75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói – 6 bài

Người đàn bà khóc đứa con vừa lọt lòng đã bị chết trong nạn đói 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

***

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 1 – Nơi chết đói nhiều nhất miền Bắc

08/04/2019, 06:30 (GMT+7)

Chưa bao giờ Việt Nam xảy ra một thảm họa lớn như thế cả về số lượng người chết lẫn quy mô của vùng bị nạn, có lẽ chỉ thua cuộc chiến chống Mỹ 1954-1975 nhưng thời gian nạn đói 1944-1945 thì có 6-7 tháng. Hàng triệu người chết đói nay tuy thân xác đã tiêu tan mà vẫn còn để lại nỗi đau trong lòng con cháu, vì sao họ lại ngã xuống, vì sao không có sự bù đắp, vì sao không một tượng đài… Tiếp tục đọc “75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói – 6 bài”

Vùng ngọt hóa thời chưa ngăn đập

Hoàng Quân – Tuyết Nhi – Thứ Tư,  16/1/2019, 23:01 

(TBKTSG Online) – Mặc dù có quá nhiều cuộc trãnh cãi của các chuyên gia, nhà quản lý, còn báo chí tốn không ít giấy mực, cuối cùng Chính phủ đã đồng ý khởi công xây dựng dự án Cái Lớn – Cái Bé. Quên cái khen chê của dự án hàng ngàn tỉ này, hãy cùng chúng tôi đi vào vùng đất “được” ảnh hưởng của đại dự án thủy lợi để hiểu hơn những gì nơi đây đang có.

Một người dân sống hơn 50 năm ở gần cống Cà Mau than thở: “Trước khi có cống tàu ghe qua lại dễ, tôm cá dữ trời lắm. Bây giờ bỏ cống cả chục năm mà dòng sông chưa được hồi sinh hẳn, kiếm cá ăn rất khó khăn”.

Sau nhiều tranh cãi, dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé được phê duyệt
Cần thận trọng với dự án Cái Lớn – Cái Bé
Chuyên gia: Không cần thiết phải xây dựng dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé
Nhìn lại các công trình ngăn mặn hiện có ở ĐBSCL Tiếp tục đọc “Vùng ngọt hóa thời chưa ngăn đập”

Sửa chữa sai lầm 20 năm ở ĐBSCL

Nam Nguyên, phóng viên RFA, 2016-09-23Một cánh đồng lúa khô hạn tại một tỉnh phía Nam vùng đồng bằng Sông Cửu Long hôm 2/3/2016.

Một cánh đồng lúa khô hạn tại một tỉnh phía Nam vùng đồng bằng Sông Cửu Long hôm 2/3/2016.  AFP photo

RFA – Biến đổi khí hậu, thủy điện các nuớc thượng nguồn làm giảm lưu lượng nước sông Mekong về Việt Nam. Nhưng việc phát triển đê bao ồ ạt ở đồng bằng sông Cửu Long để tăng diện tích sản xuất lúa, đặc biệt làm lúa vụ ba trong mùa lũ, đã làm cho khả năng chống hạn mặn ở khu vực này bị hạn chế, nếu chưa phải là vô hiệu hóa.

Các nhà khoa học đã nhiều năm liên tục báo động về việc hệ thống đê bao, bờ bao dài 13.000 km đã phá vỡ thiên nhiên, làm mất vùng trữ lũ khổng lồ ở khu vực tứ giác Long Xuyên. Ngày 20/9/2016 tại Đồng Tháp, trong cuộc tọa đàm với chủ đề ‘Tái cơ cấu nông nghiệp trong điều kiện thích nghi với biến đổi khí hậu”, Phó Giáo sư Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Đại học Cần Thơ đã hé lộ một chút hy vọng, khi ông đề cập tới việc phải nhất quyết giữ lại Đồng Tháp Mười. Tiếp tục đọc “Sửa chữa sai lầm 20 năm ở ĐBSCL”

Đê bao khép kín làm nông dân thèm… lũ

An Giang

Năm 1995, đê bao chống lũ được hình thành đầu tiên ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Từ đó, các địa phương khác như Đồng Tháp, Hậu Giang, Cần Thơ cũng đua nhau làm đê bao. Từ vài ngàn hécta đê bao chống lũ của Chợ Mới đến nay đê bao đã khép kín ở ĐBSCL và đã vọt lên khoảng 300.000 ha. Cũng từ đây, chuyện đê bao khép kín bộc lộ nhiều vấn đề bất cập…

  • Khi nông dân nhớ… lũ?
Nông dân vùng đê bao  không vui vì năng suất lúa giảm.

