Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – 7 kỳ

Tiếng nước tôi, xin giấu vào lòng

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 2: Sao Mai ở Berlin

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 3: Cho và nhận

“Sự tích chú Cuội” giữa lòng Warsaw

Nối lại nhịp cầu

Một đề án dở dang

Để “tiếng nước tôi” vang mãi nơi xa…


Tiếng nước tôi, xin giấu vào lòng

16/11/2013 09:05 GMT+7

TTNửa thế kỷ qua, hành trình gieo chữ Việt cho người Việt trên đất Thái Lan đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Nhớ lại những tháng ngày gian nan đi học, đi dạy phải giấu giấu giếm giếm, nhiều thầy cô không giấu được những giọt nước mắt hạnh phúc…

Cô giáo Đào Thanh Tẻo (phải) và một cô giáo dạy tiếng Việt ở Đài Loan - Ảnh: Nguyễn KhánhPhóng to
Cô giáo Đào Thanh Tẻo (phải) và một cô giáo dạy tiếng Việt ở Đài Loan – Ảnh: Nguyễn Khánh

Thương nhớ “tiếng nước tôi…”

Bà Đào Thanh Tẻo giờ đã ngoại ngũ tuần. Người phụ nữ thấp đậm, gương mặt tươi tắn, nói tiếng Thái sõi hơn tiếng Việt, khiến phần lớn người gặp bà lần đầu đều lầm tưởng bà là người Thái Lan. Ở lớp bồi dưỡng cho giáo viên dạy tiếng Việt ở nước ngoài tại Hà Nội những ngày tháng 10-2013, bà Tẻo tự nhận là “nói tiếng Việt kém trôi chảy nhất”. Nhưng ít ai biết đó là cô giáo đặc biệt trên đất Thái. Trong câu chuyện lan man với cô giáo Tẻo, chúng tôi mới vỡ lẽ người phụ nữ này đã phải nhiều năm trời giấu thân phận mình dưới vỏ bọc của một người Thái Lan…

… Một thời gian dài, tiếng Việt gần như một thứ ngôn ngữ bị cấm trên đất nước Thái Lan. Người dạy, người học đều không dám hé ra mình có tí liên đới nào đến chữ Việt. Sách mang đến lớp phải buộc chặt vào bụng giấu dưới áo để tránh bị phát hiện bất ngờ. “Khi tôi lớn lên, vào những năm 1960-1970, khu dân cư có đông người Việt sinh sống thường bố trí những cửa ngách thông nhau giữa nhà nọ với nhà kia. Trong nhà dạy học, bên ngoài phải có người đứng cảnh giới. Chính quyền đến kiểm tra là người dạy, người học đã chạy thông sang nhà khác tự bao giờ rồi. Dù cẩn thận ngụy trang như thế nhưng không ít lần người học, người dạy tiếng Việt bị bắt quả tang vì tội dạy chữ trái phép”- bà Tẻo nhớ lại.

Sinh ra và lớn lên ở Thái Lan, nhưng ngay từ lúc thơ bé bố mẹ bà đã dặn phải học tiếng Việt cho chuẩn vì “cả gia đình sẽ về quê ở Sơn Tây- VN sống”. Vậy là cô bé con thuở ấy cứ 7 giờ đến lớp tiếng Việt rồi 9 giờ lại đến trường học của người Thái. Đến khi học hết lớp 7 tiếng Việt, như nhiều người Việt khác, bà tham gia đứng lớp giảng dạy. Nhưng rồi nhiều người cho rằng học cũng chẳng để làm gì vì chả biết dùng vào dịp gì, người học dần thưa vắng.

Cuộc sống mưu sinh đưa đẩy bà Tẻo một thân một mình lên thủ đô Bangkok lập nghiệp. Một quán ăn sầm uất một tay bà gây dựng, chăm chút. “Quan hệ hai nước khi đó còn hạn chế, người VN bị kỳ thị, lộ ra nguồn gốc mình chắc chắn tôi chẳng thể làm ăn được. Tôi đóng vai một người Thái, nói tiếng Thái, ăn kiểu Thái, vui chơi như người Thái bằng cái tên đặc sệt Thái: Supac Daodecha. 20 năm sống ở Bangkok theo cách đó, tôi không dám tin có ngày mình lại được trở về công việc dạy tiếng Việt”- bà Tẻo tâm sự. Giấu mình trong hình ảnh một phụ nữ Thái Lan, nhưng tình yêu dành cho thứ tiếng mẹ đẻ vẫn nhắc cô phải “giữ vốn” mỗi ngày. “Thương nhớ tiếng Việt lắm, nhưng tôi chỉ có thể nghe những tiếng thân thương ấy vào ban đêm, một mình, qua cassette”- bà Tẻo bùi ngùi. Rồi bà nghĩ ra cách để dùng được tiếng Việt nhiều hơn: phải ghi chép gì, bà đều phiên âm tiếng Thái để được ghi lại bằng chữ Việt, chép lại những bài hát Thái bằng tiếng Việt. “Tôi có một máy nghe nhạc, lén thu âm những bài hát VN. Lúc rảnh tôi lắp headphone để nghe, để không quên tiếng Việt. Nhưng việc đó cũng chỉ lén làm thôi, không thể để người khác biết”- bà Tẻo nói.

Thầy Lê Quốc Vi - Ảnh: Nguyễn KhánhPhóng to
Thầy Lê Quốc Vi – Ảnh: Nguyễn Khánh

Hơn 7.000 ngày ở thủ đô Bangkok không lúc nào bà Đào Thanh Tẻo thôi mơ ước được trở lại nơi mình sinh ra, nơi nhiều người Việt sinh sống để dạy chữ Việt cho đồng bào. Ngày trở về tỉnh Sakolnakhon, khi đã bước sang tuổi 53, công việc đầu tiên bà nghĩ đến là dạy chữ cho trẻ em gốc Việt. Đến giờ, hơn một năm sau ngày đứng lớp, số học sinh của bà đã lên đến cả trăm người, trẻ con có, thanh niên có, người Việt có, người Thái cũng có.

Những thầy cô đã theo dạy tiếng Việt trên đất Thái Lan nhiều năm qua đều chia sẻ nếu đứng ở thời điểm quá khứ nhìn tới, chả ai dám mơ có lúc thứ tiếng vốn bị hắt hủi mấy chục năm trước lại được công nhận là môn ngoại ngữ tự chọn và được nhiều học sinh lựa chọn. Việc dạy – học chỉ thuận lợi khi quan hệ hai nước ngày càng xích lại gần nhau trong khối ASEAN, đặc biệt từ thời điểm Thái Lan áp dụng chính sách các trường học thuộc các tỉnh biên giới giáp với nước nào thì học tiếng nước đó như một môn ngoại ngữ.

