Sixty years of climate change warnings: the signs that were missed (and ignored)

theguardian.com

The effects of ‘weird weather’ were already being felt in the 1960s, but scientists linking fossil fuels with climate change were dismissed as prophets of doomby Alice BellMon 5 Jul 2021 06.00 BST

In August 1974, the CIA produced a study on “climatological research as it pertains to intelligence problems”. The diagnosis was dramatic. It warned of the emergence of a new era of weird weather, leading to political unrest and mass migration (which, in turn, would cause more unrest). The new era the agency imagined wasn’t necessarily one of hotter temperatures; the CIA had heard from scientists warning of global cooling as well as warming. But the direction in which the thermometer was travelling wasn’t their immediate concern; it was the political impact. They knew that the so-called “little ice age”, a series of cold snaps between, roughly, 1350 and 1850, had brought not only drought and famine, but also war – and so could these new climatic changes.

“The climate change began in 1960,” the report’s first page informs us, “but no one, including the climatologists, recognised it.” Crop failures in the Soviet Union and India in the early 1960s had been attributed to standard unlucky weather. The US shipped grain to India and the Soviets killed off livestock to eat, “and premier Nikita Khrushchev was quietly deposed”.

But, the report argued, the world ignored this warning, as the global population continued to grow and states made massive investments in energy, technology and medicine.

Tiếp tục đọc “Sixty years of climate change warnings: the signs that were missed (and ignored)”

Giáo sư Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời.”

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 1.

soha – Tháng 11 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc quyết định ban hành nghị quyết số 120. Bản nghị quyết còn có tên gọi đặc biệt khác: “Thuận thiên”, về Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo lời kể của vị giáo sư “cây lúa” Võ Tòng Xuân, 2 chữ “thuận thiên” ấy được bắt đầu từ một cuộc trò chuyện ngắn ngủi trên bàn ăn giữa Thủ tướng và ông. Một điều ít ai biết, GS Võ Tòng Xuân đã ấp ủ nó để được “thưa” suốt 30 năm.

4 năm sau cuộc gặp ấy, trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông lão 80 tuổi tóc bạc phơ vẫn ngày ngày cần mẫn với công việc nghiên cứu, giảng dạy cho hàng nghìn sinh viên nông nghiệp. Và vẫn tự hào khi nhắc về 80 năm cuộc đời trăn trở cho con đường “thuận thiên”…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 2.

Bắt đầu cuộc trò chuyện này, tôi muốn biết từ khi nào “thuận thiên” xuất hiện trong suy nghĩ của giáo sư, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân: Khi 15.000 hecta vùng đất thấp ngập mặn, lúa chết sạch, Sóc Trăng bà con kêu thấu trời xanh.

Một thời Việt Nam ta tự hào vì 9 con rồng đổ mình ra biển Đông, nhưng đến thập kỷ 1960 con rồng Ba Thắc (Sóc Trăng) thực sự đã chết. Thập kỷ 1980 thì tới lượt con rồng Ba Lai (Bến Tre) mười mấy cây số đều bị lấp, không còn đủ chảy nước chảy thành một lòng sông…

Khi ấy, tôi nói đùa với đồng nghiệp: “Cửu Long mất hai, giờ chẳng lẽ đổi tên đồng bằng ta là Thất Long sao?”. Nhưng nói xong, chỉ thấy nhói tận tâm.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 3.

Suốt một thời gian dài từ 2000 đến nay, tôi đã chứng kiến ĐBSCL trải qua những mùa khô và hạn hán khốc liệt như thế đấy! Đi đến đâu, gặp bất kỳ người nông dân nào, cũng chỉ nước mắt và lời kêu than không thể nào đau lòng hơn.

Cho đến một buổi sáng tháng 3/2010, tôi tình cờ đọc trực tuyến trên tờ Bangkok Post bản tin về Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo ngồi giữa thửa ruộng Vân Nam. Xung quanh bốn bề đất nứt như gót chân người, không còn lấy một giọt nước.

Dưới bức ảnh, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhắn: “Tôi không dám vào viếng một nhà nông dân nào. Vô đó, tôi chắc chắn họ không còn nước mời tôi uống”.

Ngày 25/3/2010, tôi đi viếng vùng nhiễm mặn Sóc Trăng cũng thấy tình trạng cạn khô như vậy.

Khi đó tôi mới vỡ lẽ.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 4.

Vỡ lẽ về điều gì, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân: Suốt thời gian dài, chúng ta nói, thượng nguồn Trung Quốc xây đập thuỷ điện chằng chịt, chặn đứng nguồn nước Mê Kông gây hạn hán, ngập mặn. Việt Nam, Thái Lan, Campuchia nhiều năm nay vẫn kiện cáo, đòi mở đập để “giải cứu” cây lúa miền dưới.

Nhưng thực tế không phải vậy!

