Việt Nam các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Việt Nam và các MDG

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rất ấn tượng trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và đã hoàn thành một số mục tiêu – ví dụ Mục tiêu 1 về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói – mặc dù còn rất lâu nữa mới đến thời hạn năm 2015. Việt Nam cũng đang trong tiến trình hướng tới hoàn thành một số mục tiêu khác nữa. Nếu Việt Nam muốn đạt được tất cả các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ trên cơ sở đảm bảo bình đẳng, thì điều quan trọng là cần duy trì những tiến bộ đã đạt được, hướng tới giải quyết những sự chênh lệch đang gia tăng, tính đến các nguy cơ và giải quyết những thiếu hụt còn tồn tại.

mdg_1MTPTTNK 1: Xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói 

Trong tất cả các Mục tiêu Thiên niên kỷ, Việt Nam đạt được tiến bộ ấn tượng nhất ở Mục tiêu Thiên niên kỷ 1 về giảm nghèo. Việt Nam đã giảm được 75% tỷ lệ nghèo, từ 58,1% năm 1993 xuống còn 14,5% năm 20081. Tỷ lệ thiếu đói giảm hơn 2/3, từ 24,9% năm 1993 xuống còn 6,9% năm 2008. Tỷ lệ nghèo đã giảm đi ở tất cả các nhóm nhân khẩu, các khu vực thành thị cũng như nông thôn và trên khắp các vùng miền địa lý. Kết quả đạt được trong việc hạn chế tỷ lệ suy dinh dưỡng cũng rất lớn, giảm từ 41% xuống còn 11,7% năm 2011.

pdfTải tờ tin về việc thực hiện MDG 1 của Việt Nam tại đây

mdg_2MTPTTNK 2: Phổ cập giáo dục tiểu học 

Việt Nam đã có được những tiến bộ đáng kể trong việc đạt được phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 2009, tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học là 95,5%, tỷ lệ hoàn thành tiểu học là 88,2% và tỷ lệ người dân từ 15-24 tuổi biết đọc biết viết là 97,1%. Tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học của trẻ em trai và trẻ em gái chỉ chênh nhau có 1%.

pdfTải tờ tin về việc thực hiện MDG 2 của Việt Nam tại đây

mdg_3MTPTTNK 3: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ 

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ lớn về các mục tiêu bình đẳng giới. Việt Nam đã rất thành công trong việc nâng cao tỷ lệ trẻ em gái học tiểu học và trung học cơ sở. Hiện tại, tỷ lệ nhập học tiểu học đối với trẻ em gái là 91,5% và trẻ em trai là 92,3%. Tỷ lệ nhập học trung học cơ sở là 82,6% đối với trẻ em gái và 80,1% đối với trẻ em trai. Tỷ lệ nhập học trung học phổ thông của trẻ em gái là 63,1% và của trẻ em trai là 53,7%. Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động là 73% trong khi tỷ lệ của nam giới là 82%. Hiện nay, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội là 24,4%.

 Tải tờ tin về việc thực hiện MDG 3 của Việt Nam tại đây

mdg_4MTPTTNK 4: Giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em 

Việt Nam đã đạt được các mục tiêu về giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi và trẻ sơ sinh, với cả hai tỉ lệ trên đều giảm một nửa từ năm 1990 đến năm 2006. Tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm từ 44,4 trên 1.000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 14 trên 1.000 ca đẻ sống năm 2011 (MICS 2011). Tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi cũng đã giảm đáng kể, từ 58 trên 1.000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 16 năm 2011 (MICS 2011). Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị nhẹ cân giảm từ 25,2% năm 2005 xuống còn 18,9% năm 2009.

 Tải tờ tin về việc thực hiện MDG 4 của Việt Nam tại đây

mdg_5_altMTPTTNK 5: Nâng cao sức khỏe bà mẹ 

Tỷ suất tử vong mẹ đã giảm một cách đáng kể trong vòng hai thập kỷ qua, từ 233 ca chết trên 100.000 ca sinh sống vào năm 1990 xuống còn 69 ca chết trên 100.000 ca sinh sống vào năm 2009, giảm khoảng 2/3 số ca tử vong mẹ liên quan đến thai sản đã trở nên an toàn hơn. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao tiếp cận sức khỏe sinh sản cho tất cả mọi người bao gồm chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh; kế hoạch hóa gia đình; tăng cường việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại; xây dựng các chương trình, chính sách và luật pháp về sức khỏe sinh sản và quyền, cũng như các dịch vụ có chất lượng tới người nghèo và các nhóm dân số dễ bị tổn thương.