Thầy giáo Lê Quốc Vi (tên Thái Lan là Thawee Rungrotkajonkul) đồng thời là tổng thư ký Hội Người VN tại tỉnh Ubon Ratchathani nhớ như in cảm giác nghẹt thở vì lo lắng mỗi ngày cắp sách đến trường học tiếng Việt 30-40 năm trước. Nhưng từ khi Thái Lan mở rộng chính sách học tiếng Việt như một ngoại ngữ trong nhà trường, nhu cầu học tiếng Việt đột ngột trở nên mạnh mẽ trong chính cộng đồng người bản địa. Giao lưu kinh tế giữa hai nước càng mạnh thì nhu cầu học tiếng Việt như một ngoại ngữ thứ hai sau tiếng Anh càng phát triển trong các trường trung học, ĐH của Thái Lan.Tiếng Việt đã có vị thế hơn xưa nên thầy Vi, vốn chỉ là một thợ điện có thâm niên 40 năm giảng dạy tiếng Việt tại các lớp học gia đình, đã được đích thân lãnh đạo Trường đại học Hoàng gia Ubon Ratchathani đến tận nhà mời làm giảng viên môn tiếng Việt.

Nhưng không phải tiếng Việt giờ đã dễ dàng đến với người Việt trên đất Thái. Trong lớp học tiếng Việt thầy Vi dạy tại Trường đại học Hoàng gia Ubon Ratchathani, học sinh Thái Lan luôn chiếm áp đảo so với học sinh người Việt. “Ở đa số gia đình người Việt hiện nay trẻ em đi học cả ngày ở trường, tối về lại ra sức làm bài tập, không còn khoảng trống nào để học tiếng Việt nữa. Đã qua thời tiếng Việt bị “ngăn sông cấm chợ”, nhưng việc giữ gìn tiếng mẹ đẻ lại đối mặt với thách thức mới của nhịp sống công nghiệp gấp gáp”- thầy Vi phân tích.

Con đường duy trì tiếng Việt, văn hóa Việt trong cộng đồng người Việt ở Thái vẫn còn gập ghềnh. Nhưng những người từng giấu sách tiếng Việt sau vạt áo đi học, từng giữ tiếng Việt trong sâu thẳm tim mình vẫn tiếp tục hi vọng và nỗ lực bền bỉ…

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi

Mẹ hiền ru những câu xa vời

À à ơi! Tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi

Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi

“Dạy và học tiếng Việt trên đất Thái đã trải qua hành trình gian nan mà nếu không có những người tận tâm giữ chữ, tha thiết hướng về cội nguồn, không biết số phận của tiếng Việt trong cộng đồng người Việt hiện nay sẽ ra sao. Có từng nghe chuyện về những người đi dạy chui tiếng Việt trên xứ người, rồi bị bỏ tù khi chính quyền phát hiện mới thấy được quyết tâm nuôi chữ Việt trong cộng đồng.

Đến nay điều kiện học chữ, học tiếng thuận lợi hơn, nhưng hơn bao giờ hết người Việt xa xứ cần được cộng hưởng bằng sự quan tâm thật sự từ VN, để vốn liếng tiếng Việt thế hệ gốc Việt thứ hai, thứ ba vẫn tiếp nối được dòng chảy tiếng mẹ đẻ trong đời sống cộng đồng”.

_____________

Kỳ tới:Sao Mai ở Berlin

NGỌC HÀ – VĨNH HÀ
***

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 2: Sao Mai ở Berlin

17/11/2013 06:16 GMT+7

TT“Chúng tôi đã mang tất cả những gì có thể tới lớp học, từ đồ ăn tới quần áo, vật dụng tự chế với mong muốn kéo bọn trẻ gần hơn với cội nguồn để từ đó khơi dậy niềm hứng thú học tiếng mẹ đẻ. Dạy tiếng Việt ở đây cũng gian nan không khác nhiều lắm thời “bình dân học vụ” hồi trước ở Việt Nam” –

Cô Nguyễn Thị Thanh Tâm, giáo viên dạy tiếng Việt tại Trường Sao Mai ở Berlin (CHLB Đức), nói.

Cô giáo Thanh Tâm trong giờ dạy tiếng Việt ở Trường Sao Mai - Ảnh: nguoiviet.dePhóng to
Cô giáo Thanh Tâm trong giờ dạy tiếng Việt ở Trường Sao Mai – Ảnh: nguoiviet.de

Trở lại bục giảng

Cô giáo Nguyễn Thị Thanh Tâm đã tự bỏ tiền để về VN tham dự lớp tập huấn do Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài và Bộ GD-ĐT tổ chức vào tháng 10-2013. Lớn lên trong một gia đình có truyền thống dạy học, cô Nguyễn Thị Thanh Tâm thi vào ngành sư phạm và trở thành cô giáo dạy văn Trường THCS Quang Trung, Hà Nội.

“Theo chồng sang Đức năm 25 tuổi, tôi đành tạm biệt bục giảng. Sau thời gian nghỉ chăm sóc con, tôi túc tắc đi làm bán thời gian ở một cửa hàng bán hoa tươi. Khi đó tôi đã nghĩ sẽ giã từ nghề dạy học. Nhưng rồi cơ duyên lại tới lần nữa. Tôi trở thành cô giáo dạy tiếng Việt cho trẻ em Việt Nam ở Berlin” – cô Tâm kể với chúng tôi.

Trò chuyện với chúng tôi tại căn hộ của gia đình ở Hà Nội, cô Tâm cho biết: “Hơn 20 năm xa quê nhưng tôi luôn ý thức giữ cho các con văn hóa truyền thống. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt thuần túy. Thời gian đầu cứ có người về nước là tôi nhờ mua sách, truyện từ VN. Tôi đọc và dạy lại cho các con. Càng xa đất nước mình, tôi càng thấy yêu văn hóa Việt, thấy tiếng Việt của mình thật giàu ý nghĩa. Đó cũng là lý do khiến tôi nhận lời trở lại bục giảng lần thứ hai với vai trò dạy tiếng Việt”.

Cô Tâm kể: “Hầu hết bọn trẻ không biết tí gì hoặc nói được rất ít tiếng Việt nên phương pháp dạy tiếng Việt cũng không thể áp dụng theo cách dạy chữ cho trẻ lớp 1 ở Việt Nam. Đó là một thách thức đòi hỏi người dạy phải kiên nhẫn, tìm tòi, áp dụng cách dạy học khác nhau. Nếu dễ nản chí sẽ không thể theo đuổi công việc khó khăn này, bởi vì đây hoàn toàn là việc thiện nguyện, chúng tôi dạy học không phải để kiếm sống”.