Rõ ràng lúc Việt Nam đang gặp hạn thì trên Vân Nam họ cũng thế! Từ sau năm 2015, mực nước sông Mê Kông mùa khô liên tục rơi xuống còn 1.600 m3 – 1.800 m3/s, trong khi trước đây nó từng đạt 40.000 m3/s vào mùa mưa và 2000 m3/s vào mùa khô.

Chúng ta kiện, chúng ta đòi mở nước nhưng Trung Quốc họ đã không còn đủ nước cho cả đất nước họ nữa rồi. Mà cho là có năm dư, khi xuống tới đường ranh Thái Lan – Lào, hàng ngày hàng nghìn trạm bơm vẫn lấy nước đổ vào cho vùng hạn Đông Bắc Thái Lan thì đến lượt Việt Nam liệu có còn nước không?

Đó là tình hình chung thế giới! Và cái biến đổi khí hậu nó đã xảy ra hàng chục năm nay, trên toàn bộ Trái Đất, chứ đâu phải đến tận bây giờ ông trời mới bắt Việt Nam gồng gánh nỗi đau này?

Có thời điểm vì sợ thiếu lương thực, Bộ Nông nghiệp và Hải Quan đề nghị nước ta tạm ngưng xuất khẩu gạo. Hơn một tháng trời, nước ngoài không đợi được, họ liền quay sang Thái Lan mua gạo.

Lúc đó, tôi lên tiếng khẳng định luôn: “Nước ta không bao giờ thiếu lúa gạo!”.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 5.

Để chứng minh điều này, tôi đã đi dọc các tỉnh ven biên giới Campuchia. Ở đó, khoảng 1,2 triệu hecta đất vùng nước ngọt quanh năm, nước mặn không thể ngập tới, cây lúa vẫn phát triển tốt, thậm chí còn cho năng suất rất cao.

Chỉ duy khoảng 15.000 hecta ở vùng ven biển của mấy ông nông dân “cãi trời”, chính quyền đã cảnh báo nhưng vẫn chăm chăm làm lúa thì giờ mới than trời kêu đất.

Truyền thông không nhìn thấy được bức tranh toàn cảnh nên đã gây ra rất nhiều hiểu lầm.

Tháng 9/2017, tôi được mời tham dự Hội nghị về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ, do Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì. Nhân dịp này tôi mới rút ruột rút gan ra trình bày với Thủ Tướng:

“Nông dân miền Tây mình đang mắc vòng kim cô rất lớn! Thưa Thủ tướng…”

Thủ tướng thấy lạ bèn hỏi lại: “Kim cô gì thầy? Nhờ thầy nói rõ!”

“Kim cô chính là lúa.”.

Tôi giải thích tiếp: “Giờ này chúng ta thặng dư nhiều lúa rồi nhưng Nhà nước cứ buộc nông dân trồng lúa, vùng mặn cũng phải làm. Đó chính là ta đi ngược với thiên nhiên, chống thiên nhiên.”

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 6.

Thủ tướng hỏi: “Chống như thế nào thầy?”

“Ở các vùng mặn, mùa nắng ruộng chỉ có nước mặn, đáng lẽ người ta phải nuôi tôm, nuôi cá, sinh lời… lại bắt người ta trồng lúa. Đó là không thuận thiên…”

Lúc ấy, Thủ tướng vỡ lẽ.

Kết thúc kỳ họp, Thủ Tướng đồng ý dùng 2 chữ “thuận thiên” làm tôn chỉ cho nghị quyết mới.

Tháng 11/2017 thì nghị quyết 120 do Chính phủ ban hành đã nhấn mạnh tầm quan trọng của 2 chữ “Thuận thiên”.

Bởi khi ấy, nếu nông dân tiếp tục “cãi trời”, ĐBSCL sẽ đi vào thế khó. Thuận thiên thì không những biến nguy thành cơ mà còn là cơ hội “vàng” cho Tây Nam Bộ vươn lên làm giàu.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 7.

Trước Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Giáo sư đã bao giờ đề cập đến con đường “thuận thiên” này lần nào khác?

GS Võ Tòng Xuân:  Thú thật, hơn 50 năm “ăn nằm” với cây lúa, tôi chưa bao giờ thôi nghĩ về nó.

Thời kỳ đất nước giải phóng, chúng ta đề ra chính sách đảm bảo an ninh lương thực, chú trọng việc trồng lúa.

Tại kỳ họp thứ 1 Quốc hội Khóa VII (1981-1987) do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng chủ trì, Chánh phủ báo cáo đã mở rộng sản xuất lương thực vùng Đồng Tháp Mười và vùng lúa Tứ Giác Long Xuyên.

Đến lúc đại biểu Quốc Hội tham luận, tôi đăng ký xin thưa: “2 vùng vừa báo cáo không chỉ không cho kết quả như ý muốn mà còn làm nãn lòng nhân dân”.

Bởi thời điểm đó, những vùng này đất rất phèn, cây tràm đã sống thành rừng mà giờ ta lại chỉ đạo phá rừng, trồng lúa.