Tiếp tục đọc “Đê bao khép kín làm nông dân thèm… lũ”

Cây trồng biến đổi gen không chấm dứt được nạn đói trên thế giới

Nga Vũ – 15:01, 29/08/2017

TheLEADER – Đây là một trong các kết quả nghiên cứu về cây trồng biến đổi gen được Tổ chức Quốc tế hành động vì nguồn gen (GRAIN) đưa ra trong hội thảo mới đây tại Hà Nội.

Cây trồng biến đổi gen không chấm dứt được nạn đói trên thế giới
Hội thảo “Chia sẻ về biến đổi gen và đa dạng sinh học trong vùng”

LTS: Cây trông biến đổi gen (BĐG) trên thế giới được phát triển trên nền tảng các ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp (ISAAA) và bắt đầu được nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp thế giới từ những năm cuối thập niên 1990. Sau hơn 20 năm, các loại cây trồng BĐG được thương mại hóa ngày càng tăng với diện tích trồng hàng năm trên toàn thế giới đã lên đến hàng trăm triệu ha.

Cây trồng BĐG có những đặc tính như khả năng chịu hạn, khả năng kháng sâu bệnh, rút ngắn mùa vụ… từ đó giúp người trồng có được sản lượng cao hơn, chi phí sản xuất thấp hơn. Tuy nhiên trong hơn 20 năm phát triển của cây trồng BĐG, vẫn còn có các ý kiến tranh cãi về tính 2 mặt của cây trồng BĐG; trong đó câu hỏi cây trồng BĐG có thực sự an toàn với con người và có nguy cơ hùy hoại đa dạng sinh học vẫn chưa có câu trả lời xác đáng.

Tại hội thảo “Chia sẻ về biến đổi gen và đa dạng sinh học trong vùng” diễn ra tại Hà Nội vừa qua, Tổ chức Quốc tế hành động vì nguồn gen (GRAIN) đã đưa ra một số kết quả của nghiên cứu về cây trồng BĐG trên thế giới rất đáng chú ý của tổ chức này. TheLEADER lược ghi các nội dung này và giới thiệu đến bạn đọc.

Tiếp tục đọc “Cây trồng biến đổi gen không chấm dứt được nạn đói trên thế giới”

Điều gì là động lực chính trị cho GMO – sinh vật biến đổi gen tại các nước đang phát triển?

Mỗi cây lúa biến đổi gen trong các nhà kính tại CropDesign đều có mã vạch và hệ thống nhận và phát tín hiệu, cho phép các cây được nhận dạng chính xác bất cứ lúc nào.

Devex.com 

Ở các nước đang phát triển trên toàn cầu, các chính phủ đang vật lộn với các câu hỏi về vai trò, nếu có, các sinh vật biến đổi gen –  GMO nên là giúp giải quyết một loạt các thách thức về nông nghiệp, dinh dưỡng và khí hậu.

Các mối lo ngại phát sinh liên quan đến tác động môi trường và sức khỏe của GMO, cũng như tác động của GMO lên các phương pháp canh tác truyền thống và các vấn đề xung quanh nạn độc quyền hạt giống, khiến nông dân phải phụ thuộc vào các tập đoàn công nghiệp.

Chính phủ các nước đang phát triển đang phản ứng với những lo ngại đó bằng cách khác nhau, một số nước cấm GMOs hoàn toàn, một số chấp nhận, và số nước còn lại cố gắng tìm cân bằng giữa những mối lo ngại và nhu cầu của tất cả các bên.

Các nước đang phát triển đang dần dần tăng các luật được phê duyệt và mở ra cánh cửa cho nghiên cứu và thương mại hóa cây trồng GMO. Khi các nước này tìm cách mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện điều kiện sống trong nước và giải quyết vấn đề an ninh lương thực trong bối cảnh xung đột và biến đổi khí hậu, một số nước đang tìm thấy giải pháp trong cây trồng biến đổi gen. Tiếp tục đọc “Điều gì là động lực chính trị cho GMO – sinh vật biến đổi gen tại các nước đang phát triển?”

Nông lâm kết hợp: giải pháp ngày càng phổ biến cho một thế giới nóng và đói khát

Thoạt nhìn, các vùng phía Tây Cameroon trông có vẻ tươi tốt [phủ xanh bởi cây cối và rừng], nhưng khi nhìn gần hơn thì thấy đất đai ở khu vực này đã bị suy thoái do canh tác quá mức, kỹ thuật canh tác không bền vững, thảm thực vật bị tàn phá do bị khai thác làm củi và cháy rừng.

