Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu: Những mặt tích cực và hạn chế

RFI –  01/11/2021

Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu: Những mặt tích cực và hạn chế - Tạp  chí Việt Nam
Ảnh tư liệu chụp ngày 21/09/2009, tại Sài Gòn, Việt Nam, sau một cơn mưa lớn. Do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng ngập lụt ở các thành phố miền nam ngày càng trầm trọng. ASSOCIATED PRESS – Le Quang Nhat

Là một trong 4 quốc gia gánh chịu những tác hại năng nề nhất của biến đổi khí hậu, tại Hội nghị Thượng đỉnh Paris COP 21, Việt Nam đã cam kết sẽ cắt giảm 8% lượng khí nhà kính phát thải vào năm 2030 so với năm 2005 và có thể giảm đến 25% nếu nhận được sự hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế.QUẢNG CÁO

Nhân dịp hội nghị khí hậu COP 26 vừa khai mạc ở Glasgow ngày 31/10/2021, chúng ta hãy tìm hiểu xem các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam có những mặt tích cực và những hạn chế nào? Mời quý vị nghe ý kiến của tiến sĩ Huỳnh Long Vân, Nhóm Nghiên cứu Văn Hóa Đồng Nai Cửu Long Úc Châu.

Tiếp tục đọc “Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu: Những mặt tích cực và hạn chế”

Hiện trường điện gió ở Quảng Trị, ai vô tâm sẽ không thấy kinh hoàng

NN – Thứ Năm 14/10/2021 , 10:25

Một số bãi thải, mái taluy ở các công trình điện gió chưa lu lèn đầm chặt, trồng cây, gia cố chống xói lở, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất.

Quảng Trị có 31 dự án điện gió được phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng. Riêng tại huyện Hướng Hoá có 26 dự án đang cấp tập triển khai thi công để kịp hưởng giá ưu đãi (giá FIT) cho một phần hoặc toàn bộ nhà máy có ngày vận hành thương mại trước 1/11/2021.

Theo UBND huyện Hướng Hoá, hiện vẫn còn một số dự án điện gió đang trong quá trình đẩy nhanh tiến độ nên chưa tuân thủ đầy đủ yêu cầu khắc phục sạt lở đất và môi trường. Điều này tiềm ẩn nguy cơ lũ quét, sạt lở đất khi mùa mưa bão đang đến gần.

Một người dân xã Húc buồn rầu bên ruộng lúa bị đất đá từ dự án điện gió trôi lấp. Người này cho hay, ruộng lúa của gia đình nằm ngay dưới chân các tua-bin điện gió, không thể canh tác trong thời gian tới nên đã yêu cầu chủ đầu tư đền bù toàn bộ để tìm chỗ khác ổn định hơn.
Một người dân xã Húc buồn rầu bên ruộng lúa bị đất đá từ dự án điện gió trôi lấp. Người này cho hay, ruộng lúa của gia đình nằm ngay dưới chân các tua-bin điện gió, không thể canh tác trong thời gian tới nên đã yêu cầu chủ đầu tư đền bù toàn bộ để tìm chỗ khác ổn định hơn.

Tiếp tục đọc “Hiện trường điện gió ở Quảng Trị, ai vô tâm sẽ không thấy kinh hoàng”

“Giải pháp lắm chân” cho cái đói

CHỦNG HẠNH 14/10/2021 9:05 GMT+7

TTCTBánh mì kẹp sâu cho bữa sáng, sữa gián và sữa ruồi đen luôn sẵn có ở căngtin, và món cháo dế sẽ sưởi ấm những đêm mưa rét. Đây là những loại thực phẩm thân thiện với môi trường, hứa hẹn sẽ cách tân chế độ ăn uống “xấu xí” của loài người trong tương lai.

 Ảnh: Shutterstock

Tiếp tục đọc ““Giải pháp lắm chân” cho cái đói”

Khát nước giữa bốn bề sông nước

Khát nước giữa bốn bề sông nước
Cây lúa bị thiệt hại

Một ngày cuối tháng 2, bà Phan Thị Lan (xã Tân Hiệp, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh) ra đứng giữa đồng trong tâm trạng bấn loạn. Gần 1ha lúa đông xuân của bà đã chết khô tự lúc nào. Nhà bà Lan có 1,7ha trồng lúa, nhưng đã bị mất trắng 1ha do không đủ nước tưới. Giờ chỉ biết tìm mọi cách để cứu 0,7ha lúa 45 ngày tuổi còn lại.

Tiếp tục đọc “Khát nước giữa bốn bề sông nước”

Xuất khẩu gạo: Nên vận hành theo cơ chế thị trường

Đài phát thanh và truyền hình Long An – 21/04/2020 lúc 10:44

Theo các chuyên gia, để việc xuất khẩu gạo đạt được hiệu quả thì nên vận hành theo cơ chế thị trường và sử dụng nhiều công cụ như đánh thuế xuất khẩu gạo. 

Xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường châu Phi tiếp tục tăng | Kinh doanh  | Vietnam+ (VietnamPlus)
Việt Nam là một trong những nước có thế mạnh về xuất khẩu gạo. Ảnh: TTXVN.

Nên vận hành theo cơ chế thị trường

Theo TS. Đặng Kim Sơn, Nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, mọi ngành, lĩnh vực đều rất khó khăn, thì tín hiệu tốt của thị trường lúa gạo là điểm sáng quý giá, cần phải tận dụng ngay để giúp nông dân vượt qua khó khăn hiện nay và gượng dậy sau dịch bệnh.

TS Đặng Kim Sơn khẳng định, trong thời điểm này, việc Chính phủ đặt ra những lo ngại về an ninh lương thực là vô cùng cần thiết. Nhưng sự thay đổi quá đột ngột trong điều hành xuất khẩu gạo của các bộ ngành đã tạo ra cơn sóng trong ngành lúa gạo những ngày vừa qua. 

Tiếp tục đọc “Xuất khẩu gạo: Nên vận hành theo cơ chế thị trường”

Giáo sư Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời.”

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 1.

soha – Tháng 11 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc quyết định ban hành nghị quyết số 120. Bản nghị quyết còn có tên gọi đặc biệt khác: “Thuận thiên”, về Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo lời kể của vị giáo sư “cây lúa” Võ Tòng Xuân, 2 chữ “thuận thiên” ấy được bắt đầu từ một cuộc trò chuyện ngắn ngủi trên bàn ăn giữa Thủ tướng và ông. Một điều ít ai biết, GS Võ Tòng Xuân đã ấp ủ nó để được “thưa” suốt 30 năm.

4 năm sau cuộc gặp ấy, trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông lão 80 tuổi tóc bạc phơ vẫn ngày ngày cần mẫn với công việc nghiên cứu, giảng dạy cho hàng nghìn sinh viên nông nghiệp. Và vẫn tự hào khi nhắc về 80 năm cuộc đời trăn trở cho con đường “thuận thiên”…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 2.

Bắt đầu cuộc trò chuyện này, tôi muốn biết từ khi nào “thuận thiên” xuất hiện trong suy nghĩ của giáo sư, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân: Khi 15.000 hecta vùng đất thấp ngập mặn, lúa chết sạch, Sóc Trăng bà con kêu thấu trời xanh.

Một thời Việt Nam ta tự hào vì 9 con rồng đổ mình ra biển Đông, nhưng đến thập kỷ 1960 con rồng Ba Thắc (Sóc Trăng) thực sự đã chết. Thập kỷ 1980 thì tới lượt con rồng Ba Lai (Bến Tre) mười mấy cây số đều bị lấp, không còn đủ chảy nước chảy thành một lòng sông…

Khi ấy, tôi nói đùa với đồng nghiệp: “Cửu Long mất hai, giờ chẳng lẽ đổi tên đồng bằng ta là Thất Long sao?”. Nhưng nói xong, chỉ thấy nhói tận tâm.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 3.

Suốt một thời gian dài từ 2000 đến nay, tôi đã chứng kiến ĐBSCL trải qua những mùa khô và hạn hán khốc liệt như thế đấy! Đi đến đâu, gặp bất kỳ người nông dân nào, cũng chỉ nước mắt và lời kêu than không thể nào đau lòng hơn.

Cho đến một buổi sáng tháng 3/2010, tôi tình cờ đọc trực tuyến trên tờ Bangkok Post bản tin về Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo ngồi giữa thửa ruộng Vân Nam. Xung quanh bốn bề đất nứt như gót chân người, không còn lấy một giọt nước.

Dưới bức ảnh, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhắn: “Tôi không dám vào viếng một nhà nông dân nào. Vô đó, tôi chắc chắn họ không còn nước mời tôi uống”.

Ngày 25/3/2010, tôi đi viếng vùng nhiễm mặn Sóc Trăng cũng thấy tình trạng cạn khô như vậy.

Khi đó tôi mới vỡ lẽ.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 4.

Vỡ lẽ về điều gì, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân: Suốt thời gian dài, chúng ta nói, thượng nguồn Trung Quốc xây đập thuỷ điện chằng chịt, chặn đứng nguồn nước Mê Kông gây hạn hán, ngập mặn. Việt Nam, Thái Lan, Campuchia nhiều năm nay vẫn kiện cáo, đòi mở đập để “giải cứu” cây lúa miền dưới.

Nhưng thực tế không phải vậy!

Rõ ràng lúc Việt Nam đang gặp hạn thì trên Vân Nam họ cũng thế! Từ sau năm 2015, mực nước sông Mê Kông mùa khô liên tục rơi xuống còn 1.600 m3 – 1.800 m3/s, trong khi trước đây nó từng đạt 40.000 m3/s vào mùa mưa và 2000 m3/s vào mùa khô.