Từng dự giờ dạy của cô Thanh Tâm và ghi lại nhiều hình ảnh lớp học ở Sao Mai, ông Quang Chí, một kiều bào ở Đức, kể lại: “Tôi thấy cô Tâm không chỉ yêu nghề mà còn truyền cho các em tấm lòng của người mẹ. Với giọng nói của người Hà Nội chính gốc, chậm rãi, nhẹ nhàng và kiên trì, cô Thanh Tâm giảng giải từng từ, chữ và nghĩa để các em hiểu. Tôi chứng kiến và rất đỗi ngạc nhiên khi các cháu học sinh nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức, nhưng khi vào giờ học các cháu trả lời cô giáo bằng tiếng Việt ngon lành!”.

Lễ khai giảng lớp tiếng Việt ở Cottbus (Đức) - Ảnh: nguoiviet.dePhóng to
Lễ khai giảng lớp tiếng Việt ở Cottbus (Đức) – Ảnh: nguoiviet.de

Như “bình dân học vụ”

Giữa thủ đô Berlin có một trường học nhỏ mang tên Sao Mai, lập ra để dạy tiếng Việt cho cộng đồng người Việt. Trường do bà Mùi, giám đốc Trung tâm thương mại Thái Bình Dương tại Berlin, giúp đỡ.

Nếu như ở VN trẻ chỉ sau 2-3 tháng đã biết đọc, biết viết, sáu tháng có thể đọc thông viết thạo thì ở đây có những học sinh đến trường ròng rã… bảy năm. Vì trường chỉ mở cửa vào chủ nhật nên một năm (trừ những ngày lễ) học sinh chỉ học khoảng 30-35 buổi. 100% cô giáo đều có nghề chính ở nơi khác, dạy học chỉ là công việc tình nguyện với tinh thần mưa dầm thấm lâu.

Tuy nhiên, theo cô Thanh Tâm, “dù chỉ 1 buổi/tuần nhưng thời gian và tâm huyết của các cô giáo Trường Sao Mai dành cho trường, cho học sinh nhiều hơn thế.

Việc vận động học sinh tới trường, giữ các em ở lại trường cũng khó khăn không khác gì vận động học sinh đi học ở vùng sâu, vùng xa.

Theo cô hiệu trưởng Trường Sao Mai, ban đầu khi mới mở trường có 120 học sinh, nhưng rồi cứ rơi rụng dần. Có học sinh đến chỉ để “xem cô dạy thế nào”, có em thấy khó quá nản chí muốn bỏ.

“Nhiều trường hợp cả bố mẹ các cháu và chúng tôi đều phải cùng ngồi nghĩ cách để đưa được các cháu tới trường. Vì các ngày thường, các cháu đã quen học ở trường Đức với điều kiện đầy đủ, phương tiện hiện đại. Với nhiều cháu, văn hóa Việt Nam vẫn quá xa lạ, trong khi cha mẹ bận làm ăn không có thời gian quan tâm. Việc học một thứ tiếng xa lạ với các cháu là điều khó duy trì vô cùng. Bởi thế, chúng tôi vừa dạy vừa dỗ, phải khiến trò yêu cô giáo, tiếp cận dần với văn hóa Việt qua các trò chơi, hoạt động tập thể thì các cháu mới tự nguyện học tiếng Việt”.

Thầy cô ở Trường Sao Mai không chỉ lên lớp với giáo án học tiếng Việt mà phải thực hiện những giờ học linh hoạt trong điều kiện thiếu thốn. Một lớp học thường có tới ba trình độ. Cô giáo phải làm sao dạy cho ba đối tượng học sinh mà không làm các em thấy nhàm chán.

Ông Quang Chí cho biết đã được xem những cuốn sách dày ghi lại câu thơ, đoạn văn, ở dưới có hình vẽ minh họa. Đó là bài tập của học sinh theo hướng dẫn của cô Thanh Tâm. Mỗi thầy cô giáo ở đây đều phải có sáng tạo riêng để đạt được hiệu quả giờ dạy.

Thêm được một học sinh là niềm vui của tất cả các cô giáo. Thiếu một học sinh là nỗi buồn, là trăn trở làm các cô mất ngủ. Giờ Trường Sao Mai chỉ còn hai lớp với 15-20 học sinh/lớp nhưng cô Thanh Tâm chia sẻ: “Dù chỉ còn ít học sinh hơn thế này chúng tôi vẫn dạy. Bởi thêm một em biết tiếng mẹ đẻ, biết hướng về cội nguồn cũng là điều có ý nghĩa lớn lao đối với chúng tôi”. Cô hiệu trưởng Hoàng Liên cho biết: “Có những học sinh cách trường cả trăm cây số nhưng cũng được cha mẹ đưa đến học. Điều đó đã truyền lửa cho chúng tôi vượt qua những tháng ngày vất vả”.

Trường Sao Mai hiện chỉ có ba cô giáo được hưởng lương từ nguồn do phụ huynh đóng góp với mức 10-12 euro/tháng/người, tương đương mỗi buổi học 2-2,5 euro/người, số tiền đó không đủ cho các cô giáo photo tài liệu. “Thường tôi sưu tầm tranh, ảnh, sách trong nước gửi sang, có khi đi mượn để photo lại. Nhưng để học sinh thấy hấp dẫn từ những hình ảnh của quê nhà, tôi phải photo màu. Chi phí photo màu rất đắt nên lương có khi chỉ đủ cho tiền photo. Mỗi chúng tôi đều có một nghề để kiếm sống. Còn việc dạy học, cái được duy nhất với chúng tôi là niềm vui được làm một điều có ích cho quê nhà, cho cộng đồng người Việt” – cô Thanh Tâm chia sẻ.

Còn cô giáo Thanh Hà, giáo viên dạy múa của Trường Sao Mai, có một cửa hàng làm móng tay ở Berlin. Đó là công việc chính để kiếm sống. Nhưng cô Hà tranh thủ mọi thời gian có thể để tự may trang phục cho học sinh phục vụ các buổi sinh hoạt, biểu diễn nghệ thuật. Ngày đi làm, tối về tự mày mò tìm hiểu những điệu múa truyền thống Việt Nam để tự cải biên dạy cho học sinh.