Tuy nhiên, ở một số khu vực vẫn tràn ngập đa dạng sinh học: cà phê phát triển dưới bóng mát của cây chuối, gần đó là những cây mận Châu Phi (tên địa phương là cây safou), cây cô la, cam và các loại cây lấy gỗ như gỗ gụ. Đối với người không chuyên thì đây trông giống như một khu rừng tự nhiên, nhưng thực tế đó là một hệ thống nông lâm – kết hợp cây cho bóng mát với cây trồng.

 [Hệ thống nông lâm kết hợp điển hình ở vùng Tây Bắc của Cameroon với chuối và các loại quả địa phương và cây lấy gỗ. Ảnh Ebernezar Asaah]

Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai

TS04/04/2016 11:14 Nguyễn Ngọc Trân

Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng. Toàn cầu, đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế. Các thách thức đó không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn tác động, nhân lên hậu quả của các tác hại là thách thức tổng hợp đối với sự phát triển bền vững của đồng bằng.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở ngoài cùng của châu thổ sông Mekong giáp với biển, được hình thành từ khoảng 6000 năm nay, từ trầm tích mà sông Mekong tải ra biển cộng với quá trình biển lùi. Nước và trầm tích là hai yếu tố thuộc về bản chất của đồng bằng.
Tiếp tục đọc “Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai”

Nạn đói ở giữa thế kỷ 21? Không phải do thiếu thực phẩm

English: Famines in the 21st century? It’s not for lack of food

Những nạn đói đã cướp đi sinh mạng của gần 75 triệu người ở thế kỉ 20, nhưng dường như vấn đề này đã được giải quyết ở những thập kỷ gần đây. Hiện tại, đột nhiên, vấn nạn này quay trở lại. Vào cuối tháng 2, một nạn đói đã diễn ra ở South Sudan, và ở Somali, Nigeria và Yemen cũng đã phát ra những cảnh báo về nạn đói.

Ngoài ra, vào tháng 1, Hệ thống cảnh báo nạn đói sớm (FEWSNET) – một tổ chức được tài trợ bởi chính phủ Mỹ thành lập năm 1985 chuyên đưa ra dự báo về nạn đói và những vấn đề nhân đạo khẩn cấp – đã ước tính 70 triệu người bị ảnh hưởng bởi các xung đột hoặc thảm họa toàn cầu sẽ cần trợ giúp lương thực vào năm 2017. Con số này đã tăng lên gần 50% chỉ trong vòng 2 năm qua.

Đâu là nguyên do của hiện tượng tăng đột biết số người cần trợ giúp lương thực khẩn cấp? Và tại sao, trong thời kỳ mà nghèo đói đang giảm trên quy mô toàn cầu, chúng ta đột nhiên phải đối mặt với bốn nạn đói tiềm ẩn ở các quốc gia ít liên quan đến nhau? Tiếp tục đọc “Nạn đói ở giữa thế kỷ 21? Không phải do thiếu thực phẩm”

Venezuela is likely to be the first country to lose all of its glaciers, but unfortunately it will not be the last country.

Venezuela is losing its last glacier

Glacierhub.com

Humboldt Glacier, 14 December 2011 (Source: The Photographer/ Creative Commons).

Venezuela used to have five glaciers. Today, only one remains. The last glacier in Venezuela, the Humboldt glacier, is about to disappear. “Reduced to an area of ten football pitches, a tenth of its size 30 years ago, it will be gone within a decade or two,” reports The Economist. Once Venezuela loses the Humbolt, it will become the first country in modern history to have lost all of its glaciers.

The glacier is expected to completely vanish in ten to twenty years, and scientists have expressed the importance of studying the glacier in its last stages. However, the political and economic crisis in Venezuela makes it difficult to study the glacier. In the past, studies have shown how rapid glacier retreat affects the water cycle in glacier-dependent basins, which changes water regulation and availability. Thus, the disappearance of the Humboldt glacier will impact local communities as run-off stability and water supply for agriculture change. Tiếp tục đọc “Venezuela is likely to be the first country to lose all of its glaciers, but unfortunately it will not be the last country.”

Plankton decline hits marine food chain

DW_Plankton is the basis for the entire marine food web – and it is under threat. From the Mediterranean to the Pacific, animals have been struggling to survive, due apparently to changes with plankton.