Chúng ta kiện, chúng ta đòi mở nước nhưng Trung Quốc họ đã không còn đủ nước cho cả đất nước họ nữa rồi. Mà cho là có năm dư, khi xuống tới đường ranh Thái Lan – Lào, hàng ngày hàng nghìn trạm bơm vẫn lấy nước đổ vào cho vùng hạn Đông Bắc Thái Lan thì đến lượt Việt Nam liệu có còn nước không?

Đó là tình hình chung thế giới! Và cái biến đổi khí hậu nó đã xảy ra hàng chục năm nay, trên toàn bộ Trái Đất, chứ đâu phải đến tận bây giờ ông trời mới bắt Việt Nam gồng gánh nỗi đau này?

Có thời điểm vì sợ thiếu lương thực, Bộ Nông nghiệp và Hải Quan đề nghị nước ta tạm ngưng xuất khẩu gạo. Hơn một tháng trời, nước ngoài không đợi được, họ liền quay sang Thái Lan mua gạo.

Lúc đó, tôi lên tiếng khẳng định luôn: “Nước ta không bao giờ thiếu lúa gạo!”.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 5.

Để chứng minh điều này, tôi đã đi dọc các tỉnh ven biên giới Campuchia. Ở đó, khoảng 1,2 triệu hecta đất vùng nước ngọt quanh năm, nước mặn không thể ngập tới, cây lúa vẫn phát triển tốt, thậm chí còn cho năng suất rất cao.

Chỉ duy khoảng 15.000 hecta ở vùng ven biển của mấy ông nông dân “cãi trời”, chính quyền đã cảnh báo nhưng vẫn chăm chăm làm lúa thì giờ mới than trời kêu đất.

Truyền thông không nhìn thấy được bức tranh toàn cảnh nên đã gây ra rất nhiều hiểu lầm.

Tháng 9/2017, tôi được mời tham dự Hội nghị về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ, do Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì. Nhân dịp này tôi mới rút ruột rút gan ra trình bày với Thủ Tướng:

“Nông dân miền Tây mình đang mắc vòng kim cô rất lớn! Thưa Thủ tướng…”

Thủ tướng thấy lạ bèn hỏi lại: “Kim cô gì thầy? Nhờ thầy nói rõ!”

“Kim cô chính là lúa.”.

Tôi giải thích tiếp: “Giờ này chúng ta thặng dư nhiều lúa rồi nhưng Nhà nước cứ buộc nông dân trồng lúa, vùng mặn cũng phải làm. Đó chính là ta đi ngược với thiên nhiên, chống thiên nhiên.”

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 6.

Thủ tướng hỏi: “Chống như thế nào thầy?”

“Ở các vùng mặn, mùa nắng ruộng chỉ có nước mặn, đáng lẽ người ta phải nuôi tôm, nuôi cá, sinh lời… lại bắt người ta trồng lúa. Đó là không thuận thiên…”

Lúc ấy, Thủ tướng vỡ lẽ.

Kết thúc kỳ họp, Thủ Tướng đồng ý dùng 2 chữ “thuận thiên” làm tôn chỉ cho nghị quyết mới.

Tháng 11/2017 thì nghị quyết 120 do Chính phủ ban hành đã nhấn mạnh tầm quan trọng của 2 chữ “Thuận thiên”.

Bởi khi ấy, nếu nông dân tiếp tục “cãi trời”, ĐBSCL sẽ đi vào thế khó. Thuận thiên thì không những biến nguy thành cơ mà còn là cơ hội “vàng” cho Tây Nam Bộ vươn lên làm giàu.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 7.

Trước Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Giáo sư đã bao giờ đề cập đến con đường “thuận thiên” này lần nào khác?

GS Võ Tòng Xuân:  Thú thật, hơn 50 năm “ăn nằm” với cây lúa, tôi chưa bao giờ thôi nghĩ về nó.

Thời kỳ đất nước giải phóng, chúng ta đề ra chính sách đảm bảo an ninh lương thực, chú trọng việc trồng lúa.

Tại kỳ họp thứ 1 Quốc hội Khóa VII (1981-1987) do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng chủ trì, Chánh phủ báo cáo đã mở rộng sản xuất lương thực vùng Đồng Tháp Mười và vùng lúa Tứ Giác Long Xuyên.

Đến lúc đại biểu Quốc Hội tham luận, tôi đăng ký xin thưa: “2 vùng vừa báo cáo không chỉ không cho kết quả như ý muốn mà còn làm nãn lòng nhân dân”.

Bởi thời điểm đó, những vùng này đất rất phèn, cây tràm đã sống thành rừng mà giờ ta lại chỉ đạo phá rừng, trồng lúa.

Mọi người cứ nghĩ Nam Bộ “cò bay thẳng cánh” thì đâu đâu cũng trồng lúa được. Không phải! Đó là cưỡng trời, là đi ngược thiên nhiên. Bao nhiêu vốn đầu tư nhưng sẽ không lấy lại được bao nhiêu!

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 8.

Nghe xong, chủ tịch Phạm Văn Đồng nhìn tôi, trách: “Tại sao đến giờ đồng chí mới nói?”.