“Cô Hà đã dành hàng tháng để may trang phục cho bọn trẻ. Còn tôi có bao nhiêu áo dài đều mang cả tới trường cho các em nữ sinh. Các em không thiếu thốn vật chất, nhưng thiếu những gì thuộc về VN. Áo dài truyền thống là thứ xa lạ với nhiều em. Rồi cả những món ăn, cuốn sách, hình ảnh VN cũng hiếm hoi. Ở Trường Sao Mai, các cô đều làm món ăn mang tới trường cùng học trò ăn trưa. Chúng tôi đã nỗ lực để ở đây các em thấy như một gia đình” – cô Thanh Tâm nói.

___________

Kỳ tới: Làm sao nối lại nhịp cầu…

VĨNH HÀ – HƯƠNG GIANG
***

Gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người – Kỳ 3: Cho và nhận

18/11/2013 10:37 GMT+7

TT“Không hề có thù lao dạy học, nhưng ở đây tôi tìm được đồng cảm từ sự chân thành của học sinh. Mới biết nhau thôi, vậy mà những thầy cô giáo không chuyên chúng tôi dường như đã hiểu nhau lâu rồi, vì chúng tôi có cùng tâm huyết” – cô Thanh Nguyên, một giáo viên ở Đức, chia sẻ cảm nhận của mình khi nhận công việc dạy tiếng Việt cho trẻ em ở Berlin.

Các cô giáo dạy tiếng Việt ở nước ngoài trong lần hội ngộ tại Hà Nội tháng 10-2013 - Ảnh: Nguyễn KhánhPhóng to
Các cô giáo dạy tiếng Việt ở nước ngoài trong lần hội ngộ tại Hà Nội tháng 10-2013 – Ảnh: Nguyễn Khánh

Cô giáo của em ngoan lắm!

Chia sẻ về tình cảm của học trò với mình, cô Nguyễn Thị Loan (Czech) xúc động nói: “Khi học sinh mới vào lớp, hầu hết các em không nói được tiếng Việt hoặc chỉ bập bẹ vài tiếng. Các em bất hợp tác với cô giáo. Thế nhưng thời gian trôi qua, các em bắt đầu yêu cô giáo, thích đi học. Cảm nhận đó là món quà vô giá đối với tôi. Có lần một em đã mạnh dạn bảo tôi “đẹp cô” (cô đẹp), rồi chỉ chiếc áo tôi đang mặc bảo: “Đẹp cái áo này”… Mặc dù các em vẫn nói theo tư duy ngôn ngữ của Czech, ngược với thứ tự tiếng Việt nhưng tôi biết bọn trẻ đã có tình cảm, đã chấp nhận tôi, tôi sẽ có thể thành công. Có lần tôi bật cười vì một học sinh, chính là em đã bất hợp tác với tôi trong buổi đầu đi học, nói với tôi rằng: Cô giáo của em ngoan lắm!”.

Cô Trịnh Thị Thảo, giáo viên tiếng Việt Trường THPT Nguyễn Du tại Vientiane, Lào kể: “Mỗi sự tiến bộ của học sinh là niềm vui của chúng tôi. Nhiều em học sinh Lào rất thông minh và học tiếng Việt nhanh. Có những lúc các em làm cô giáo bất ngờ. Có lần học tới vần “uyên” là một vần rất khó, tôi yêu cầu các em học sinh tìm từ có vần này, có em tìm nhanh được khá nhiều từ, trong đó có những từ cô cũng chưa nghĩ tới. Chính các em lại là những người làm tôi thấy ngỡ ngàng, có hứng thú hơn trong việc dạy học. Ham học và tính tình hồn hậu, tình cảm của học sinh là thứ níu giữ chúng tôi gắn bó với trường để tiếp tục cuộc sống đi về giữa hai nước, duy trì nghề dạy học”.

Nhiều thầy cô giáo thừa nhận rằng chính họ cũng tìm được tình yêu với nghề, sự gắn bó với quê hương từ những lớp học tiếng Việt. Những câu chuyện, hình ảnh, thông điệp từ Việt Nam được các cô sưu tầm không chỉ mang tới cho học sinh những hiểu biết mới mẻ, mà cũng khiến các thầy cô rút bớt khoảng cách với quê hương, được sống trong bầu không khí thân thương như ở nhà.

Cô giáo Thanh Nguyên, giáo viên Trường tiếng Việt Sao Mai (Berlin, Đức), kể: “Tôi ngạc nhiên và xúc động khi nghe các cháu bé mang hai dòng máu Việt – Đức kể say sưa về sự tích cây nêu, ngày ông công ông táo theo tục lệ ở Việt Nam. Có lần tôi chứng kiến cháu Jasmin, khoảng 7-8 tuổi, tự tay đốt nén hương cắm lên bàn thờ ngày tết. Hình ảnh đó khiến tôi rưng rưng. Tôi được nhận từ “đại gia đình” này gồm các thầy cô, phụ huynh và các em tình cảm nồng hậu, điều đó như ngọn lửa làm ấm lên trong tiết trời giá lạnh nước Đức.

YqtT09np.jpg
Học sinh tập bài hát tiếng Việt để chuẩn bị cho lễ khai giảng ở Praha (Cộng hòa Czech) – Ảnh: nhà báo Diệu Linh cung cấp

Những dòng thư làm ấm lòng

Đó là thư viết bằng tiếng Việt của em Nguyễn Ngọc Thu Thảo, một học sinh Trường Sao Mai, Berlin gửi cho cô giáo của mình với những lời chân thành: “Kỷ niệm với cô giáo thì rất nhiều, nhưng em nhớ nhất vẫn là kỷ niệm với cô giáo dạy tiếng Việt. Đó là những giờ giải lao cô hay mang cho chúng em hoa quả, bánh kẹo. Mỗi lần nhìn cô gọt hoa quả, em thấy cô giống như mẹ em ở nhà vậy. Cô còn dạy em biết rất nhiều trò chơi và những bài hát Việt Nam. Nhờ cô mà em nói được nhiều tiếng Việt. Những kỷ niệm đó em sẽ nhớ mãi không bao giờ quên. Em yêu cô giáo tiếng Việt của em”.