Mọi người cứ nghĩ Nam Bộ “cò bay thẳng cánh” thì đâu đâu cũng trồng lúa được. Không phải! Đó là cưỡng trời, là đi ngược thiên nhiên. Bao nhiêu vốn đầu tư nhưng sẽ không lấy lại được bao nhiêu!

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 8.

Nghe xong, chủ tịch Phạm Văn Đồng nhìn tôi, trách: “Tại sao đến giờ đồng chí mới nói?”.

Lúc đó, tôi thưa: “Dạ! Đây là dịp đầu tiên cháu mới có được môi trường Quốc hội để phát biểu”. Sau đó, ông cười rồi lập tức kêu Ông Phan Xuân Đợt (Bộ trưởng Lâm Nghiệp bấy giờ) và ông Nguyễn Đăng (nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp) đưa ra phương án, nhanh chóng sửa sai vấn đề này ngay.

Đến cuối năm 1989, nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo. Ngặt cái, trồng lúa ở miền Bắc thì cứ như chống giặc vậy! Vụ đông xuân thì chống rét, hạ chống hạn, thu đông thì chống bão lũ… Lúc đó tôi mới thấy sao nông dân mình khổ quá! Suốt đời cứ chống, đi đánh thế thì bao giờ mới có ăn. Tôi liền nghĩ đến phương án giảm trồng lúa.

Năm 1990, tôi đổi tên “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa” của mình thành “Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Canh tác”. Trong những lần ra nước ngoài, tôi vận động Australia giúp kinh phí chi Viện Lúa Quốc tế (IRRI) và Canada tài trợ chương trình nghiên cứu khoa học. Về nước tôi mời các khoa Nông nghiệp của đại học Việt Nam thành lập Mạng Lưới nghiên cứu hệ thống canh tác xoay quanh cây lúa cho từng vùng. Chủ yếu là để giảm bớt một, hai vụ lúa nhằm luân canh cây trồng khác hoặc nuôi tôm, cá.

Nhưng cuối cùng dự án đó mãi mãi không thực hiện được…

Sang kỳ họp Quốc hội thứ 8, tôi tiếp tục đề cập vấn đề cắt giảm nhu cầu trồng lúa, chuyển sang canh tác cây ăn quả, thâm canh tôm, cá giá trị cao. Lúc đó, một đại biểu Quốc Hội đứng lên phản bác rất gay gắt: “Mình là con người, con người phải ăn cơm ăn gạo, chỉ có con khỉ mới ăn quả”.

Vậy đó, họ nói tôi như thế đó!

Tôi về, đi ra đồng thì ông nông dân vẫn hỏi: “Bây giờ mình dư nhiều gạo, xuất khẩu nhiều quá rồi, sao nhà nước còn khuyến khích trồng lúa?”. Có lúc tôi không biết trả lời họ câu hỏi đó sao cho phải…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 9.

Một đời người nghiên cứu về cây lúa nhưng năm lần bảy lượt ông lại ủng hộ quan điểm Việt Nam không nên tiếp tục trồng nhiều lúa. Điều đó có mâu thuẫn quá không, thưa ông?

GS Võ Tòng Xuân:  Đúng! Đúng là có lúc tôi từng mâu thuẫn như thế!

Thời điểm năm 1975, chính sách đảm bảo an ninh lương thực khiến dân ta không có lựa chọn nào ngoài chuyện trồng lúa. Miền Bắc thì tập trung lo đê điều, Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ thì thuỷ lợi, ngọt hoá. Hơn 70% kinh phí nhà nước cấp cho ngành nông nghiệp khi ấy chỉ để xây thủy lợi, làm lúa nước.

Dân phá rừng trồng lúa, thậm chí nhà nào có vườn hoa đẹp phải cuốc lên, có vườn trái cây đều đào gốc, trồng rau, khoai. Nhiều gia đình thèm có một cái cây ăn trái lắm, phải lén đắp mô ở trong ruộng, chỗ này một ít, chỗ kia một ít để có cây nhãn, cây xoài ăn chơi.

Bởi khi ấy, chúng ta còn quá ám ảnh cái đói sau 2 cuộc thế chiến! Cái chính sách an ninh lương thực là cần thiết. Nhưng suốt 30 năm, từ khi chúng ta đủ ăn, dư ăn và xuất khẩu gạo rồi, chúng ta vẫn duy trì chính sách ấy, vẫn trồng lúa mọi nơi, thậm chí còn tốn nhiều tiền để ngọt hóa vùng mặn để trồng thêm.

Nếu tôi vì bản thân mình thì tôi đã nhắm mắt cho qua. Nhưng không phải! Tôi đã chứng kiến nhiều câu hỏi không biết trả lời thế nào từ những nông dân như thế rồi.

Đúng như ý nguyện của Bác Hồ “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu”, tôi nghĩ đã đến lúc nhà nước ta, các doanh nghiệp và cả người nông dân đều cần thay đổi.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 10.

Con đường thay đổi đó thực hiện như thế nào?