Lúc đó, tôi thưa: “Dạ! Đây là dịp đầu tiên cháu mới có được môi trường Quốc hội để phát biểu”. Sau đó, ông cười rồi lập tức kêu Ông Phan Xuân Đợt (Bộ trưởng Lâm Nghiệp bấy giờ) và ông Nguyễn Đăng (nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp) đưa ra phương án, nhanh chóng sửa sai vấn đề này ngay.

Đến cuối năm 1989, nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo. Ngặt cái, trồng lúa ở miền Bắc thì cứ như chống giặc vậy! Vụ đông xuân thì chống rét, hạ chống hạn, thu đông thì chống bão lũ… Lúc đó tôi mới thấy sao nông dân mình khổ quá! Suốt đời cứ chống, đi đánh thế thì bao giờ mới có ăn. Tôi liền nghĩ đến phương án giảm trồng lúa.

Năm 1990, tôi đổi tên “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa” của mình thành “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác”. Trong những lần ra nước ngoài, tôi vận động Australia giúp kinh phí chi Viện Lúa Quốc tế (IRRI) và Canada tài trợ chương trình nghiên cứu khoa học. Về nước tôi mời các khoa Nông nghiệp của đại học Việt Nam thành lập Mạng Lưới nghiên cứu hệ thống canh tác xoay quanh cây lúa cho từng vùng. Chủ yếu là để giảm bớt một, hai vụ lúa nhằm luân canh cây trồng khác hoặc nuôi tôm, cá.

Nhưng cuối cùng dự án đó mãi mãi không thực hiện được…

Sang kỳ họp Quốc hội thứ 8, tôi tiếp tục đề cập vấn đề cắt giảm nhu cầu trồng lúa, chuyển sang canh tác cây ăn quả, thâm canh tôm, cá giá trị cao. Lúc đó, một đại biểu Quốc Hội đứng lên phản bác rất gay gắt: “Mình là con người, con người phải ăn cơm ăn gạo, chỉ có con khỉ mới ăn quả”.

Vậy đó, họ nói tôi như thế đó!

Tôi về, đi ra đồng thì ông nông dân vẫn hỏi: “Bây giờ mình dư nhiều gạo, xuất khẩu nhiều quá rồi, sao nhà nước còn khuyến khích trồng lúa?”. Có lúc tôi không biết trả lời họ câu hỏi đó sao cho phải…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 9.

Một đời người nghiên cứu về cây lúa nhưng năm lần bảy lượt ông lại ủng hộ quan điểm Việt Nam không nên tiếp tục trồng nhiều lúa. Điều đó có mâu thuẫn quá không, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân:  Đúng! Đúng là có lúc tôi từng mâu thuẫn như thế!

Thời điểm năm 1975, chính sách đảm bảo an ninh lương thực khiến dân ta không có lựa chọn nào ngoài chuyện trồng lúa. Miền Bắc thì tập trung lo đê điều, Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ thì thuỷ lợi, ngọt hoá. Hơn 70% kinh phí nhà nước cấp cho ngành nông nghiệp khi ấy chỉ để xây thủy lợi, làm lúa nước.

Dân phá rừng trồng lúa, thậm chí nhà nào có vườn hoa đẹp phải cuốc lên, có vườn trái cây đều đào gốc, trồng rau, khoai. Nhiều gia đình thèm có một cái cây ăn trái lắm, phải lén đắp mô ở trong ruộng, chỗ này một ít, chỗ kia một ít để có cây nhãn, cây xoài ăn chơi.

Bởi khi ấy, chúng ta còn quá ám ảnh cái đói sau 2 cuộc thế chiến! Cái chính sách an ninh lương thực là cần thiết. Nhưng suốt 30 năm, từ khi chúng ta đủ ăn, dư ăn và xuất khẩu gạo rồi, chúng ta vẫn duy trì chính sách ấy, vẫn trồng lúa mọi nơi, thậm chí còn tốn nhiều tiền để ngọt hóa vùng mặn để trồng thêm.

Nếu tôi vì bản thân mình thì tôi đã nhắm mắt cho qua. Nhưng không phải! Tôi đã chứng kiến nhiều câu hỏi không biết trả lời thế nào từ những nông dân như thế rồi.

Đúng như ý nguyện của Bác Hồ “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu”, tôi nghĩ đã đến lúc nhà nước ta, các doanh nghiệp và cả người nông dân đều cần thay đổi.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 10.

Con đường thay đổi đó thực hiện như thế nào?

GS Võ Tòng Xuân: Trước đây, người Việt hay có quan niệm: “Không học thì đi làm nông dân”. Bởi ngày xưa, ông bà ta chỉ làm nông theo hình thức tự phát, kinh nghiệm, bắt chước.

Nhưng giờ Việt Nam đã qua cái thời “thất học ra đồng”! Chúng ta có rất nhiều cơ sở để tri thức hoá người nông dân như các nước châu Âu.

