóa lớn sang một nước xuất khẩu vốn lớn. Hệ quả bức tranh kinh tế toàn cầu sẽ diễn biến ra sao?

Kỳ 1: Tăng cường bành trướng

Ngày nay, OFDI của Trung Quốc bao gồm nhiều thành phần khác nhau, từ các hợp đồng quốc tế, công ty liên doanh, công ty con tại nước ngoài cho đến hình thức mua bán sáp nhập và mua cổ phần. Sau khi tạo được các mối liên kết quốc tế thông qua bán hàng trực tiếp, các công ty Trung Quốc thường thiết lập các thỏa thuận hợp đồng ở nước ngoài (thí dụ các dự án cơ sở hạ tầng) và cuối cùng là đầu tư ra nước ngoài. Bằng cách đó, các công ty này đi theo con đường phát triển kinh tế được vạch ra bởi các công ty khác đến từ những nền kinh tế mới nổi đã có hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Vươn lên vị trí thứ 3 OFDI

Từ năm 2004 trở đi, đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc tăng đáng kể. Tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc tăng đạt 118 tỷ USD trong năm 2007 và vẫn tiếp tục gia tăng sau năm 2008, đối lập với xu hướng sụt giảm đầu tư nước ngoài toàn cầu. Năm 2013, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đạt 614 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc vẫn còn nhỏ so với tổng vốn đầu tư toàn thế giới, tuy nhiên, xét về dòng vốn đầu tư ra nước ngoài, Trung Quốc đã vươn lên xếp vị trí thứ 3 trong số 6 nước đầu tư dẫn đầu thế giới trong những năm qua.

 
Xuất nhập khẩu Trung Quốc tiếp tục chứng kiến nhiều thông số đáng lo ngại.

Các công ty Trung Quốc chủ yếu tập trung đầu tư tại châu Á và các thị trường mới nổi khác, trọng tâm là ngành sản xuất, khai khoáng và bán buôn bán lẻ. Tuy nhiên, mục tiêu của các công ty Trung Quốc là nhắm đến các nền kinh tế OECD lớn nhất (Đức, Anh, Canada, Hoa Kỳ). Như việc xây dựng nền tảng xuất khẩu để tiếp cận tốt hơn thị trường Bắc Mỹ, tăng cường các hoạt động của Trung Quốc tại Mỹ Latin.

Các công ty mở rộng hoạt động quốc tế có thể phân chia các loại: Những công ty xuất khẩu tập trung sử dụng một sản phẩm đơn lẻ hoặc một lĩnh vực thị trường đơn lẻ để đặt chân lên thị trường quốc tế. Những doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế trong các mảng công nghệ cao – như TCL trong lĩnh vực sản xuất tivi, Lenovo trong ngành công nghiệp máy tính, và Huawei và ZTE trong lĩnh vực viễn thông. Thành công của họ, một phần có được là nhờ biết dựa vào sự hỗ trợ của các cơ sở nghiên cứu trong nước. Doanh nghiệp khai thác tài nguyên đặt mục tiêu bảo đảm nguồn nguyên liệu thô. 3 công ty dầu khí lớn của Trung Quốc (Sinopec, Petrochina, CNOOC) đang hoạt động trong nhiều dự án dầu và khí thiên nhiên ở nhiều quốc gia, trong đó có các nước nhạy cảm về địa chính trị như Iraq và Iran.

 Liên doanh và thâu tóm

Các công ty Trung Quốc đang ngày càng cố gắng hội nhập vào thị trường toàn cầu thông qua hoạt động mua bán sáp nhập xuyên biên giới. Về cơ cấu OFDI, trong năm 2011, 44% vốn OFDI của Trung Quốc bao gồm hoạt động mua bán sáp nhập, trong khi 55% còn lại là đầu tư mới. Năm 2012, các công ty Trung Quốc ở đại lục tiến hành 191 vụ sáp nhập ở nước ngoài với trị giá  giao dịch cao kỷ lục đạt 65,2 tỷ USD, tăng vọt hơn 50% từ 42,4 tỷ USD trong năm 2011.