Theo cô Nguyễn Thị Thanh Tâm (Trường Sao Mai), tuy chữ viết còn xấu, có chỗ còn sai, nhưng có lẽ đó là một trong những bức thư đầu tiên các em viết bằng tiếng Việt và các em đã dành nó cho thầy cô. Còn đây là tâm sự của một phụ huynh, chị Tống Bích Thanh, Việt kiều tại Đức: “Lòng người mẹ luôn ngập tràn niềm vui khó tả, mỗi khi con đi học tiếng Việt về rối rít tới bên mẹ kể: “Mẹ ơi, hôm nay con được bốn điểm 10”, “Mẹ ơi, hôm nay cô đọc bài Nhật ký của mẹ, con thấy cô rơm rớm nước mắt, hình như cô đang nhớ đến mẹ của cô. Con thấy bài thơ đó hay lắm mẹ ạ, con cũng rất xúc động”. Tuy thời gian học ít ỏi (một tuần hai tiết) nhưng sau mỗi lúc đi học về được nghe con kể, tâm sự, tôi thấy ấm áp như đang sống ở quê nhà. Thế là con tôi không bị mất gốc Việt. Con mình có văn hóa Việt. Cháu không chỉ biết đọc thơ, viết văn mà còn hiểu biết rất rộng về những phong tục tập quán truyền thống của dân tộc, biết hát múa những làn điệu quê hương. Đặc biệt hơn, nơi đây đã hình thành trong con tôi nhân cách sống tốt, biết yêu thương và biết nói lời yêu thương với bố mẹ, họ hàng, bạn bè, người thân, biết yêu quê hương Việt Nam và biết làm những việc thiện, đối xử thân thiện với mọi người, tôi thật tự hào về cháu. Tôi hiểu những thành quả đó là công lao to lớn của các cô giáo trong trường. Tình yêu thương của các cô thật vô bờ bến. Các cô đã thương yêu chăm sóc học sinh như chính con mình. Mặc cho nắng mưa, trời đông tuyết giá, căn phòng nhiều khi lò sưởi chưa kịp nóng, lại đi bộ một đoạn dài mới vào tới trường, các cô đã hi sinh những chủ nhật hiếm hoi bên chồng con để dành cho học sinh”.

Nhiều học sinh đã không còn học ở lớp tiếng Việt nữa, các em vào đại học hoặc chuyển sang sống nơi khác nhưng vẫn viết thư cho cô giáo của mình, những lá thư bằng tiếng Việt. Cô Nguyễn Thị Loan ở CH Czech kể: “Có em nhờ tôi tư vấn về những vấn đề khúc mắc đang gặp phải. Cả các phụ huynh học sinh cũng thế, họ gọi cho tôi ngoài giờ, vào các buổi tối để chia sẻ nỗi lo lắng về con, cách dạy con nên thế nào để con hòa nhập với thế giới hiện tại nhưng giữ được những cốt cách mà bố mẹ mong muốn. Tôi hiểu qua những tâm sự đó là sự tin tưởng đặt vào nơi tôi. Đó là trách nhiệm tôi tình nguyện gánh lấy nhưng cũng là niềm vui của một cô giáo ít nhiều có những thành công ở vai trò người thầy tiếng Việt”.

Lào là một trong những nước có phong trào học tiếng Việt tốt nhất. Tổng hội người VN ở Lào gồm 11 tỉnh hội, thành hội và ở mỗi nơi lại có một trường của Việt kiều, được tổ chức quy củ, nề nếp nên giáo viên có điều kiện tổ chức các lớp tiếng Việt khá bài bản. Tại Vientiane, Trường THPT Nguyễn Du có ba cấp học, với trên 2.000 học sinh, quy mô tương đương với một trường công lập lớn ở Việt Nam, trong đó 65% là Việt kiều.

Tại Ba Lan, cộng đồng người Việt hiện có khoảng 25.000-30.000 người, chủ yếu tập trung ở thủ đô Warsaw. Nhu cầu học tiếng Việt ở đây cũng lớn. Trường tiếng Việt đầu tiên ở Ba Lan được mở năm 1999 chỉ với vài chục học sinh. Năm 2009, Trường tiếng Việt Lạc Long Quân ra đời, số học sinh hằng năm gần 200 với lứa tuổi từ 5-14. Trong năm học 2013-2014 trường mở thêm hai chi nhánh khác.

Tiếng Việt đã được công nhận như một sinh ngữ chính thức ở Úc (được đưa vào chương trình giảng dạy chính quy ở các cấp học). Tại Mỹ, bang California – nơi tập trung phần lớn dân cư gốc Việt – có hơn 50 cơ sở dạy tiếng Việt.

___________

VĨNH HÀ – NGỌC HÀ – HƯƠNG GIANG

***

“Sự tích chú Cuội” giữa lòng Warsaw

19/11/2013 09:40 GMT+7

TT“Niên khóa 2013-2014 khai giảng từ tháng 9 vừa rồi, Trường tiếng Việt Lạc Long Quân đạt sĩ số học sinh rất cao: 180 em theo học 15 lớp” – ông Lê Xuân Lâm, hiệu trưởng và là đồng sáng lập Trường Lạc Long Quân ở thủ đô Warsaw (Ba Lan), vui mừng chia sẻ.

 Cô giáo Ngọc Tâm dạy các học trò mang hai dòng máu Việt - Ba Lan tập đọc tiếng Việt tại Trường Lạc Long Quân - Ảnh: Trung nghĩaPhóng to
Cô giáo Ngọc Tâm dạy các học trò mang hai dòng máu Việt – Ba Lan tập đọc tiếng Việt tại Trường Lạc Long Quân – Ảnh: Trung nghĩa

Cho con học trường Việt trước trường “Tây”

“Hôm nay trời thế nào?”, cô giáo Ngọc Tâm dịu dàng hỏi. “Thưa cô trời đẹp”, học sinh bên dưới đáp đồng thanh. “Các con bắt đầu làm kiểm tra học kỳ nhé. Câu A: các con hãy đọc sự tích chú Cuội cung trăng cho cô nghe…”.

Vào mỗi 16g-19g thứ bảy hằng tuần, các lớp học Trường tiểu học 246 Gabrieli Mistral (số 17 đường Majewskiego, Warsaw – nơi Trường Lạc Long Quân thuê lại để giảng dạy) lại rộn rã tiếng cười, tiếng bi bô tập đọc, tập hát của các con em gia đình người gốc Việt.

Chị Nguyễn Hải Lan, phụ huynh bé Nguyễn Lan Vy, cho biết cách đây ba năm chị cho con theo học Trường Lạc Long Quân trước cả khi bé nhập học bậc tiểu học trường Ba Lan. “Tôi muốn con mình có vốn tiếng Việt đủ để hiểu được tâm tư tình cảm trong quan hệ gia đình, không ngần ngại dùng tiếng Việt để nói chuyện với ông bà cha mẹ và rộng hơn là những người thuộc cộng đồng Việt Nam ở Ba Lan. Phụ huynh gửi con đến trường còn nhận thấy con em mình có nhiều cơ hội tiếp xúc với bạn bè cùng nguồn cội để trẻ không thấy lẻ loi, quá thiểu số ở xứ người”, chị Lan nói.