Nói vậy không phải là bắt ông nông dân phải đi học đại học, cao đẳng. Mà ông ấy chỉ cần qua các lớp đào tạo do doanh nghiệp, nhà nước địa phương tổ chức nhằm làm sao cho nguyên liệu do nông dân làm ra đạt đủ tiêu chuẩn yêu cầu thì xem như đã qua lớp và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện “hành nghề ”.

Thứ hai, trong tương lai gần, với tình trạng hạn mặn và sạt lở diễn ra mạnh mẽ ở ĐBSCL như hiện nay, để phát triển toàn diện thì cần phải giảm lúa gạo. Tại vùng ven biên giới Campuchia, là vùng luôn luôn có đủ nước ngọt và không bị nước mặn xâm nhập, thì chúng ta nên thiết kế 1.2 triệu hecta lúa, trồng 2-3 vụ/năm để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu một phần.

Còn những tiểu vùng gần biển thì nên trồng lúa vào mùa mưa, mùa nắng có thể kết hợp nước mặn với nước ngọt trộn lại để nuôi tôm, nuôi cá thâm canh hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn. Vùng giữa thì bắt đầu lên liếp đất để hạn chế nước mặn và có rảnh mương dự trữ nước trong mùa mưa để tưới cho cây trồng trong mùa nắng.

Thứ 3, nhà nước cần nắm được các khuynh hướng nông nghiệp trên thế giới. Từ đó, tạo điều kiện liên kết vùng, nông dân-nông dân (dồn điền -PV), nông dân-doanh nghiệp, doanh nghiệp-doanh nghiệp để sản xuất trên diện tích lớn bằng cơ giới và công nghệ 4.0.

Ngược lại, phía doanh nghiệp phải được đào tạo thành nhà doanh nhân giỏi, là đơn vị tiên phong trong chế biến sản phẩm có thương hiệu, năng nổ khám phá và sẵn sàng tìm đầu ra cho sản phẩm.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 11.

Cuối cùng là công cuộc chiếm lĩnh thị trường 100 triệu dân trong nước. Sự thật là những năm qua, ngành nông nghiệp đang dần chiếm được tình cảm của người tiêu dùng Việt bởi những sản phẩm an toàn vệ sinh, ngon, hấp dẫn, không kém sản phẩm ngoại nhập.

Vậy trong 3 năm thực hiện nghị quyết 120, con đường “thuận thiên” ấy đã để lại cho chúng ta tín hiệu đáng mừng như thế nào rồi, thưa GS?

GS Võ Tòng Xuân: Nông dân các tỉnh ven biển ĐBSCL đã và đang phấn khởi với những vùng chuyển đổi mà Đảng và Nhà nước quy hoạch mới, hàng ngàn hecta lúa-tôm đã đem lại lợi tức gấp 4-5 lần trồng lúa độc canh trước đây.

Bến Tre ngoài cây dừa đã trồng thêm cây ăn trái như bưỡi, xoài, sầu riêng bằng bón phân hữu cơ sinh học chống mặn tốt. Trên các cánh đồng lúa bát ngát ở Châu Đốc (An Giang), Tháp Mười (Đồng Tháp) cũng bắt đầu nhen nhóm những vườn xoài, chuối. Nhiều doanh nghiệp như Vinamit, vua chuối Út Huy, công ty Cỏ May (Đồng Tháp), Trung An (Cần Thơ),… đã áp dụng nông nghiệp “sạch”, chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng con đường “chất lượng thắng số lượng.”

Năm 2020, bất chấp đại dịch Covid-19 chúng ta đã xác lập nhiều kỷ lục khi sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã vươn xa tới gần 190 thị trường thế giới, xuất khẩu nông sản đạt mốc 41,2 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Nhiều loại quả như vải thiều, chôm chôm, thanh long, vú sữa, xoài, nhãn… đã có mặt tại những thị trường khó tính nhất như Mỹ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc…, giá trị còn tăng gấp 20-30 lần so với trong nước.

Về gạo, khối lượng gạo xuất khẩu giảm 3,5% nhưng tăng 9,3% về giá trị, trong đó gạo chất lượng cao chiếm 85% gạo xuất khẩu. Một khoảng thời gian, chúng ta đã vượt hẳng qua Thái Lan. Như hôm qua (ngày 22/2), tôi vừa xem giá gạo thì Việt Nam đạt 536 USD/ tấn, cao hơn hẳng nước bạn.

Đó đều là tín hiệu đáng mừng!

Và từ năm 2020 trở đi, với điều kiện thuận lợi của Hiệp định Thương mại tự do EVFTA, CPTPP… nông sản Việt vào thị trường EU không bị đánh thuế, thì chúng ta có quyền hy vọng con đường đến top 15 nền nông nghiệp hàng đầu thế giới.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 12.

Ở tuổi 81 này, GS còn điều gì trăn trở cho cuộc sống và nền nông nghiệp Việt Nam?