Cuối cùng, tương tự như doanh nghiệp ở các nền kinh tế mới nổi khác khi đầu tư ra nước ngoài, tài sản chiến lược quan trọng mà các công ty Trung Quốc đang cố gắng theo đuổi là tạo dựng những thương hiệu toàn cầu. TCL, công ty sản xuất tivi lớn thứ tư thế giới trong năm 2012, là một thí dụ điển hình. TCL là một trong các công ty Trung Quốc đầu tiên cạnh tranh với các công ty đa quốc gia lớn trên trường quốc tế. Trong những năm 2000, chiến lược của công ty đã được niêm yết này là tìm kiếm liên doanh với những nhà sản xuất nước ngoài hàng đầu và tìm kiếm các thương vụ sáp nhập xuyên biên giới. Trong năm 2002 và 2003, công ty này đã mua được Schneider, một doanh nghiệp phá sản của Đức và công ty Go Video có trụ sở ở Hoa Kỳ. Quan trọng hơn, vào năm 2004, TCL đã thành lập liên doanh với các hãng điện tử lớn có trụ sở tại Pháp là Thomson và Alcatel, trong đó, TCL lần lượt giữ 67% và 55% vốn cổ phần. Cho đến bây giờ, TCL hoạt động theo chiến lược đa thương hiệu (TCL, Thomson, Alcatel), và trải rộng hoạt động sản xuất và mạng lưới kinh doanh của mình đến rất nhiều quốc gia, một phần cũng nhờ vào những nền tảng vững chắc và các kênh phân phối của các công ty liên doanh.

Để hiểu được tầm quan trọng của việc hỗ trợ về mặt chính sách đối với xu hướng quốc tế hóa của Trung Quốc, cần phải xem xét cơ cấu kinh tế trong nước của quốc gia này. Nền kinh tế chính trị hiện tại của Trung Quốc là nền kinh tế thị trường điều tiết bởi nhà nước. Đây là một hình thức có sự can thiệp lớn của nhà nước – hệ quả từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, trình độ phát triển thấp nên được tập trung hỗ trợ phát triển tối đa.

—————

Kỳ 2: Nhà nước hà hơi tiếp sức

 

 

Nợ công phình to, bằng 250% GDP

Nếu như cả châu Âu phải gồng mình với món nợ công của Hy Lạp thì chỉ riêng một công ty nhà nước của Trung Quốc đã nợ đến 614 tỷ USD (gần gấp đôi món nợ của cả nước Hy Lạp). Nhân dân Nhật báo đã tung tín hiệu cảnh báo rằng sau khi mở van cho việc cung cấp tín dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc giờ đây phải giới hạn mức nợ công của mình nhằm ngăn chặn các khoản nợ khó đòi và tránh khủng hoảng tài chính.

Theo Nhân dân Nhật báo, nợ công Trung Quốc, vốn đã tăng cao và được chính quyền khuyến khích để vực dậy các hoạt động kinh tế đang bị khó khăn, không thể tiếp tục tăng triền miên. Theo đánh giá của Bloomberg Intelligence, nợ của Trung Quốc tổng cộng lên đến gần 250% GDP và các ngân hàng đang ghi nhận một đà tăng nhanh chóng của những khoản tín dụng khó đòi.

EU bác bỏ trao quy chế nền kinh tế thị trường cho Trung Quốc

Với 546 phiếu thuận và chỉ 28 phiếu chống, ngày 12-5, Nghị viện châu Âu (EP) đã thông qua nghị quyết bác bỏ việc trao quy chế nền kinh tế thị trường cho Trung Quốc. Đây là kết quả ngoài mong đợi của Trung Quốc, khi nước này hy vọng sẽ được Liên minh châu Âu (EU) chính thức trao quy chế nền kinh tế thị trường vào cuối năm nay.

Nghị quyết nêu rõ năng lực sản xuất dư thừa và xuất khẩu các mặt hàng giá rẻ của Trung Quốc đang gây ra “những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường, tình hình kinh tế – xã hội” cho các nước thành viên EU. Nghị quyết trên cũng cho biết có tới 56 trong tổng số 73 biện pháp chống bán phá giá hiện nay của EU là nhằm vào các sản phẩm nhập khẩu từ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này.

 

Tobias ten Brink, Đại học Goethe, Frankfurt (CHLB Đức)
***

Hệ lụy Trung Quốc vươn ra toàn cầu (K2)

 Kỳ 2: Nhà nước hà hơi tiếp sức

(ĐTTCO) – Để đạt được mục tiêu chiến lược vươn ra thế giới, trong những năm 2000, Trung Quốc đã thúc đẩy công cuộc tìm kiếm các dự án đầu tư sinh lời và những thị trường mới tiềm năng trên toàn cầu thông qua các chính sách kinh tế đối ngoại cụ thể. Từ đó, không chỉ ở châu Á, doanh nghiệp Trung Quốc bắt đầu “đổ bộ” vào các nước châu Phi, Mỹ Latin, châu Âu…