Trường Lạc Long Quân chia độ tuổi học sinh (5-14 tuổi) vào các lớp A0 (tương đương mẫu giáo), A-B-C-D-E với giáo trình giảng dạy chủ yếu từ bộ sách giáo khoa “Tiếng Việt vui” cùng với nội dung tự biên soạn của hội đồng nhà trường. Ở lớp A (dành cho học sinh 5 tuổi), sau những giờ phút các em tập viết chữ nắn nót trên trang vở dòng kẻ là các màn tập văn nghệ, đàn hát vui vẻ – lúc cô và trò có thể cùng kết tóc cho nhau như mẹ và con trong một nhà.

“Không chỉ con em gia đình Việt Nam mà các trẻ mang hai dòng máu Việt – Ba Lan cũng theo học. Trường tập trung dạy nghe và hiểu cho học sinh để các em nói chuyện trôi chảy với bố mẹ trong gia đình” – cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Tâm, người có thâm niên 20 năm theo nghề giảng dạy từ VN đến khi định cư tại Ba Lan, cho biết.

Còn cô giáo trẻ Lê Lan Anh mặc dù có nghề chính là làm ở công ty luật nhưng vẫn thích đi dạy cho các em nhỏ ở Trường Lạc Long Quân. Là giáo viên thuộc tốp trẻ tuổi nhất trong số 15 giáo viên của trường, Lan Anh cho biết các giáo viên ở đây đều thích sinh hoạt với trẻ em, “chăm sóc càng tận tình thì trẻ càng tiếp thu nhanh bài vở, càng mau nhớ chữ Việt, nói tiếng Việt. Phụ huynh đến đón muộn thì các cô giáo vẫn ở lại kiên nhẫn chờ đợi”, Lan Anh kể.

Và niềm tin của các phụ huynh đối với trường dạy tiếng Việt còn là không gian cân bằng giữa học và vui chơi, các sinh hoạt ngoại khóa “rất giúp ích cho các cháu” theo nhận xét của chị Hải Lan: “Cháu nhà tôi thấy rất vui, theo được bài vở trong trường, không hề tỏ ý chán hoặc muốn nghỉ học trong suốt hai năm từ 5-7 tuổi”.

Thậm chí có phụ huynh người Ba Lan như bà Kasia, mẹ cháu Phillip Trung 7 tuổi, sau một thời gian đưa cậu con trai mang hai dòng máu Việt – Ba Lan đến Trường Lạc Long Quân học thì chính bà cũng dành thời gian học tiếng Việt: “Để tôi có thể nói tiếng Việt với con và gia đình bên chồng”.

 Cô Nguyễn Thị Anh Vân, phó hiệu trưởng Trường Lạc Long Quân, dạy hát cho học sinh 10-12 tuổi - Ảnh: TR.N. Phóng to
Cô Nguyễn Thị Anh Vân, phó hiệu trưởng Trường Lạc Long Quân, dạy hát cho học sinh 10-12 tuổi – Ảnh: TR.N.

15 năm dạy & học tiếng Việt

Ra đời ngày 2-9-2007 với tên gọi ban đầu Văn Lang thuộc Trung tâm văn hóa Văn Lang, Trường tiếng Việt Lạc Long Quân ngày nay có sự sáp nhập giữa Trường Văn Lang ban đầu với một trường tiếng Việt đầu tiên ở Ba Lan từng hoạt động 10 năm (1999-2009).

“Năm 2013 Trường Lạc Long Quân có bước tiến mới là mở thêm một cơ sở mới ở Raszyn (ngoại ô Warsaw) dạy cho 10 trẻ gốc Việt, đồng thời mở thêm chi nhánh ở thành phố Wrocław và chuẩn bị thêm chi nhánh Krakow. Sang năm 2014 chúng tôi sẽ tổ chức kỷ niệm 15 năm giảng dạy tiếng Việt ở xứ sở “mùa tuyết tan, đường bạch dương sương trắng nắng tràn” này”, hiệu trưởng Lê Xuân Lâm cho biết.

Để Trường Lạc Long Quân trở thành một trong số những mô hình thành công nhất của việc dạy và học tiếng Việt cho con em kiều bào Việt Nam ở châu Âu, nguyên do quan trọng nhất chính là ý thức cộng đồng Việt kiều ở Ba Lan.

“Bản thân tôi sang Ba Lan đã hơn 20 năm rồi và cũng có hai đứa con sinh ra và lớn lên tại xứ người. Sẽ buồn lắm nếu con mình không nói được tiếng Việt, hoặc phải dạy bảo con bằng tiếng Ba Lan. Càng buồn hơn nếu cho các con về thăm quê hương Việt Nam mà không hiểu ông bà nội nói lời yêu thương gì” – hiệu trưởng Lê Xuân Lâm lấy chính chuyện nếp nhà ông để nói lên một nguyện vọng chung cho những người Việt xa quê ở Ba Lan: muốn các thế hệ sau của họ không quên ngôn ngữ quê hương.

Ông Lâm thừa nhận có những lúc khá khó khăn vì “Lạc Long Quân chỉ thu học phí ở mức tạm đủ để trang trải chi phí hoạt động cho trường (thuê cơ sở và giáo viên giảng dạy)”, nhưng những người “đứng mũi chịu sào” cho trường vẫn cố gắng duy trì với sự ủng hộ hết lòng của đông đảo phụ huynh người Việt, các hội đoàn Việt kiều Ba Lan và Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan.

“Trăn trở của chúng tôi hiện còn là việc nâng cao số lượng giáo viên lẫn chất lượng nghiệp vụ. Song song đó là việc soạn thêm những giáo trình dạy tiếng Việt cập nhật mới thật hiệu quả, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh học hành của học sinh ở đây” – tiến sĩ Đặng Ngọc Hân, hiệu phó Trường Lạc Long Quân, chia sẻ.

