Nông lâm kết hợp: giải pháp ngày càng phổ biến cho một thế giới nóng và đói khát

Thoạt nhìn, các vùng phía Tây Cameroon trông có vẻ tươi tốt [phủ xanh bởi cây cối và rừng], nhưng khi nhìn gần hơn thì thấy đất đai ở khu vực này đã bị suy thoái do canh tác quá mức, kỹ thuật canh tác không bền vững, thảm thực vật bị tàn phá do bị khai thác làm củi và cháy rừng.

Tuy nhiên, ở một số khu vực vẫn tràn ngập đa dạng sinh học: cà phê phát triển dưới bóng mát của cây chuối, gần đó là những cây mận Châu Phi (tên địa phương là cây safou), cây cô la, cam và các loại cây lấy gỗ như gỗ gụ. Đối với người không chuyên thì đây trông giống như một khu rừng tự nhiên, nhưng thực tế đó là một hệ thống nông lâm – kết hợp cây cho bóng mát với cây trồng.

 [Hệ thống nông lâm kết hợp điển hình ở vùng Tây Bắc của Cameroon với chuối và các loại quả địa phương và cây lấy gỗ. Ảnh Ebernezar Asaah]

‘Hệ thống này mô phỏng những gì bạn có thể quan sát được từ một khu rừng điển hình, bởi vì bạn có thể tìm thấy ít nhất ba cấu trúc riêng biệt thuộc nhiều giống loài khác nhau và tất cả đều đang phát triển một cách tối ưu’ – Chuyên gia nông lâm và an ninh lương thực người Cameroon Ebenezar Asaah cho biết. Ông từng quản lý chương trình Sản phẩm nông nghiệp và cây cối ở miền Tây cao nguyên của Cameroon từ năm 2007 – 2009. Theo cái nhìn của một nông dân, ông giải thích, sức mạnh của hệ thống nông lâm kết hợp là những loại cây khác nhau cung cấp các sản phẩm khác nhau ở các thời điểm khác nhau trong năm, tạo thêm nguồn thu nhập cho nông dân trong thời điểm chi phí canh tác tăng cao, cộng thêm chi phí dành cho thực phẩm, thuốc thang và các loại chi phí khác.

Mặc dù cũng được áp dụng ở Mỹ, Châu Âu và Úc, nhưng hệ thống nông lâm kết hợp được áp dụng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở đây, hệ thống nông nghiệp hiện đại yêu cầu đầu vào cao thường không giúp đảm bảo an ninh lương thực và tính bền vững, và người dân thường cần đến nguồn thu nhập từ những sản phẩm không bị ảnh hưởng bởi thương mại quốc tế. Tuy nhiên, hệ thống nông nghiệp này có lợi cho an ninh lương thực ở các nước nhiệt đới nhiều hơn: cách này giúp hạn chế thoái hóa rừng, bảo tồn đa dạng văn hóa và chống lại sự biến đổi khí hậu.

Thuật ngữ nông lâm kết hợp được hình thành vào những năm 1970, và ví dụ phổ biến nhất là hệ thống cà phê và cacao trồng dưới bóng mát. Nhưng kiến thức về hệ thống này vẫn còn hạn chế ‘Có rất nhiều định nghĩa trong các bài báo khoa học’ – Roger Leakey- một chuyên gia và một tác giả hàng đầu cho biết. ‘Cá nhân tôi thì định nghĩa đây là một hệ thống tạo ra một liên hợp sinh thái nông nghiệp bằng cách trồng cây. Điều này có nghĩa là bằng cách trồng cây, bạn đã tạo ra một hình thái thời tiết thu nhỏ mà ở đó cho phép tất cả các loại sinh vật hoang dã sống trong đất và môi trường sống trên máy đất, và từ đó bắt đầu tạo ra một hệ sinh thái nhiều chức năng hơn bên trong nông trại.

[Xen canh giữa cây cao su và cây lương thực]

Lợi ích môi trường

Ông Leakey đã chỉ ra rằng hệ thống nông lâm không chỉ giúp tăng tăng suất của đất và giảm nghèo, nó còn giúp bảo vệ môi trường. Giống như trong một hệ sinh thái – ông cho biết thêm, đa dạng sinh học tăng lên khi hệ thống sinh thái nông nghiệp trưởng thành. Việc tăng lên bao nhiêu tùy thuộc vào số lượng loại cây được trồng.