GS Võ Tòng Xuân: Năm 1991, tôi sang Mỹ, có dịp gặp một vài anh bạn người Việt gốc Hoa làm chủ chuỗi siêu thị Á Châu. Ngồi nghe tâm sự, các anh ấy đều nói:“Bây giờ thầy phải làm thế nào đi thầy? Tụi con thèm bán gạo Việt lắm mà Việt Nam không có giống gạo ngon nào, siêu thị tụi con toàn phải mua gạo Thái Lan”.

Câu hỏi ấy cứ theo tôi mãi!

Năm 2019, khi Hồ Quang Cua – sinh viên của tôi, lai tạo thành công “giống gạo ngon nhất thế giới” ST25, tôi mới có thể tự tin giới thiệu với các siêu thị Á Châu.

80 năm cuộc đời, tôi đã đặt chân đến trên 80 nước để mang về những cải tiến cho nền nông nghiệp Việt Nam. Tôi vui khi hoàn thành được những hoài bão. Nhưng sẽ càng hạnh phúc hơn nhiều nếu đi đâu đâu trên khắp thế giới này tôi đều thấy nông sản Việt Nam, thấy người ta hào hứng lựa chọn nó, tôi hay tưởng tượng đến những nụ cười sung sướng của người nông dân đã và đang sản xuất nguyên liệu an toàn, chất lượng để cung cấp cho nhà doanh nghiệp, cùng nhau làm ra những sản phẩm có thương hiệu nổi trội.

Đó là những người tiếp tay làm nên sự giàu có của chính họ và của đất nước Việt Nam.

Bây giờ, mỗi ngày tôi vẫn làm việc bình thường. Nói chuyện với bạn hôm nay, lát nữa sẽ về Cần Thơ để mai gặp sinh viên. Kế hoạch cuối tuần này thì lên Nhà máy đường Gia Lai tính chuyện hợp tác với người dân tộc tại Huyện Eatun trồng cây mía,… Ngày nào còn sức khỏe và trí óc minh mẫn, ngày ấy tôi sẽ còn truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng cho thế hệ sau bấy lâu.

Như Khổng Tử, Trang Tử, Lão Tử của ngày xưa mong muốn tìm người tiếp nối. Tôi chỉ mong một mai sẽ có đôi mắt thay tôi nhìn ngắm những cánh đồng Việt Nam phát triển thế nào…

Xin cám ơn ông vì những chia sẻ chân thành này…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 13.

Bài: Huy HậuẢnh: Hải Long

Thiết kế: Trang Đinh

Vũ Kim Hạnh – Chưa “Mất an ninh”, miền Tây đã ùn ứ lúa gạo, nông dân khổ…

mekong-cuulong.blogspot.com
FB Vũ Kim Hạnh 28-3-2020

Cảnh thu mua lúa trên kênh Xà No, Hậu Giang ngày 24/3 nay không còn nữa. Ảnh: internet

10g sáng hôm nay, bài báo của vnexpress.net vừa được post lên. Thực tế (thấy trước) này không hề do tôi “tưởng tượng”. Sau stt tôi vừa viết sáng nay, tôi nhận hàng loạt inbox. “Chị đói thì ăn tiền hay ăn gạo?”, “Đừng xúi dại, dich bệnh thế, chị bỏ tiền vào nồi nấu à?”, “Chị chưa biết nạn đói 1945 nên cứ chém gió thế”. “Mạnh vì gạo, bao vì tiền chị biết không, kho phải đầy gạo, mới yên tâm”. Tôi thấy cãi cũng vô ích. Chỉ mong họ hiểu một thực tế đau lòng đang diễn ra ở miền Tây. Khổ cho nông dân rồi, thấy không, phản ứng rất nhanh của thị trường, bây giờ, ai chịu khổ cho nông dân đây? Vừa ăn cơm xong, tôi xin tóm lược nhanh bài báo. Tiếp tục đọc “Vũ Kim Hạnh – Chưa “Mất an ninh”, miền Tây đã ùn ứ lúa gạo, nông dân khổ…”

Mê Kông cạn cá

BVR&MT – Tbong ngồi trong bóng râm của căn chòi tạm bợ trên bờ hồ Tonlé Sap, quanh anh là mấy đứa trẻ tò mò.

“Cá quả, cá trê, cá tai tượng… Trước đây, cách đây rất lâu, hồ có rất nhiều cá”, anh vừa nói vừa nheo mắt vì nắng.

Cá ở Tonlé Sap, hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á là nguồn chất đạm chính cho người Campuchia. (Ảnh: Getty)

Nhưng mọi thứ thay đổi chóng vánh. Các loài cá suy giảm, thực vật đang chết dần và toàn bộ hệ thống sông Mê Công tan rã. Đối với những đứa trẻ tụ tập quanh Tbong, một Tonlé Sap trù phú chỉ còn trong chuyện kể.