Một hoạt động rất mạnh và rất được phụ huynh lẫn học sinh trường yêu thích là việc tổ chức các sinh hoạt văn nghệ trong các ngày Tết Nguyên đán, Tết Trung thu, tổ chức trại hè thiếu nhi “Vui cùng tiếng Việt” kéo dài hai tuần. Tiến sĩ giáo dục Nguyễn Thụy Anh (chủ nhiệm CLB “Đọc sách cùng con” ở Hà Nội), người được mời soạn nội dung cho trại hè thiếu nhi của Trường Lạc Long Quân, đã tạo ra phương pháp dạy tiếng Việt trực quan sinh động qua những chủ đề hấp dẫn giúp học sinh sử dụng linh hoạt từ vựng tiếng Việt để bày tỏ cảm xúc, hiểu biết các trò chơi dân gian như bịt mắt bắt dê, đóng hoạt cảnh, tập làm món ăn từ nem kiểu Việt đến bánh mì sandwich…

“Muốn trẻ thích tiếng Việt và nhớ lâu thì phải dùng những khái niệm, hình ảnh dễ hiểu, thực tế và cách chuyển tải hấp dẫn, có sức cuốn hút cao. Thông qua trại hè “Vui cùng tiếng Việt” (mỗi kỳ có 70-80 em tham gia), các em có một sân chơi vui nhộn, gắn kết với bạn bè, chia sẻ cảm xúc và nhớ đến những nét văn hóa Việt. Đặc biệt là sau trại hè, các em dạn dĩ nói tiếng Việt hơn hẳn”, hiệu trưởng Lê Xuân Lâm tâm đắc nói về một cách làm hữu hiệu trong nỗ lực gìn giữ ngôn ngữ bản sắc dân tộc Việt trên xứ người.


Kinh nghiệm dạy tiếng Việt

– Bố mẹ trao đổi với con tất cả các đề tài phù hợp bằng tiếng Việt: nhận xét, hỏi thăm, khuyến khích con kể chuyện học ở trường, bài học tiếng Việt ra sao, chủ động kể về công việc của mình cho con nghe…

– Thường xuyên cầm sách tiếng Việt trên tay để con nhìn thấy và đồng thời gợi ý cho con chọn một cuốn sách yêu thích để cùng ngồi đọc bên nhau ít nhất một lần/tuần. Nghe con đọc truyện tiếng Việt trong 10-15 phút mỗi lần.

– Đọc lại đoạn văn trong sách để con tự chép vào một quyển vở. Sau đó để con tự đọc lại đoạn văn mình vừa chép và giúp con kiểm tra, sửa lỗi chính tả. Không quên những lời khen ngợi nếu con tiến bộ.

_______________

Kỳ tới: Nối lại nhịp cầu

(Theo phụ huynh Nguyễn Hải Lan, Warsaw, Ba Lan)
***

Nối lại nhịp cầu

20/11/2013 10:35 GMT+7

TTTiếng Việt không chỉ là ngôn ngữ mà còn là nhịp cầu quê hương. Người dạy tiếng Việt cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã mang trọng trách lớn lao của những người nối lại nhịp cầu để người xa quê tìm về cội nguồn.

Một giờ học tiếng Việt ở Trường GĐ-Skola (Cộng hòa Czech) - Ảnh: nhà báo Diệu Linh cung cấpPhóng to
Một giờ học tiếng Việt ở Trường GĐ-Skola (Cộng hòa Czech) – Ảnh: nhà báo Diệu Linh cung cấp

Quê em ở đâu?

Chia sẻ với chúng tôi về giờ dạy để lại nhiều suy nghĩ nhất, cô giáo Nguyễn Thị Loan – giáo viên dạy học tại Cộng hòa Czech – kể lại: “Buổi học ấy tôi chọn chủ đề tìm chính xác nơi mình sinh ra trên bản đồ Việt Nam. Tôi treo lên tấm bản đồ Việt Nam gửi từ trong nước sang, rồi lần lượt gọi từng học sinh lên để các em chỉ địa danh quê mình. Một vài em tỏ ra thích thú khi lâu nay chỉ biết tên quê mà không hình dung nổi nằm đâu trên dải đất hình chữ S. Nhưng có em khi cô gọi lên bảng đã lắc đầu “không biết tên quê”. Tôi có cảm giác như tim mình nghẹn lại vì thương các em quá. Dù sống trên một đất nước đầy đủ hơn về nhiều mặt, nhưng sẽ thật bất hạnh nếu không biết đến cội nguồn, không hiểu gì về quê hương, nơi có thể giờ đây vẫn còn ông bà, người thân của mình”.

“Học sinh của tôi hầu hết khi tới lớp tiếng Việt đều không biết gì nhiều về quê hương ngoài cái tên “Việt Nam”. Những điều quá quen thuộc với trẻ em Việt Nam như tết, những trò chơi truyền thống, những món ăn dân dã Việt Nam… đối với các em học sinh của tôi đều xa lạ. Có thích thú, mong muốn hiểu về quê hương, về văn hóa Việt thì mới thích học tiếng Việt. Đồng thời, học tiếng Việt thì mới hiểu, mới yêu quê hương, yêu văn hóa truyền thống của dân tộc. Nhưng ở nơi xa xôi khi những gì diễn ra xung quanh thuộc về xã hội hiện đại khác, khi cha mẹ các học sinh còn bận lo toan với cuộc sống thường nhật thì những người như chúng tôi phải tình nguyện là nhịp cầu” – cô Loan chia sẻ.

Trong câu chuyện “vận động học sinh học tiếng Việt ở Đức”, cô Nguyễn Thị Thanh Tâm – giáo viên Trường tiếng Việt Sao Mai – nhắc đi nhắc lại điều mà cô cảm nhận được: “Tôi rất thương những đứa trẻ lớn lên trong những gia đình người Việt hoặc có một nửa Việt đang sống ở Đức. Với sự nỗ lực để hòa nhập xã hội Đức của nhiều người, những đứa trẻ thế hệ thứ hai không được nuôi dưỡng về văn hóa truyền thống. Nhiều đứa trẻ Việt Nam sống ở nước ngoài rất cô đơn trong gia đình mình vì không hiểu được ngôn ngữ của bố mẹ. Lớn lên thì hoang mang giữa hai nền văn hóa của hai đất nước. Nếu nhìn từ khía cạnh này thì dạy tiếng Việt còn là cách để tạo dựng một nền tảng cần thiết cho những đứa trẻ Việt có thể tự tin lớn lên ở một đất nước khác”.

Khi nói về điều này, ông Ngô Tiến Điệp – một nhà báo tự do tại Nga – cũng mô tả về một thực tế: phần lớn trẻ Việt được gửi cho các bảo mẫu người Nga nuôi từ khi bắt đầu chập chững biết đi. Khi đến tuổi đi học, trẻ Việt cả ngày ở trường, học nét ăn nét ở, nét sinh hoạt của người Nga. Về nhà, cha mẹ mải mưu sinh nên không dành nhiều thời gian gần gũi để chăm sóc, chỉ bảo thường xuyên cho con cái mình. Hậu quả là mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái, ông bà – cháu chắt trong gia đình ngày càng trở nên xa cách và các thế hệ người Việt thứ hai, thứ ba xa dần với ẩm thực Việt, các nét văn hóa của Việt Nam. Ông Điệp lo lắng: “Những điều nhỏ bé ấy vô tình lấy đi của bọn trẻ chỗ dựa tinh thần vững chắc, trẻ cũng không có cảm giác thân thương, gắn bó với chính quê hương mình, để một ngày nào đó, khi đã trưởng thành, trẻ sẽ thấy cô đơn, trống rỗng và chênh vênh giữa nơi đất khách quê người”.