Như đã được chứng minh từ các nghiên cứu xuất hiện ngày càng nhiều, hệ thống nông lâm kết hợp duy trì mức độ đa dạng sinh học cao hơn các hệ thống nông nghiệp khác. Điều này là do hệ thống này cung cấp môi trường sống phù hợp với các giống loài phụ thuộc vào rừng nhưng lại là nguyên nhân gây suy thoái rừng.

Bằng cách áp dụng hệ thống nông lâm, chúng ta có thể phục hồi 35% đất nông nghiệp đã bị suy thoái, và nông dân sẽ không có nhu cầu phá rừng, điều này có thể giảm áp lực lện những khu rừng tự nhiên và rừng cây’ – Ông Leakey nói. Tuy nhiên ông cũng lưu ý, hệ thống nông lâm cho thấy mức độ đa dạng sinh học thấp hơn rừng tự nhiên.

‘Điều này luôn là một con dao hai lưỡi’ – ông Ravi Prabhu, phó giám đốc Trung tâm quốc tế về Nghiên cứu nông lâm (ICRAF) cho biết. ICRAF là một tổ chức hàng đầu về nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp đóng tại Nairobi, Kenya.

Ông Prabhu cho rằng hệ thống nông lâm kết hợp nhìn chung có lợi đối với đa dạng sinh học, trừ trường hợp rừng nguyên sinh hoặc đồng cỏ giàu giống loài được chuyển hóa thành rừng nông lâm. Điều này có thể khiến đa dạng sinh học bị giảm.

‘Nếu việc chuyển đổi đối với các trường hợp trên là không thể tránh khỏi – thì nên làm! – sau đó việc chuyển sang hệ thống nông lâm đa loài sẽ tốt hơn là hệ thống độc canh dầu cọ, như thông lệ’ – ông nói. Trong phần lớn các trường hợp, sau đó, hệ thống nông lâm kết hợp là một cách để phục hồi đất nông nghiệp và góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu tác động và thích ứng với biến đổi khí hậu, mặc đù việc này chưa được tính toán một cách hệ thống đối với ngân quỹ các bon toàn cầu hoặc tài khoản các bon quốc gia.

[Dầu cọ được trồng với cây ‘jelutung’, cây cho mủ cao su và dừa]

‘Điều chúng ta biết là hệ thống nông lâm kết hợp bao phủ trên 1 tỷ héc ta đất, gần bằng diện tích của Canada. Diện tích đất này được ước tính dựa vào nghiên cứu do đồng nghiệp của tôi là Zomer và cộng sự xuất bản trên tạp chí Nature. Diện tích này giúp hấp thụ hoặc loại bỏ 0.73 gigaton CO2 tương đương trong khí quyển mỗi năm trong 10 năm qua’ bằng cách lưu trữ các bon trong cây lâu năm và các thành tố hữu cơ trong đất – ông Prabhu nói.

‘Có sự khác biệt đáng kể ở cả tỷ lệ hấp thụ và lưu trữ các bon trọn đời giữa và trong các hình thức canh tác khác nhau’ – Ông Eric Toensmeier, chuyên gia và tác giả về nông lâm cho hay. ‘Các hệ thống nông lâm kết hợp thường có xu hướng dựa trên việc kết hợp các loại cây có giá trị cao vào các cây trồng hàng năm, hoặc đồng cỏ giúp tăng đáng kể việc hấp thụ hàng năm và trọn đời.

‘Các vườn ở vùng nhiệt đới, một loại hệ thống nông lâm đa tầng, được coi là có đa dạng sinh học cao nhất trong các hệ thống sinh thái do con người thiết kế’ – Ông Toensmeier cho biết thêm, nhấn mạnh vào thực tế rằng rừng nông lâm có thể có tác dụng như các hành lang hoang dã giữa các vùng đất nguyên bản, và việc tỉa cành làm củi đốt thay vì đốn hạ hoàn toàn sẽ giúp giảm suy thoái rừng ở những vùng mà củi là nhiên liệu chính. Ông Leakey lưu ý trong một nghiên cứu được đề cập trong cuốn sách mà ông là tác giả, ‘Sống cùng các loại cây cối của cuộc đời’ (Living with the trees of life). Nghiên cứu này cho thấy các khu vườn trong hộ gia đình ở Indonesia chứa 60-70% các loài động vật từ các khu rừng lân cận.