Nỗ lực nâng cấp doanh nghiệp

Tầm quan trọng của việc hỗ trợ về chính sách đối với nỗ lực vươn ra thế giới của các công ty Trung Quốc, ở mức độ lớn, bắt nguồn từ tham vọng phát triển thiên về kinh doanh nhằm gia nhập vào phân khúc thị trường công nghệ cao. Và không chỉ có các doanh nghiệp nhà nước được hỗ trợ. Ngày nay, các công ty tư nhân lớn cũng được các lãnh đạo nhà nước coi như “nhà vô địch của quốc gia”, xứng đáng nhận được các hỗ trợ về chính sách. Một động cơ khác thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc hỗ trợ cho chiến lược đầu tư ra nước ngoài là những biến động kinh tế-xã hội đáng lo ngại của quốc gia này. Một trong các vấn đề quan trọng mà chính phủ đã xác định vào những năm 2000 là các công ty mới chỉ cạnh tranh bằng cơ chế lương thấp. Do đó, cũng giống như các nền kinh tế mới nổi trước đây, Trung Quốc muốn tiến lên trong chuỗi giá trị và phát triển những nguồn lực sáng tạo nội sinh thêm lớn mạnh. Nhiều nỗ lực rộng khắp đã được thực hiện nhằm kết hợp tính sáng tạo của doanh nghiệp với các năng lực của nhà nước. Xu hướng hỗ trợ các công ty tiến ra toàn cầu, ở một mức độ lớn, xuất phát từ những nỗ lực “nâng cấp” này – và rõ ràng, các công ty đã được hỗ trợ thậm chí lớn hơn nhiều so với các nền kinh tế mới nổi khác cũng đang khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài.

Các chính sách khác nhau của nhà nước có thể phân thành nhiều loại, bao gồm hỗ trợ thực hiện dự án đầu tư nước ngoài, sử dụng quan hệ ngoại giao chính thức để thúc đẩy quan hệ kinh tế và đàm phán với chính phủ nước ngoài nhằm thiết lập các hiệp định đầu tư song phương. Kết quả là, quan chức nhà nước rất quan tâm đến việc duy trì những mối liên kết gần gũi với các cơ sở sản xuất và thị trường. “Xu hướng này phản ánh một khác biệt so với các nước, là hầu như chuyến công du nước ngoài nào của các quan chức cấp cao Trung Quốc hiện nay, đều bao gồm việc đi thăm các chi nhánh của Huawei tại nước ngoài” – các nhà quan sát đúc kết.

Các công ty Trung Quốc tận dụng những khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp của nhà nước, bao gồm các khuyến khích tài khóa, bảo lãnh tài chính và tín dụng từ các quỹ đầu tư quốc gia hoặc ngân hàng nhà nước để tiến hành các dự án khai thác nguyên liệu thô hay mua lại các công ty nước ngoài có hàm lượng công nghệ cao. Hội đồng Nhà nước Trung Quốc và một số bộ xây dựng các cơ chế quản lý riêng thúc đẩy quá trình quốc tế hóa. Các công ty đầu tư ra nước ngoài cũng nhận được sự hỗ trợ thông qua các mạng lưới thông tin quốc tế (tập hợp dữ liệu toàn cầu, liên kết nghiên cứu) hay các cơ chế đảm bảo rủi ro (trợ giúp bảo hiểm, các thỏa thuận bảo hộ lẫn nhau).

 

“Cuộc chơi” không sòng phẳng

Ngược lại với nhiều công ty đa quốc gia phương Tây, hầu hết các công ty Trung Quốc ít phụ thuộc vào thị trường vốn quốc tế hơn. Thay vào đó, họ dựa nhiều hơn vào các khoản cho vay từ ngân hàng nhà nước và các quỹ nội địa. Đặc biệt trong những năm bất ổn toàn cầu sau năm 2007-2008, nguồn vốn này cho phép các công ty tích lũy nguồn lực dự trữ. Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (EXIM) đảm nhiệm vai trò đặc biệt trong phương diện này bởi vì nó cung cấp các chương trình bảo hiểm, tín dụng và bảo lãnh cho các công ty Trung Quốc. Thêm nữa, các công ty có thể nhận được những khoản tín dụng ưu đãi để đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là các “lĩnh vực trọng yếu” như các dự án thăm dò tài nguyên. Các trung tâm nghiên cứu và phát triển ở nước ngoài được thành lập nhằm khai thác, tận dụng công nghệ tiên tiến quốc tế để ứng dụng, thúc đẩy tính cạnh tranh của doanh nghiệp Trung Quốc.