 Tải tờ tin về việc thực hiện MDG 5 của Việt Nam tại đây

mdg_6_alt_2MTPTTNK 6: Ngăn chặn HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác 

Việt Nam đã có tiến bộ đáng kể trong việc xây dựng khung pháp lý và chính sách liên quan đến HIV vào năm 2012. Một chiến lược quốc gia mới về HIV đến năm 2015 phù hợp với các mục tiêu toàn cầu đã được thông qua. Việt Nam cũng đã phê duyệt chương trình Mục tiêu Quốc gia đầu tiên về HIV/AIDS cho giai đoạn 2012-2015. Tỷ lệ lây nhiễm HIV ước tính ở mức 16,7% năm 2009 đối với nam giới có quan hệ tình dục đồng giới, 13,4% đối với nam giới tiêm chích và 3% năm 2011 đối với phụ nữ làm nghề mại dâm. Từ tháng 12 năm 2009 đến cuối năm 2011, tổng số người được điều trị kháng vi rút (ART) đã tăng 1,5 lần với độ bao phủ ART ở mức 53% đối với người lớn và 83% đối với trẻ em. Tuy nhiên, mặc dù đã đạt được những tiến bộ ấn tượng như vậy song Việt Nam vẫn có khả năng không đạt được mục tiêu của MDG trong việc đẩy lùi dịch HIV/AIDS.

Các bước tiến rất ấn tượng của Việt Nam trong lĩnh vực phòng, chống sốt rét cho thấy Việt Nam đã đạt được mục tiêu MDG về phòng, chống sốt rét. Việt Nam cũng được công nhận là đã khống chế rất tốt các dịch bệnh khác như SARS, H5N1 và H1N1.

 Tải tờ tin về việc thực hiện MDG 6 của Việt Nam tại đây

mdg7_altMTPTTNK 7: Đảm bảo bền vững môi trường 

Việt Nam đã và đang đạt được những tiến bộ đáng khích lệ về bền vững môi trường nhưng đến năm 2015 có nhiều khả năng sẽ không đạt được MDG 7. Biến đổi khí hậu đang khiến cho việc đạt được các mục tiêu quan trọng của MDG ngày càng khó hơn. Các thành tựu đã đạt được cho đến nay bao gồm đưa các nguyên tắc phát triển bền vững vào chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (giai đoạn từ 2011 đến 2020) và vào các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (giai đoạn từ 2006 đến 2010 và từ 2011 đến 2015). Diện tích rừng bao phủ tăng từ 28,8% năm 1990 lên 39,5% tổng diện tích đất năm 2010. Hơn 96% tổng số hộ gia đình đã được sử dụng năng lượng hiện đại và được sử dụng điện lưới.

Mặc dù tỷ lệ khí thải nhà kính của Việt Nam thấp, chỉ chiếm 0,3% tổng lượng khí thải toàn cầu năm 2004 song lượng khí thải CO2 tính theo đầu người đã tăng bốn lần trong giai đoạn 1990-2008. Việc sử dụng năng lượng (tương đương kg dầu) trên 1.000 đô la GPD (PPP) giảm từ 407 năm 1990 xuống còn 267 năm 2008.

Trong khi đó, năm 2011, 92% hộ gia đình đã được sử dụng nước sạch an toàn, tăng lên từ mức 78,7% vào năm 2000. Các hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước sạch tăng từ 73,5 lên 89,4% trong thập kỷ qua. Năm 2011, 78% tổng số hộ gia đình và 71,4% các hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng hố xí hợp vệ sinh, tăng lên từ mức 44,1% và 32,5% vào năm 2000. Tỷ lệ dân sống trong nhà tạm giảm từ 15,9% năm 1999 xuống còn 7,8% năm 2009.

 Tải tờ tin về việc thực hiện MDG 7 của Việt Nam tại đây

mdg_8MTPTTNK 8: Xây dựng quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển 

Công tác giảm nghèo và phát triển bền vững có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động thương mại xóa nợ và viện trợ, và có thể được thúc đẩy tốt hơn thông qua việc xây dựng các mối quan hệ đối tác toàn cầu. Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến lớn trong việc xây dựng các mối quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển kể từ năm 2000, trong đó có việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, mở rộng hợp tác với ASEAN, làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ trong một nhiệm kỳ (2008-2009), và tham gia trong một số hiệp định thương mại tự do mới. Để đảm bảo công bằng xã hội và tính bền vững của quá trình phát triển đất nước, cần có những mối quan hệ đối tác liên tục và mở rộng ở tất cả các lĩnh vực trong những năm sắp tới.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s