Năng suất cao hơn?

Đất đai màu mỡ là điều cần thiết để đáp ứng nhu cầu lương thực toàn cầu ngày càng gia tăng. Dân số toàn cầu có thể đạt đến 10 tỷ người vào năm 2050, và theo Tổ chức nông lâm thế giới (FAO), hệ thống nông lâm kết hợp là một trong những hệ thống nông nghiệp nên được đầu tư, do hệ thống này giúp tăng cường tài nguyên thiên nhiên trong khi vẫn giúp tăng năng suất.

Ví dụ, các cây họ đậu giúp hấp thụ ni tơ, là một dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của cây, từ không khí và giải phóng vào đất. Các giống cây cố định ni tơ này thường được dùng trong các hệ thống nông lâm kết hợp và canh tác nông nghiệp. Một nghiên cứu năm 2014 cho thấy việc kết hợp các loại cây như cây keo hoặc một loại keo khác có tên Faidherbia Albida giúp gia tăng năng suất của đất bị thoái hóa, giúp gia tăng năng suất cây trồng từ 89 đến 318%. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng hệ thống nông lâm kết hợp giúp cải thiện cấu trúc đất, và tăng cường hệ thống thoát nước, đặc biệt là trong giai đoạn ẩm ướt. Ví dụ, các tác giả tìm thấy rằng phía Tây Zambia và Zimbabwe, tỷ lệ thâm nhiễm ở trạng thái ổn định tăng 42 – 600% khi ngô được luân canh với các cây họ đậu so với hệ thống độc canh ngô. Thời gian nước tràn cũng dài hơn 40 – 133% và việc thoát nước cũng được cải thiện 88 – 900%.

[Ngô được trồng dưới bóng giống cây cố định ni tơ Faidherbia albida – một loại keo]

 Đối với các khu vực nóng và khô như vùng Sahel ở Châu Phi, nông dân ngày càng áp dụng hệ thống nông lâm nhiều hơn vì cây trồng sinh trưởng tốt hơn dưới bóng các loại cây cối so với điều kiện không bóng mát, do bóng mát giúp giảm nhiệt độ bề mặt của đất. Đồng thời, rễ các loại cây cho bóng mát hoạt động như máy bơm thủy lực, đưa nước lên bề mặt từ độ sâu lên tới 20m so với mặt đất, giúp cung cấp nước cho cây trồng kể cả trong điều kiện không có mưa.

Kiến thức bản địa

Đến thời điểm này, người dân bản địa là những người áp dụng và kiến tạo các hệ thống nông lâm; họ đã thực hành hàng nhiều thế kỷ, và truyền bá kiến thức từ thế hệ này qua thế hệ khác, chỉnh sửa và thích nghi hệ thống của họ thông qua thực hành và quan sát.

Bà Antonella Cordone, chuyên gia kỹ thuật cao cấp về vấn đề người bản địa và bộ tộc tại Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD), tin rằng một vấn đề quan trọng mà thế giới có thể học hỏi từ họ là làm thể nào để kết hợp cách tiếp cận bền vững và liên hợp để quản lý hệ sinh thái một cách đa năng.

Bà Cordone nhấn mạnh thực tế rằng khi làm việc với cộng đồng, cách tiếp cận được chọn cần phải dựa trên một cuộc điều tra mang tinh thần học hỏi, được xây dựng dựa trên kỹ năng và kiến thức của người bản địa và tránh các phương pháp tiếp cận kỹ thuật mà theo đó giải pháp được đề xuất từ những người ngoài. ‘Các chuyên gia trong hệ thống nông lâm hiện đại có thể giúp cộng đồng địa phương tới mức độ mà họ có thể lắng nghe người dân bản địa và công đồng địa phương và công nhận rằng kiến thức của người bản địa không hề thấp kém hơn so với khoa học kỹ thuật chính thống’, Bà viết trong một email trả lời Mongabay.

Ông Leakey cũng đồng ý với điều này. Ông chỉ ra rằng khi ông vẫn còn là giám đốc nghiên cứu của ICRAF, họ đã phát triển một phương pháp rất thành công mang tên ‘thuần hóa có sự tham gia’, là một phương pháp từ dưới lên bao gồm việc liên kết với các nông dân địa phương từ ngày đầu, và hỗ trợ họ để canh tác các loại cây mà họ cảm thấy có lợi nhất cho họ.