Các nhà hoạch định chính sách kinh tế Trung Quốc cho rằng, để phát triển và cải thiện nền kinh tế, các công ty quốc gia (có vốn nhà nước hoặc không) “phải được chăm sóc và nuôi dưỡng để thực hiện đầy đủ các chức năng mà công ty chi nhánh của nước ngoài khó có thể thực hiện”. Quan điểm chính sách này bắt nguồn từ chiến lược phát triển ưu tiên với lập luận rằng nếu các công ty Trung Quốc có khả năng cạnh tranh toàn cầu, thì họ sẽ đầu tư nhiều hơn vào thị trường trong nước, vốn đã dư thừa năng lực sản xuất. Mục tiêu của quá trình này là cải tiến nền kinh tế, đồng thời ngăn chặn các công ty đa quốc gia của nước ngoài thâu tóm ngành công nghiệp trong nước.

Khác xa nền kinh tế kế hoạch hóa, nền kinh tế chính trị của Trung Quốc là sự kết hợp giữa tập trung và phân hóa, đại diện cho hệ thống quản lý đa cấp được phân mảng, trong đó, các chỉ thị chính sách trung ương thường không được áp dụng đồng bộ. Do đó, khó có thể hiểu được nền kinh tế Trung Quốc nếu không đề cập đến sự phân mảng đa dạng dưới cấp độ trung ương cũng như vai trò của cạnh tranh giữa các công ty Trung Quốc, thậm chí giữa các doanh nghiệp nhà nước.

Nhiều doanh nghiệp lớn của Trung Quốc được khuyến khích đầu tư ra nước ngoài.

Liên quan đến hình thức không đồng nhất của chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc, được điều tiết bởi nhà nước, các nhà hoạch định chính sách không trực tiếp định hướng các doanh nghiệp lớn. Mặc dù chính quyền trung ương đã đưa ra “các hướng dẫn” chung để hỗ trợ OFDI với những điều kiện thuận lợi cho các công ty tuân thủ những hướng dẫn này, một loạt công ty hoạt động ngoài khuôn khổ vẫn được hỗ trợ từ nhà nước theo kiểu “xin-cho”. Rất nhiều dự án được giám sát ở cấp dưới, tạo nhiều điều kiện dễ dãi, cạnh tranh thiếu minh bạch. Việc phân mảng nhà nước Trung Quốc thành một hệ thống quản lý phức tạp dẫn đến những xung đột bùng nổ, không chỉ giữa các cơ quan trung ương chịu trách nhiệm về thương mại và chính sách đối ngoại mà còn giữa chính quyền trung ương và các địa phương.


Cơn sốt đầu tư chưa hạ nhiệt

Từ đầu năm tới nay giới đầu tư Trung Quốc đã “rót” hơn 70 tỷ USD vào Hoa Kỳ và châu Âu, bất chấp những khó khăn trong nước. Nhưng liệu những khoản đầu tư này có thực sự bền vững? Tờ Financial Times gần đây trích báo cáo của hãng luật Baker & McKenzie và Công ty tư vấn Rhodium Group cho biết, giới đầu tư Trung Quốc đã đổ vào Hoa Kỳ và châu Âu khoảng 38 tỷ USD trong năm 2015. Trong đó, đầu tư vào Hoa Kỳ là 15 tỷ USD, châu Âu là 23 tỷ USD. Phần lớn trong số này là đổ vào bất động sản và tài chính.

Các chuyên gia lo ngại, Trung Quốc là nước có thặng dư vốn nhưng lại chưa có công nghệ cao như Nhật Bản và Hàn Quốc nên sẽ khó có thể phát triển bền vững. Mục tiêu của Trung Quốc là dịch chuyển các cơ sở sản xuất thâm dụng nhiều lao động, hàng hóa giá rẻ và công nghệ không cao ra nước ngoài. Đây chính là hạn chế lớn nhất của các doanh nghiệp FDI Trung Quốc. Việc Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài còn giúp các doanh nghiệp Trung Quốc có cơ hội tiếp cận với những công nghệ mới và lợi dụng được “hai thị trường, hai nguồn tài nguyên”, tham gia mạnh hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong những đại dự án Trung Quốc đầu tư ra ngoài trong vòng 15 năm lại đây, nhiều dự án còn tạo ra hệ quả xấu. Đó là thúc đẩy tham nhũng ở những nước đến đầu tư, hoạt động không minh bạch, hoặc mức độ lan tỏa của dự án đối với người dân địa phương đó rất thấp, thấp hơn nhiều so với các dự án của các nước khác.