GS Võ Tòng Xuân: Trước đây, người Việt hay có quan niệm: “Không học thì đi làm nông dân”. Bởi ngày xưa, ông bà ta chỉ làm nông theo hình thức tự phát, kinh nghiệm, bắt chước.

Nhưng giờ Việt Nam đã qua cái thời “thất học ra đồng”! Chúng ta có rất nhiều cơ sở để tri thức hoá người nông dân như các nước châu Âu.

Nói vậy không phải là bắt ông nông dân phải đi học đại học, cao đẳng. Mà ông ấy chỉ cần qua các lớp đào tạo do doanh nghiệp, nhà nước địa phương tổ chức nhằm làm sao cho nguyên liệu do nông dân làm ra đạt đủ tiêu chuẩn yêu cầu thì xem như đã qua lớp và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện “hành nghề ”.

Thứ hai, trong tương lai gần, với tình trạng hạn mặn và sạt lở diễn ra mạnh mẽ ở ĐBSCL như hiện nay, để phát triển toàn diện thì cần phải giảm lúa gạo. Tại vùng ven biên giới Campuchia, là vùng luôn luôn có đủ nước ngọt và không bị nước mặn xâm nhập, thì chúng ta nên thiết kế 1.2 triệu hecta lúa, trồng 2-3 vụ/năm để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu một phần.

Còn những tiểu vùng gần biển thì nên trồng lúa vào mùa mưa, mùa nắng có thể kết hợp nước mặn với nước ngọt trộn lại để nuôi tôm, nuôi cá thâm canh hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn. Vùng giữa thì bắt đầu lên liếp đất để hạn chế nước mặn và có rảnh mương dự trữ nước trong mùa mưa để tưới cho cây trồng trong mùa nắng.

Thứ 3, nhà nước cần nắm được các khuynh hướng nông nghiệp trên thế giới. Từ đó, tạo điều kiện liên kết vùng, nông dân-nông dân (dồn điền -PV), nông dân-doanh nghiệp, doanh nghiệp-doanh nghiệp để sản xuất trên diện tích lớn bằng cơ giới và công nghệ 4.0.

Ngược lại, phía doanh nghiệp phải được đào tạo thành nhà doanh nhân giỏi, là đơn vị tiên phong trong chế biến sản phẩm có thương hiệu, năng nổ khám phá và sẵn sàng tìm đầu ra cho sản phẩm.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 11.

Cuối cùng là công cuộc chiếm lĩnh thị trường 100 triệu dân trong nước. Sự thật là những năm qua, ngành nông nghiệp đang dần chiếm được tình cảm của người tiêu dùng Việt bởi những sản phẩm an toàn vệ sinh, ngon, hấp dẫn, không kém sản phẩm ngoại nhập.

Vậy trong 3 năm thực hiện nghị quyết 120, con đường “thuận thiên” ấy đã để lại cho chúng ta tín hiệu đáng mừng như thế nào rồi, thưa GS?

GS Võ Tòng Xuân: Nông dân các tỉnh ven biển ĐBSCL đã và đang phấn khởi với những vùng chuyển đổi mà Đảng và Nhà nước quy hoạch mới, hàng ngàn hecta lúa-tôm đã đem lại lợi tức gấp 4-5 lần trồng lúa độc canh trước đây.

Bến Tre ngoài cây dừa đã trồng thêm cây ăn trái như bưỡi, xoài, sầu riêng bằng bón phân hữu cơ sinh học chống mặn tốt. Trên các cánh đồng lúa bát ngát ở Châu Đốc (An Giang), Tháp Mười (Đồng Tháp) cũng bắt đầu nhen nhóm những vườn xoài, chuối. Nhiều doanh nghiệp như Vinamit, vua chuối Út Huy, công ty Cỏ May (Đồng Tháp), Trung An (Cần Thơ),… đã áp dụng nông nghiệp “sạch”, chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng con đường “chất lượng thắng số lượng.”

Năm 2020, bất chấp đại dịch Covid-19 chúng ta đã xác lập nhiều kỷ lục khi sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã vươn xa tới gần 190 thị trường thế giới, xuất khẩu nông sản đạt mốc 41,2 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Nhiều loại quả như vải thiều, chôm chôm, thanh long, vú sữa, xoài, nhãn… đã có mặt tại những thị trường khó tính nhất như Mỹ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc…, giá trị còn tăng gấp 20-30 lần so với trong nước.

Về gạo, khối lượng gạo xuất khẩu giảm 3,5% nhưng tăng 9,3% về giá trị, trong đó gạo chất lượng cao chiếm 85% gạo xuất khẩu. Một khoảng thời gian, chúng ta đã vượt hẳng qua Thái Lan. Như hôm qua (ngày 22/2), tôi vừa xem giá gạo thì Việt Nam đạt 536 USD/ tấn, cao hơn hẳng nước bạn.

Đó đều là tín hiệu đáng mừng!