Ông Syed Ajijur Rahman, tư vấn viên của Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) ở Bogor, Indonesia, trả lời Mongabay bằng email rằng ‘kiến thức của họ đối với đất đai địa phương sẽ giúp họ lựa chọn cẩn trọng các khu vực để trồng cây, cùng với kỹ thuật trồng cây tốt hơn (như các cây bị phân hủy được thay thế khi cần), kết quả là tỷ lệ thiết lập và tăng trưởng của cây tăng cao.

[Thu hoạch nhựa damar ở Sumatra. Rừng Damar rất giàu động vật hoang dã]

Ông Rahman cũng tin rằng hệ thống nông lâm có thể giúp khôi phục và lưu giữ truyền thống của người bản địa, do nó cho phép họ thu hoạch các loại cây trông có giá trị văn hóa với họ và được sử dụng trong các nghi thức tôn giáo và xã hội.

Lựa chọn hệ thống phù hợp

Các hệ thống nông lâm có thể được phát triển trong một kết hợp gần như vô hạn các loài cây, với các kết hợp thời gian và không gian khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu của nông dân và loại hệ thống sản xuất – nhà nghiên cứu về hệ thống nông lâm Robert O’Hagan cho hay.

‘Việc tìm một hệ thống chuẩn đối với bất kỳ tình huống nào có thể rất khó khăn’, ông nói, nhấn mạnh rằng việc lắng nghe nhu cầu của các cộng đồng địa phương là cần thiết, và các hướng dẫn thực hành tốt nhất sẽ không có tác dụng đối với tất cả các tình huống mà nên được điều chỉnh dựa trên từng trường hợp.

‘Các dịch vụ đào tạo và khuyến nông giúp cải thiện kỹ năng quản lý cho nông dân nông lâm thường là chìa khóa thành công, do quản lý cây và tối đa hóa sự tương tác có lợi giữa cây cối và cây trồng thường đòi hỏi nhiều kỹ năng hơn là hệ thống nông nghiệp không bóng mát’ – Ông O’Hagan nói. Ông cho biết thêm các chương trình khuyến khích và tín dụng có thể là cần thiết để vượt qua những chi phí đầu tư ban đầu, đôi khi khá cao, và lợi nhuận thấp trong giai đoạn thiết lập hệ thống nông lâm kết hợp.

Ông Leakey đồng tình rằng một khi nông dân bắt đầu tham gia vào nền kinh tế tiền mặt, các khỏan vay quy mô nhỏ sẽ trở nên thích hợp; nhưng trước đó, nhu cầu chính là đào tạo và xây dựng năng lực. ‘Một trong những ưu điểm của hệ thống nông lâm kết hợp là nó không đòi hỏi người nông dân phải có khoản đầu tư nào ngoài thời gian và sức lực’, ông nói. Điều này là lý do tại sao hệ thống này thường thích hợp với nông dân tự cung tự cấp.

 

[Một nông dân với sắn được thu hoạch từ rừng nông lâm kết hợp với cây cao su ở Nigeria]

‘Tôi thích sử dụng thuật ngữ ‘Trở về tương lai’ để mô tả hệ thống nông lâm kết hợp, vì đây là hệ thống nông nghiệp chủ đạo trên toàn thế giới kể từ giữa thế kỷ 19’, ông Prabhu, chuyên gia của ICRAF nói. Cơ giới hóa đã xuất hiện ở các đồng cỏ ở Mỹ, ông nói, trước khi lan ra các nước đang phát triển, nhưng các phương pháp được phát triển ở Trung tây nước Mỹ không phải lúc nào cũng phù hợp với các nước nhiệt đới.

‘Hầu hết người dân ở các nước công nghiệp bị tẩy não rằng nếu có một cái cây ở giữa đồng thì tốt nhất là nên cắt nó đi, để không cản trở máy cày hoạt động’ – ông Leakey nói.

Ông cho rằng đây chính là một lý do tại sao các nhà hoạch định chính sách và công chúng thấy mô hình nông lâm khó hiểu. ‘Chúng tôi không phải là những ‘chiến binh sinh thái’. Chúng tôi chỉ rất thực tế, logic và lý trí trong việc phát triển một hệ thống nông nghiệp hiệu quả, năng suất, bền vững và đa năng.

Đây là bài viết đầu tiên trong chuỗi bài một năm về hệ thống nông lâm toàn cầu.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s