 

———————–

Bài 3: Xu thế đối đầu thế giới

Tobias ten Brink, Đại học Goethe, Frankfurt (CHLB Đức)
***

Hệ lụy Trung Quốc vươn ra toàn cầu (K3)

Kỳ 3: Xu thế đối đầu thế giới

(ĐTTCO) – Báo chí quốc tế không ít lần hình tượng hóa rằng “Trung Quốc đang mua cả Hoa Kỳ”, đề cập tới việc những công ty hàng đầu xứ cờ hoa đã và đang bị các chủ đầu tư đại lục mua lại. Mặc dù vậy, có thể nói Hoa Kỳ dẫu đóng vai trò quan trọng nhất nhưng cũng chỉ là một phần trong luồng chảy của dòng tiền từ Trung Quốc, một nền kinh tế đang bắt đầu ở giai đoạn thoái trào và buộc phải bành trướng sức ảnh hưởng ra các thị trường khác.

Cạnh tranh giành giật lợi nhuận, thị phần

3 công ty dầu khí quốc gia lớn nhất của Trung Quốc (Sinopec, Petrochina và CNOOC) là một thí dụ khác cho hiện tượng đối đầu, cạnh tranh nhau của các doanh nghiệp có vốn nhà nước nhưng theo đuổi lợi nhuận. Một mặt, các công ty này nhận được sự hỗ trợ lớn từ các thể chế chính phủ khác nhau, bao gồm nguồn tài chính để đầu tư ra nước ngoài, điều khiến các CEO phương Tây luôn phải than phiền là sự cạnh tranh không công bằng. Các dự án đầu tư nước ngoài của chính quyền Trung Quốc, thí dụ như trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, thường liên quan đến các thỏa thuận chính trị trong lĩnh vực hàng hóa. Một khoản cho vay 2 tỷ USD lãi suất thấp của Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc cho Angola có thể là lý do để Sinopec mà không phải là Shell và Công ty TNHH Dầu khí Tự nhiên của Ấn Độ nhận được giấy phép đầu tư ở một trong những giếng dầu quan trọng nhất của Angola. Mặt khác, Sinopec, Petrochina hay CNOOC không phải do nhà nước điều hành. Mối quan hệ của các công ty này với chính quyền Trung Quốc rất phức tạp và thường có những lợi ích đan xen bên trong.

Một nghiên cứu gần đây tổng kết, trong khi các công ty dầu khí lớn mô tả hoạt động đầu tư ra nước ngoài của họ theo khía cạnh hỗ trợ cho mục tiêu an ninh năng lượng quốc gia, thì “hành động của Trung Quốc dường như chủ yếu bị chi phối bởi các động lực thương mại, để tận dụng các cơ hội có sẵn trên thị trường toàn cầu”. Kết quả là, doanh nghiệp Trung Quốc hành động không khác nhiều so với các công ty dầu khí phương Tây, cạnh tranh với nhau để giành thị phần hay hợp đồng. Quyền tự quyết của họ xuất phát từ quy mô của công ty, điểm mạnh tương đối so với hệ thống quản lý năng lượng của chính quyền trung ương, cũng như các chi nhánh đã được niêm yết quốc tế, tăng thêm sự tự do tài chính. Mặc dù chính phủ có quyền hạn chỉ định và bãi nhiệm tổng giám đốc của các công ty, nhưng không phải lúc nào quyền sở hữu cũng tương đương với quyền kiểm soát. Thêm nữa, các công ty dầu khí Trung Quốc hiếm khi hợp tác với nhau. Trong hợp đồng dầu khí mới đây ở Brazil, chính chính phủ Brazil là tác nhân buộc những công ty Trung Quốc kết hợp các gói thầu của họ với nhau.

Một phân tích đầy đủ hơn về quá trình quốc tế hóa của chủ nghĩa tư bản Trung Quốc là cần thiết để tránh sai lầm khi mô tả OFDI của Trung Quốc hầu hết bị chi phối bởi chính sách. Trung Quốc không phải là một thực thể đồng nhất đang “mua toàn thế giới”, cũng không phải là quốc gia đang định hướng quá trình quốc tế hóa của các công ty trong nước theo bất kỳ kế hoạch toàn diện tổng thể nào. Thậm chí đối với các công ty nhà nước, quyền sở hữu chính phủ không phải lúc nào cũng là quyền kiểm soát. Định nghĩa đúng hơn về các công ty này là doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước chứ không phải doanh nghiệp do nhà nước điều hành.