Và từ năm 2020 trở đi, với điều kiện thuận lợi của Hiệp định Thương mại tự do EVFTA, CPTPP… nông sản Việt vào thị trường EU không bị đánh thuế, thì chúng ta có quyền hy vọng con đường đến top 15 nền nông nghiệp hàng đầu thế giới.

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 12.

Ở tuổi 81 này, GS còn điều gì trăn trở cho cuộc sống và nền nông nghiệp Việt Nam?

GS Võ Tòng Xuân: Năm 1991, tôi sang Mỹ, có dịp gặp một vài anh bạn người Việt gốc Hoa làm chủ chuỗi siêu thị Á Châu. Ngồi nghe tâm sự, các anh ấy đều nói:“Bây giờ thầy phải làm thế nào đi thầy? Tụi con thèm bán gạo Việt lắm mà Việt Nam không có giống gạo ngon nào, siêu thị tụi con toàn phải mua gạo Thái Lan”.

Câu hỏi ấy cứ theo tôi mãi!

Năm 2019, khi Hồ Quang Cua – sinh viên của tôi, lai tạo thành công “giống gạo ngon nhất thế giới” ST25, tôi mới có thể tự tin giới thiệu với các siêu thị Á Châu.

80 năm cuộc đời, tôi đã đặt chân đến trên 80 nước để mang về những cải tiến cho nền nông nghiệp Việt Nam. Tôi vui khi hoàn thành được những hoài bão. Nhưng sẽ càng hạnh phúc hơn nhiều nếu đi đâu đâu trên khắp thế giới này tôi đều thấy nông sản Việt Nam, thấy người ta hào hứng lựa chọn nó, tôi hay tưởng tượng đến những nụ cười sung sướng của người nông dân đã và đang sản xuất nguyên liệu an toàn, chất lượng để cung cấp cho nhà doanh nghiệp, cùng nhau làm ra những sản phẩm có thương hiệu nổi trội.

Đó là những người tiếp tay làm nên sự giàu có của chính họ và của đất nước Việt Nam.

Bây giờ, mỗi ngày tôi vẫn làm việc bình thường. Nói chuyện với bạn hôm nay, lát nữa sẽ về Cần Thơ để mai gặp sinh viên. Kế hoạch cuối tuần này thì lên Nhà máy đường Gia Lai tính chuyện hợp tác với người dân tộc tại Huyện Eatun trồng cây mía,… Ngày nào còn sức khỏe và trí óc minh mẫn, ngày ấy tôi sẽ còn truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng cho thế hệ sau bấy lâu.

Như Khổng Tử, Trang Tử, Lão Tử của ngày xưa mong muốn tìm người tiếp nối. Tôi chỉ mong một mai sẽ có đôi mắt thay tôi nhìn ngắm những cánh đồng Việt Nam phát triển thế nào…

Xin cám ơn ông vì những chia sẻ chân thành này…

GS Võ Tòng Xuân: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” - Ảnh 13.

Bài: Huy HậuẢnh: Hải Long

Thiết kế: Trang Đinh

How Vietnam came to embrace a new vision of the Mekong Delta’s future

Miền Tây oằn mình trong cơn khát

Hạn, mặn do biến đổi khí hậu cùng với hàng loạt đập thủy điện mọc lên ở thượng nguồn sông Mê Kông đang khiến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khát nước ngọt trầm trọng.
Một con kênh chảy qua xã Bình Phan (H.Chợ Gạo, Tiền Giang) cạn trơ đáy /// Ảnh: Ngọc Dương

 

Một con kênh chảy qua xã Bình Phan (H.Chợ Gạo, Tiền Giang) cạn trơ đáy

Ảnh: Ngọc Dương

Tiếp tục đọc “Miền Tây oằn mình trong cơn khát”

Mê Kông cạn cá

BVR&MT – Tbong ngồi trong bóng râm của căn chòi tạm bợ trên bờ hồ Tonlé Sap, quanh anh là mấy đứa trẻ tò mò.

“Cá quả, cá trê, cá tai tượng… Trước đây, cách đây rất lâu, hồ có rất nhiều cá”, anh vừa nói vừa nheo mắt vì nắng.

Cá ở Tonlé Sap, hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á là nguồn chất đạm chính cho người Campuchia. (Ảnh: Getty)

Nhưng mọi thứ thay đổi chóng vánh. Các loài cá suy giảm, thực vật đang chết dần và toàn bộ hệ thống sông Mê Công tan rã. Đối với những đứa trẻ tụ tập quanh Tbong, một Tonlé Sap trù phú chỉ còn trong chuyện kể.