Food chains represent the greatest interdependency within the webs of life. The marine food chain, for instance, is essential for oceans – and depends on plankton. But environmental changes and human activities may be threatening plankton– and therefore all marine animals.

According to a recent study,the biomass of sardines and anchovies has been decreasing at alarming rates in the Mediterranean Sea. At the same time, sea lions are struggling to forage on the coasts of California. Both cases have shed light on how a single food chain element can affect all others.

While it is still unknown whether species will be able to adapt to new conditions, the marine food chain is already experiencing drastic changes – and plankton plays a crucial role across the board.

“If anything happens to the plankton, an immediate cascade effect will take place on the food chain,” Ivan Nagelkerken, a University of Adelaide’s biology professor, told DW.

Shark swimming (Picture: Imago/OceanPhoto)Even top predators depend on plankton – indirectly

Building blocks of life

Plankton are tiny aquatic organisms that drift through the sea, forming the basis of the marine food chain.

For plankton, both quantity and quality – in terms of nutrients – affect life up the food chain. Tiếp tục đọc “Plankton decline hits marine food chain”

Why eating insects makes sense – Tại sao nên ăn Côn trùng – một nguồn thực phẩm thay thế cho thit

 

Published on Sep 25, 2014

The world’s population is projected to reach 11 billion by the end of the century. Feeding that many people will be a challenge, and it is further complicated by the impact of climate change on agriculture. That is why some people advocate an unusual way to boost the food supply and feed people sustainably: by eating less meat, and more insects.

About 2 billion people already eat bugs. Mexicans enjoy chili-toasted grasshoppers. Thais tuck into cricket stir-fries and Ghanians snack on termites. Insects are slowly creeping onto Western menus as novelty items, but most people remain squeamish. Yet there are three reasons why eating insects makes sense.

First, they are healthier than meat. There are nearly 2,000 kinds of edible insects, many of them packed with protein, calcium, fibre, iron and zinc. A small serving of grasshoppers can contain about the same amount of protein as a similar sized serving of beef, but has far less fat and far fewer calories.

Second, raising insects is cheap, or free. Little technology or investment is needed to produce them. Harvesting insects could provide livelihoods to some of the world’s poorest people.

Finally, insects are a far more sustainable source of food than livestock. Livestock production accounts for nearly a fifth of all greenhouse-gas emissions – that’s more than transport. By contrast, insects produce relatively few greenhouse gases, and raising them requires much less land and water. And they’ll eat almost anything.

Despite all this, most Westerners find insects hard to swallow. One solution is to use protein extracted from bugs in other products, such as ready meals and pasta sauces. Not having to look at the bugs, and emphasising the environmental benefits, might make the idea of eating insects a bit more palatable. For more video content from The Economist visit our website: http://econ.st/1ytKwbp

Dè chừng nhập siêu từ Thái Lan

Nguyễn Duy Nghĩa Chủ Nhật,  29/10/2017, 15:47 (GMT+7)


Hàng hóa Thái Lan đang lấn át hàng Việt Nam, ngay cả đối với gạo, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong ảnh: Thu hoạch lúa ở ĐBSCL. Ảnh: TRUNG CHÁNH

(TBKTSG) – Năm 2015, trước thềm Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam nhập siêu từ Thái Lan 5 tỉ đô la Mỹ, tương ứng với 160% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thái.

Việt Nam hy vọng việc hình thành AEC sẽ cải thiện tương quan thương mại giữa Việt Nam với Thái Lan. Nhưng dường như ta chỉ cầm cự được trong năm 2016. Trong chín tháng đầu năm 2017, ta đã nhập siêu từ Thái Lan 4 tỉ đô la Mỹ, bằng 81,6% nhập siêu cả năm 2016. Hiện Thái Lan đứng đầu các quốc gia Đông Nam Á và trên trường quốc tế chỉ thua Hàn Quốc (số 1) và Trung Quốc (số 2) về nhập siêu vào Việt Nam. Tiếp tục đọc “Dè chừng nhập siêu từ Thái Lan”

FAO official: GMOs not needed but we should be open to biotechnologies

Gustafson: “The total food production of the planet, it is huge: it is a question of access.” [Sarantis Michalopoulos]

euractive_The requirements of food production can be met without GMOs but we should not eliminate the broader benefits that biotechnologies can provide, Daniel Gustafson, a senior United Nations official, told EURACTIV.com in an interview. Tiếp tục đọc “FAO official: GMOs not needed but we should be open to biotechnologies”