Nằm ở trung tâm lưu vực hạ nguồn sông Mê Công, Tonlé Sap là hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Hồ và vùng ngập lũ xung quanh được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển vào năm 1997, là nơi sinh sản, cung cấp nguồn thức ăn và là nơi thu hoạch hàng trăm loài cá và các sản phẩm thủy sản khác. Tiếp tục đọc “Mê Kông cạn cá”

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói – 6 bài

Người đàn bà khóc đứa con vừa lọt lòng đã bị chết trong nạn đói 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

***

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 1 – Nơi chết đói nhiều nhất miền Bắc

08/04/2019, 06:30 (GMT+7)

Chưa bao giờ Việt Nam xảy ra một thảm họa lớn như thế cả về số lượng người chết lẫn quy mô của vùng bị nạn, có lẽ chỉ thua cuộc chiến chống Mỹ 1954-1975 nhưng thời gian nạn đói 1944-1945 thì có 6-7 tháng. Hàng triệu người chết đói nay tuy thân xác đã tiêu tan mà vẫn còn để lại nỗi đau trong lòng con cháu, vì sao họ lại ngã xuống, vì sao không có sự bù đắp, vì sao không một tượng đài… Tiếp tục đọc “75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói – 6 bài”

Vùng ngọt hóa thời chưa ngăn đập

Hoàng Quân – Tuyết Nhi – Thứ Tư,  16/1/2019, 23:01 

(TBKTSG Online) – Mặc dù có quá nhiều cuộc trãnh cãi của các chuyên gia, nhà quản lý, còn báo chí tốn không ít giấy mực, cuối cùng Chính phủ đã đồng ý khởi công xây dựng dự án Cái Lớn – Cái Bé. Quên cái khen chê của dự án hàng ngàn tỉ này, hãy cùng chúng tôi đi vào vùng đất “được” ảnh hưởng của đại dự án thủy lợi để hiểu hơn những gì nơi đây đang có.

Một người dân sống hơn 50 năm ở gần cống Cà Mau than thở: “Trước khi có cống tàu ghe qua lại dễ, tôm cá dữ trời lắm. Bây giờ bỏ cống cả chục năm mà dòng sông chưa được hồi sinh hẳn, kiếm cá ăn rất khó khăn”.

Sau nhiều tranh cãi, dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé được phê duyệt
Cần thận trọng với dự án Cái Lớn – Cái Bé
Chuyên gia: Không cần thiết phải xây dựng dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé
Nhìn lại các công trình ngăn mặn hiện có ở ĐBSCL Tiếp tục đọc “Vùng ngọt hóa thời chưa ngăn đập”

Sửa chữa sai lầm 20 năm ở ĐBSCL

Nam Nguyên, phóng viên RFA, 2016-09-23Một cánh đồng lúa khô hạn tại một tỉnh phía Nam vùng đồng bằng Sông Cửu Long hôm 2/3/2016.

Một cánh đồng lúa khô hạn tại một tỉnh phía Nam vùng đồng bằng Sông Cửu Long hôm 2/3/2016.  AFP photo

RFA – Biến đổi khí hậu, thủy điện các nuớc thượng nguồn làm giảm lưu lượng nước sông Mekong về Việt Nam. Nhưng việc phát triển đê bao ồ ạt ở đồng bằng sông Cửu Long để tăng diện tích sản xuất lúa, đặc biệt làm lúa vụ ba trong mùa lũ, đã làm cho khả năng chống hạn mặn ở khu vực này bị hạn chế, nếu chưa phải là vô hiệu hóa.

Các nhà khoa học đã nhiều năm liên tục báo động về việc hệ thống đê bao, bờ bao dài 13.000 km đã phá vỡ thiên nhiên, làm mất vùng trữ lũ khổng lồ ở khu vực tứ giác Long Xuyên. Ngày 20/9/2016 tại Đồng Tháp, trong cuộc tọa đàm với chủ đề ‘Tái cơ cấu nông nghiệp trong điều kiện thích nghi với biến đổi khí hậu”, Phó Giáo sư Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Đại học Cần Thơ đã hé lộ một chút hy vọng, khi ông đề cập tới việc phải nhất quyết giữ lại Đồng Tháp Mười. Tiếp tục đọc “Sửa chữa sai lầm 20 năm ở ĐBSCL”

Đê bao khép kín làm nông dân thèm… lũ

An Giang

Năm 1995, đê bao chống lũ được hình thành đầu tiên ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Từ đó, các địa phương khác như Đồng Tháp, Hậu Giang, Cần Thơ cũng đua nhau làm đê bao. Từ vài ngàn hécta đê bao chống lũ của Chợ Mới đến nay đê bao đã khép kín ở ĐBSCL và đã vọt lên khoảng 300.000 ha. Cũng từ đây, chuyện đê bao khép kín bộc lộ nhiều vấn đề bất cập…

  • Khi nông dân nhớ… lũ?
Nông dân vùng đê bao  không vui vì năng suất lúa giảm.

Tiếp tục đọc “Đê bao khép kín làm nông dân thèm… lũ”

Cây trồng biến đổi gen không chấm dứt được nạn đói trên thế giới

Nga Vũ – 15:01, 29/08/2017

TheLEADER – Đây là một trong các kết quả nghiên cứu về cây trồng biến đổi gen được Tổ chức Quốc tế hành động vì nguồn gen (GRAIN) đưa ra trong hội thảo mới đây tại Hà Nội.