Nằm ở trung tâm lưu vực hạ nguồn sông Mê Công, Tonlé Sap là hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Hồ và vùng ngập lũ xung quanh được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển vào năm 1997, là nơi sinh sản, cung cấp nguồn thức ăn và là nơi thu hoạch hàng trăm loài cá và các sản phẩm thủy sản khác. Tiếp tục đọc “Mê Kông cạn cá”

DÒNG SÔNG KHÔNG QUAY ĐẦU: MEKONG ĐỐI MẶT VỚI TƯƠNG LAI U ÁM

mekong-cuulong.blogspot.com

(River of no return: Mekong faces grim future)

Luke Hunt – Bình Yên Đông lược dịch

UCANews – August 21, 2019

Hình chụp ngày 14 tháng 4 cho thấy một du khách đi ngang đụn cát hay “Toppathatsay” trên bờ sông Mekong đánh dấu năm mới ở Lào hay “Pi Mai” tổ chức ở Luang Prabang. [Ảnh: Manan Vatsyayana/AFP]

Một lần nữa, sông Mekong xuống thấp đến mức kỷ lục, đe dọa việc sản xuất hoa màu, ngư nghiệp và sinh kế của 70 triệu người giữa việc phát triển thái quá và những báo động tàn khốc.  Nhưng hạn hán năm nay, lần thứ hai trong vòng 3 năm, có thể đánh dấu một bước ngoặt và một tương lai đen tối.

Tiếp tục đọc “DÒNG SÔNG KHÔNG QUAY ĐẦU: MEKONG ĐỐI MẶT VỚI TƯƠNG LAI U ÁM”

Raising agricultural productivity in Vietnam isn’t rocket science

Author: Malcolm McPherson, Harvard Kennedy School
After profound advances in manufacturing and services, most observers now believe that Vietnam is well-positioned to meet its principal Vision 2035 goal of achieving upper middle-income status. But sustained agricultural gains are by no means assured. Key agricultural officials recognise this. In 2013, the governmentintroduced an ‘agricultural restructuring’ program and revised the Law on Land. Major international agencies, including the Asian Development Bank and World Bank, have urged broad-based reform. Action so far has been limited primarily because crop, livestock and aquaculture production continue to rise. Vietnam’s policy makers — well known for their conservatism — see radical reform as premature. This is a serious mistake.A farmer throws seeds to plant on a rice paddy field in Ngoc Nu village, south of Hanoi, January 2015 (Photo: Reuters/Kham).At the end of the Vietnam War, agriculture in Vietnam employed around 75 per cent of the total workforce and produced roughly 10 million tons of rice, the country’s staple. The majority of Vietnam’s population of 50 million was significantly undernourished. Agricultural recovery was slow, blocked by the government’s collectivisation policies. Formal reform efforts through Directive 100 in 1981 partially freed up agricultural markets. They accelerated with doi moi (renovation) in 1986 and the Law on Land in 1988. The latter granted land use rights to households and stimulated a dramatic response from farmers. Tiếp tục đọc “Raising agricultural productivity in Vietnam isn’t rocket science”

Nghịch lý ở Đắk Lắk: Hơn 1.000ha cây trồng chết khát trong khi nhiều khu vực ngập lụt

21/08/2019 16:08 GMT+7

TTO – Trong khi nhiều địa phương tại Đắk Lắk như Ea Súp, Buôn Đôn, Buôn Ma Thuột, Cư M’gar… bị ngập lụt, thì tại huyện M’Đrắk lại khô hạn suốt 4 tháng qua làm hơn 1.000 ha cây trông chết khô.

Nghịch lý ở Đắk Lắk: Hơn 1.000ha cây trồng chết khát trong khi nhiều khu vực ngập lụt - Ảnh 1.

Hàng ngàn hecta lúa, hoa màu tại huyện M’Đrắk chết khô – Ảnh: L.ĐAN

Chiều 21-8, trao đổi với  Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Thế Thập, trưởng phòng NN&PTNT huyện M’Đrắk ( Đắk Lắk), cho biết: địa đang dùng nhiều phương án để cứu các diện tích lúa, cây trồng còn lại trong đợt nắng hạn khủng khiếp vừa qua. Tiếp tục đọc “Nghịch lý ở Đắk Lắk: Hơn 1.000ha cây trồng chết khát trong khi nhiều khu vực ngập lụt”

Dân kiệt sức, lãnh đạo phát sốt, ngân sách cạn tiền

VNN – By Bảo Phương   July 13, 2019    16:45 GMT+7

Trong vòng 160 ngày, số lượng lợn tiêu huỷ vì mắc dịch tả lợn châu Phi đã lên tới trên 3,3 triệu con. Đồng bằng sông Hồng là nơi bị thiệt hại nặng nề, nhiều địa phương mất tới 30-40% tổng đàn, ngân sách dự phòng đã cạn kiệt.

Ngân sách nhiều địa phương đã cạn kiệt vì dịch tả lợn châu Phi gây thiệt hại lớn chưa từng có

Thiệt hại lớn chưa từng có, ngân sách cạn kiệt

Số liệu thống kê mới nhất của Bộ NN-PTNT cho thấy, tính đến nay, bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xả ra tại 5.422 xã, 513 huyện của 62 tỉnh, thành phố; tổng số lợn bị bệnh buộc phải tiêu hủy là 3,3 triệu con. Hiện, cả nước chỉ còn duy nhất tỉnh Ninh Thuận chưa có bệnh DTLCP. Tiếp tục đọc “Dân kiệt sức, lãnh đạo phát sốt, ngân sách cạn tiền”

Nông lâm kết hợp: giải pháp ngày càng phổ biến cho một thế giới nóng và đói khát

Thoạt nhìn, các vùng phía Tây Cameroon trông có vẻ tươi tốt [phủ xanh bởi cây cối và rừng], nhưng khi nhìn gần hơn thì thấy đất đai ở khu vực này đã bị suy thoái do canh tác quá mức, kỹ thuật canh tác không bền vững, thảm thực vật bị tàn phá do bị khai thác làm củi và cháy rừng.