 

Nền kinh tế Trung Quốc mang đậm yếu tố của hình thức chủ nghĩa tư bản phi tự do.

 

Tái cấu trúc cạnh tranh toàn cầu

Bằng cách “vươn ra toàn cầu” các công ty đa quốc gia mới nổi của Trung Quốc đã trở thành những đối thủ cạnh tranh thật sự đối với các công ty quốc tế khác đang tồn tại trên thị trường. Tiến trình quốc tế hóa theo kiểu Trung Quốc đang gia tăng và từ đó thâm nhập vào thị trường của các công ty đa quốc gia sẽ dẫn đến việc tái cấu trúc quan hệ cạnh tranh toàn cầu. Có những lo ngại rằng Trung Quốc đủ lớn và đủ sức ảnh hưởng để trở thành bên định giá (price maker), có thể bóp méo giá cả và thị trường thế giới. Trong thời gian hiện tại, dòng vốn FDI đi ra của Trung Quốc chưa đủ lớn để bóp méo tổng giá cả tài sản toàn cầu, tuy nhiên điều này sẽ thay đổi trong những năm tới.

Xu hướng “vươn ra toàn cầu” của các công ty Trung Quốc còn khiến những giới hạn cạnh tranh gia tăng. Do đó không có gì ngạc nhiên khi các công ty đa quốc gia như BP hay ExxonMobile (trong lĩnh vực năng lượng, cùng với Sinopec, Petrochina hay CNOOC), Hewlett-Packard hay Dell (trong lĩnh vực công nghệ thông tin, cùng với Lenovo), Ericsson, Nokia Siemens Networks hay Cisco (trong lĩnh vực hạ tầng viễn thông, cùng với Huawei hay ZTE) hay Caterpillar và Komatsu của Nhật Bản (trong lĩnh vực công nghiệp máy móc xây dựng), lo lắng về tương lai phát triển. Một tương lai mà trong đó các công ty Trung Quốc có thể đối đầu trực tiếp với họ và, cùng lúc, trở nên độc lập hơn với mạng lưới sản xuất toàn cầu thống trị bởi phương Tây. Các công ty này lo sợ sẽ thua cuộc trong trận chiến giành các đơn hàng lớn từ những nền kinh tế mới nổi và đang hưng thịnh khác.

Hoạt động “vươn ra toàn cầu” của Trung Quốc ẩn chứa nhiều yếu tố căng thẳng với xu hướng đối đầu không khoan nhượng trên bàn cờ kinh tế thế giới. Các công ty Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài đang cạnh tranh trong cùng một lĩnh vực sản phẩm với các công ty đa quốc gia của phương Tây và các công ty từ những nền kinh tế mới nổi khác, làm gia tăng áp lực trên thị trường thế giới vốn đã khó khăn với việc dư thừa công suất. Nền kinh tế Trung Quốc được điều tiết bởi nhà nước, mang đậm yếu tố của hình thức chủ nghĩa tư bản phi tự do, nên bị cộng đồng quốc tế xem xét với mối nghi ngại lớn.

 

 

Trung Quốc hủy hoại kinh tế toàn cầu

Phòng Thương mại Liên minh châu Âu ở Trung Quốc (EUCC) cảnh báo sản xuất dư thừa trong các ngành công nghiệp nặng ở Trung Quốc không chỉ hủy hoại kinh tế toàn cầu mà còn đe dọa tăng trưởng kinh tế của nước này. “Bắc Kinh không tuân thủ chính những biện pháp mà nước này đưa ra trong thập niên qua để giải quyết vấn đề năng suất dư thừa” – Chủ tịch EUCC Joerg Wuttke chỉ trích.

Các số liệu thống kê cho thấy chỉ tính riêng sản lượng thép của Trung Quốc đã nhiều hơn 4 lần tổng sản lượng của Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Kỳ và Nga – 4 nhà sản xuất thép hàng đầu thế giới. Trong khi đó, sản lượng xi măng “ra lò” tại Trung Quốc trong 2 năm qua đã tương đương con số của Hoa Kỳ sản xuất trong suốt thế kỷ 20. Trong nỗ lực giảm thiểu thiệt hại, EU vừa mở cuộc điều tra chống bán phá giá mới nhằm vào ngành thép Trung Quốc.

 

Tobias ten Brink, Đại học Goethe, Frankfurt (CHLB Đức)

 
 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s