Cây trồng biến đổi gen không chấm dứt được nạn đói trên thế giới
Hội thảo “Chia sẻ về biến đổi gen và đa dạng sinh học trong vùng”

LTS: Cây trông biến đổi gen (BĐG) trên thế giới được phát triển trên nền tảng các ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp (ISAAA) và bắt đầu được nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp thế giới từ những năm cuối thập niên 1990. Sau hơn 20 năm, các loại cây trồng BĐG được thương mại hóa ngày càng tăng với diện tích trồng hàng năm trên toàn thế giới đã lên đến hàng trăm triệu ha.

Cây trồng BĐG có những đặc tính như khả năng chịu hạn, khả năng kháng sâu bệnh, rút ngắn mùa vụ… từ đó giúp người trồng có được sản lượng cao hơn, chi phí sản xuất thấp hơn. Tuy nhiên trong hơn 20 năm phát triển của cây trồng BĐG, vẫn còn có các ý kiến tranh cãi về tính 2 mặt của cây trồng BĐG; trong đó câu hỏi cây trồng BĐG có thực sự an toàn với con người và có nguy cơ hùy hoại đa dạng sinh học vẫn chưa có câu trả lời xác đáng.

Tại hội thảo “Chia sẻ về biến đổi gen và đa dạng sinh học trong vùng” diễn ra tại Hà Nội vừa qua, Tổ chức Quốc tế hành động vì nguồn gen (GRAIN) đã đưa ra một số kết quả của nghiên cứu về cây trồng BĐG trên thế giới rất đáng chú ý của tổ chức này. TheLEADER lược ghi các nội dung này và giới thiệu đến bạn đọc.

Tiếp tục đọc “Cây trồng biến đổi gen không chấm dứt được nạn đói trên thế giới”

Điều gì là động lực chính trị cho GMO – sinh vật biến đổi gen tại các nước đang phát triển?

Mỗi cây lúa biến đổi gen trong các nhà kính tại CropDesign đều có mã vạch và hệ thống nhận và phát tín hiệu, cho phép các cây được nhận dạng chính xác bất cứ lúc nào.

Devex.com 

Ở các nước đang phát triển trên toàn cầu, các chính phủ đang vật lộn với các câu hỏi về vai trò, nếu có, các sinh vật biến đổi gen –  GMO nên là giúp giải quyết một loạt các thách thức về nông nghiệp, dinh dưỡng và khí hậu.

Các mối lo ngại phát sinh liên quan đến tác động môi trường và sức khỏe của GMO, cũng như tác động của GMO lên các phương pháp canh tác truyền thống và các vấn đề xung quanh nạn độc quyền hạt giống, khiến nông dân phải phụ thuộc vào các tập đoàn công nghiệp.

Chính phủ các nước đang phát triển đang phản ứng với những lo ngại đó bằng cách khác nhau, một số nước cấm GMOs hoàn toàn, một số chấp nhận, và số nước còn lại cố gắng tìm cân bằng giữa những mối lo ngại và nhu cầu của tất cả các bên.

Các nước đang phát triển đang dần dần tăng các luật được phê duyệt và mở ra cánh cửa cho nghiên cứu và thương mại hóa cây trồng GMO. Khi các nước này tìm cách mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện điều kiện sống trong nước và giải quyết vấn đề an ninh lương thực trong bối cảnh xung đột và biến đổi khí hậu, một số nước đang tìm thấy giải pháp trong cây trồng biến đổi gen. Tiếp tục đọc “Điều gì là động lực chính trị cho GMO – sinh vật biến đổi gen tại các nước đang phát triển?”

Nông lâm kết hợp: giải pháp ngày càng phổ biến cho một thế giới nóng và đói khát

Thoạt nhìn, các vùng phía Tây Cameroon trông có vẻ tươi tốt [phủ xanh bởi cây cối và rừng], nhưng khi nhìn gần hơn thì thấy đất đai ở khu vực này đã bị suy thoái do canh tác quá mức, kỹ thuật canh tác không bền vững, thảm thực vật bị tàn phá do bị khai thác làm củi và cháy rừng.

Tuy nhiên, ở một số khu vực vẫn tràn ngập đa dạng sinh học: cà phê phát triển dưới bóng mát của cây chuối, gần đó là những cây mận Châu Phi (tên địa phương là cây safou), cây cô la, cam và các loại cây lấy gỗ như gỗ gụ. Đối với người không chuyên thì đây trông giống như một khu rừng tự nhiên, nhưng thực tế đó là một hệ thống nông lâm – kết hợp cây cho bóng mát với cây trồng.

 [Hệ thống nông lâm kết hợp điển hình ở vùng Tây Bắc của Cameroon với chuối và các loại quả địa phương và cây lấy gỗ. Ảnh Ebernezar Asaah]