Tuy nhiên, ở một số khu vực vẫn tràn ngập đa dạng sinh học: cà phê phát triển dưới bóng mát của cây chuối, gần đó là những cây mận Châu Phi (tên địa phương là cây safou), cây cô la, cam và các loại cây lấy gỗ như gỗ gụ. Đối với người không chuyên thì đây trông giống như một khu rừng tự nhiên, nhưng thực tế đó là một hệ thống nông lâm – kết hợp cây cho bóng mát với cây trồng.

 [Hệ thống nông lâm kết hợp điển hình ở vùng Tây Bắc của Cameroon với chuối và các loại quả địa phương và cây lấy gỗ. Ảnh Ebernezar Asaah]

Sea-level legacy: 20cm more rise by 2300 for each 5-year delay in peaking emissions

02/20/2018 – Peaking global CO2 emissions as soon as possible is crucial for limiting the risks of sea-level rise, even if global warming is limited to well below 2°C. A study now published in the journal Nature Communications analyzes for the first time the sea-level legacy until 2300 within the constraints of the Paris Agreement. Their central projections indicate global sea-level rise between 0.7m and 1.2m until 2300 with Paris put fully into practice. As emissions in the second half of this century are already outlined by the Paris goals, the variations in greenhouse-gas emissions before 2050 will be the major leverage for future sea levels. The researchers find that each five year delay in peaking global CO2 emissions will likely increase median sea-level rise estimates for 2300 by 20 centimeters.

Sea-level legacy: 20cm more rise by 2300 for each 5-year delay in peaking emissions

Every delay in peaking emissions by 5 years between 2020 and 2035 could mean additional 20 cm of sea-level rise (Mengel et al 2018)

Tiếp tục đọc “Sea-level legacy: 20cm more rise by 2300 for each 5-year delay in peaking emissions”

Mẹ thiên nhiên và huỷ diệt bởi thủy điện không phải là vấn đề duy nhất của Đồng Bằng Sông Cửu Long

Không có khu vực đồng bằng nào trên thế giới bị đe doạ bởi biến đổi khí hậu trầm trọng như Sông Cửu Long. Liệu Việt Nam có hành động kịp thời để cứu nơi đây?

Loạt bài của Mongabay – Mongabay series

Tiếng Việt
Phần 1 – Liệu biến đổi khí hậu sẽ nhấn chìm Đồng bằng sông Cửu Long?
Phần 2 – Việt Nam cực kỳ lo lắng vì Trung Quốc và Lào xây đập trên Mekong
Phần 3 – Mẹ Thiên nhiên và huỷ diệt bởi thủy điện không phải là vấn đề duy nhất của Đồng bằng sông Cửu Long
Phần 4 – Kế hoạch cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long

English
Part 1 – Will climate change sink the Mekong Delta?
Part 2 – Vietnam sweats bullets as China and Laos dam the Mekong
Part 3 – Mother Nature and a hydropower onslaught aren’t the Mekong Delta’s only problems
Part 4 – A plan to save the Mekong Delta

Biến đổi khí hậu và các đập nước ở thượng nguồn đang đe dọa khu vực quan trọng này và vấn đề trở nên khó kiểm soát được. Nhưng có phải những vấn đề lớn nhất của ĐBSCL đều do chính Việt Nam tạo ra?

Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, nơi ở của gần 20 triệu người, là một trong những môi trường nông nghiệp có năng suất cao nhất trên thế giới, nhờ vào mạng lưới kênh rạch, đê, cửa cống và rãnh thoát nước phức tạp.

Về thế mạnh nông nghiệp của ĐBSCL, Việt Nam đã đi từ một nhà nhập khẩu gạo lâu năm và trở thành một nước xuất khẩu lớn. Tuy nhiên, nông dân trong khu vực rất quan tâm đến các chính sách an ninh lương thực của chính phủ, trong đó yêu cầu hầu hết đất đai của ĐBSCL phải được dành cho sản xuất lúa gạo. Và nhiều người trong số họ đang có biện pháp để phá vỡ các quy tắc, theo những cách mà không phải lúc nào cũng thân thiện với môi trường.
Tiếp tục đọc “Mẹ thiên nhiên và huỷ diệt bởi thủy điện không phải là vấn đề duy nhất của Đồng Bằng Sông Cửu Long”

Nạn đói ở giữa thế kỷ 21? Không phải do thiếu thực phẩm

English: Famines in the 21st century? It’s not for lack of food

Những nạn đói đã cướp đi sinh mạng của gần 75 triệu người ở thế kỉ 20, nhưng dường như vấn đề này đã được giải quyết ở những thập kỷ gần đây. Hiện tại, đột nhiên, vấn nạn này quay trở lại. Vào cuối tháng 2, một nạn đói đã diễn ra ở South Sudan, và ở Somali, Nigeria và Yemen cũng đã phát ra những cảnh báo về nạn đói.

Ngoài ra, vào tháng 1, Hệ thống cảnh báo nạn đói sớm (FEWSNET) – một tổ chức được tài trợ bởi chính phủ Mỹ thành lập năm 1985 chuyên đưa ra dự báo về nạn đói và những vấn đề nhân đạo khẩn cấp – đã ước tính 70 triệu người bị ảnh hưởng bởi các xung đột hoặc thảm họa toàn cầu sẽ cần trợ giúp lương thực vào năm 2017. Con số này đã tăng lên gần 50% chỉ trong vòng 2 năm qua.

Đâu là nguyên do của hiện tượng tăng đột biết số người cần trợ giúp lương thực khẩn cấp? Và tại sao, trong thời kỳ mà nghèo đói đang giảm trên quy mô toàn cầu, chúng ta đột nhiên phải đối mặt với bốn nạn đói tiềm ẩn ở các quốc gia ít liên quan đến nhau? Tiếp tục đọc “Nạn đói ở giữa thế kỷ 21? Không phải do thiếu thực phẩm”

Kinh tế Biến đổi Khí hậu: Nổi trên dòng nước

English: Climate Change Economics: Treading the water

Một cái hoá đơn tại bang Floria đang dần đến hồi kết, cái giá của Biến đổi khí hậu đang ngày càng tăng trên toàn cầu. Thích ứng với BĐKH sẽ cần thời, nhưng liệu có cứu được Miami?Frank Behrens, một nhà phân phối hàng đầu cho công ty phát triển Hà Lan mà đang thấy lợi nhuận, không bị thua lỗ trong biến đổi khí hậu, vừa tắt động cơ trên chiếc ca nô 22-foot Hurricane. Chúng tôi trôi qua vùng nước lợ về phía giữa hồ Maule thuộc sở hữu tư nhân ở North Miami Beach.

Nơi đây không hoàn toàn là thiên đường.

Hồ này, giống như nhiều hồ khác ở Florida, bắt đầu là một mỏ đá. Từ đó trong nhiều năm, nó được dùng như một địa điểm để đua thuyền, một chỗ bơi lội cho hải cẩu, và một loạt chương trình truyền hình Flipper năm 1960. Mới đây, như thể nhấn mạnh tính không bền vững về địa chất của South Florida, các công ty phát triển đã chơi trò lấp đầy một phần của hồ để xây các căn hộ. Behrens đang quảng bá một ngôi làng nổi với 29 hòn đảo nhân tạo riêng biệt, mỗi đảo đều có biệt thự kiểu dáng đẹp, 4 phòng ngủ, bãi cát, hồ bơi, cây cọ, và một bến tàu đủ dài để neo đậu một du thuyền 80 feet. Giá bán là 12.5 triệu đô la mỗi hòn đảo.

Dutch Docklands, công ty của Behrens, đã chọn hồ  này và quảng cáo các hòn đảo như liều thuốc giải độc biến đổi khí hậu cho người giàu. Đối với những rủi ro nước biển dâng cao, thì đó là vẻ đẹp của ngôi nhà nổi. Các hòn đảo sẽ được neo vào đáy của hồ bằng sợi dây viễn vọng giống những sợi dây làm cho các giếng dầu nổi lái ra khỏi các cơn bão khủng khiếp nhất. Tiếp tục đọc “Kinh tế Biến đổi Khí hậu: Nổi trên dòng nước”

Venezuela is likely to be the first country to lose all of its glaciers, but unfortunately it will not be the last country.

Venezuela is losing its last glacier

Glacierhub.com

Humboldt Glacier, 14 December 2011 (Source: The Photographer/ Creative Commons).

Venezuela used to have five glaciers. Today, only one remains. The last glacier in Venezuela, the Humboldt glacier, is about to disappear. “Reduced to an area of ten football pitches, a tenth of its size 30 years ago, it will be gone within a decade or two,” reports The Economist. Once Venezuela loses the Humbolt, it will become the first country in modern history to have lost all of its glaciers.

The glacier is expected to completely vanish in ten to twenty years, and scientists have expressed the importance of studying the glacier in its last stages. However, the political and economic crisis in Venezuela makes it difficult to study the glacier. In the past, studies have shown how rapid glacier retreat affects the water cycle in glacier-dependent basins, which changes water regulation and availability. Thus, the disappearance of the Humboldt glacier will impact local communities as run-off stability and water supply for agriculture change. Tiếp tục đọc “Venezuela is likely to be the first country to lose all of its glaciers, but unfortunately it will not be the last country.”