Còn cô Loan có niềm tự hào đặc biệt khi bản thân ba đứa con của cô, kể cả đứa út sinh ra trên đất Czech, đều nói tiếng mẹ đẻ rất chuẩn. “Có xa xứ mới hiểu hết cảm giác thèm khát được nói tiếng Việt và người nói chuyện với mình hiểu được những gì mình muốn nói” – cô Loan trầm ngâm. Ở Czech, một đứa trẻ 14-15 tuổi đã có quyền đóng cửa phòng không cho bố mẹ vào và pháp luật bảo hộ hành động đó, không ai được xâm phạm. Nhiều ông bố, bà mẹ đã rơi vào tình trạng bất lực nhìn con xa dần vòng tay mình. Có những người bạn của gia đình cô Loan, một người chuyên phiên dịch tiếng Việt trong nhà máy, nhưng các con lại không biết một chút tiếng Việt nào. Bi kịch hơn đối với những gia đình lao động, bố mẹ hạn chế về ngôn ngữ bản xứ, còn con thì không biết tiếng Việt, con càng lớn khoảng cách càng xa hơn.

W2jcX2if.jpg
Các em nữ sinh mặc áo dài, hát ca khúc Việt trong ngày khai giảng tại Prague – Ảnh: nhà báo Diệu Linh cung cấp

Từng bước nhỏ

“Làm thế nào để trẻ em Việt Nam ở nước ngoài thích học tiếng Việt?”. Trả lời câu hỏi này phải bằng những việc làm cụ thể, nhẫn nại của các thầy cô giáo dạy tiếng Việt ở xứ người.

Trò chuyện với chúng tôi trong chuyến về thăm nhà giữa tháng 11 này, cô giáo Thanh Hà – một giáo viên dạy múa của Trường Sao Mai (Đức) – tiết lộ: “Mình chỉ có hai tuần ở Việt Nam. Ngoài việc cá nhân, mình sẽ dành phần lớn thời gian còn lại ở quê nhà để tìm mua quần áo, phụ kiện mang sang Đức, thiết kế trang phục biểu diễn cho các em”.

Trong hành trang mang lên máy bay trở lại Đức, vali của cô Hà sẽ chật kín quần áo biểu diễn của học sinh. Nhưng số lượng trang phục quá lớn, khối lượng quá nặng nên cô Hà đang tìm kiếm sự trợ giúp từ đại sứ quán. Hoàn toàn không phải là người dư dả nhiều về tài chính, hằng ngày nơi xứ người, cô giáo của Trường Sao Mai vẫn cặm cụi đi làm kiếm sống, nhưng cô vẫn chắt chiu bỏ cả chục triệu đồng để mua đồ cho học sinh. Hóa ra làm thầy tiếng Việt nơi xứ người không phải chỉ dạy chữ là xong. Sự thẩm thấu văn hóa qua những điệu múa, câu ca thuần Việt là cách để các cô giáo Trường Sao Mai kéo học sinh đến gần với niềm yêu thích tiếng nước mình.

“11 năm dạy học ở Việt Nam rồi nhưng những buổi đầu tới lớp dạy tiếng Việt ở Czech, tôi đã chỉ biết đứng run. Lớp có mười mấy học sinh, có em mắt xanh, tóc vàng, có em trông thuần Việt nhưng hầu hết đều bất hợp tác với cô giáo. Có một học sinh đã òa khóc khi thấy cô giáo và cứ khóc suốt cả buổi. Ở một góc khác, một học sinh ngồi nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng, thiếu thiện cảm. Có em mang chó tới lớp. Có em cả buổi chỉ mải chơi với… chuột. Không thích học tiếng Việt, đến vì tò mò, bị bố mẹ bắt học nên cảm thấy ấm ức, căng thẳng… Vào thời điểm đó thật sự tôi thấy rất hoang mang. Tôi không biết mình sẽ phải làm gì, liệu tôi có thể làm được không?” – cô Loan bộc bạch.

Trả lời câu hỏi của chính mình, cô Loan đã cho chúng tôi xem những bức ảnh biết nói. Đó là hình ảnh cô trò chụp chung, cùng múa hát, trò chuyện, tham gia các hoạt động vào dịp lễ, tết. Cô Loan vui vẻ chỉ vào ảnh: “Cô bé này hồi trước mang chuột tới lớp đây… Còn đây là em học sinh ngồi “lườm” tôi suốt giờ học đầu tiên khiến tôi run rẩy”. “Có em học sinh từng “nói không” với kỳ nghỉ hè về Việt Nam mà bố mẹ sắp đặt, chỉ thích đi Ý, Hà Lan và bố mẹ em đó đã phải nhờ tôi thuyết phục. Sau khi nói chuyện nhiều lần với cô giáo, em đã đồng ý về Việt Nam. Hành trình trở về chính là hành trình lớn lên. Khi quay trở lại Czech, em đã hoàn toàn khác khi líu lo kể chuyện “quê mình”. Em này sau đó đã đến lớp bằng sự tự nguyện và yêu thích thật sự thứ tiếng của quê hương mình.

__________

Kỳ tới: Một đề án dở dang

V.HÀ – NG.HÀ – H.GIANG
***

Một đề án dở dang

21/11/2013 08:55 GMT+7

TTNăm 2004, đề án hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai. Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm làm trưởng ban chỉ đạo, phối hợp giữa Bộ Ngoại giao, Bộ GD-ĐT, Đài truyền hình VN, Đài Tiếng nói Việt Nam, trong đó Bộ GD-ĐT làm nòng cốt.

Bộ sách tiếng Việt dành cho người VN ở nước ngoàiPhóng to
Bộ sách tiếng Việt dành cho người VN ở nước ngoài

Việc làm đáng kể nhất của đề án này là tổ chức biên soạn chương trình dạy tiếng Việt cho người Việt ở nước ngoài cùng hai bộ sách Tiếng Việt vui cho trẻ em và Quê Việt cho người lớn. Mỗi bộ có 18 cuốn, ứng với ba trình độ khác nhau, gồm sách học sinh, sách bài tập và sách giáo viên kèm theo đĩa CD. Thế rồi…

Ngừng ở giai đoạn thử nghiệm

GS Nguyễn Minh Thuyết, chủ biên bộ Tiếng Việt vui, cho biết: Trước khi biên soạn chương trình và sách, đề án đã cử các đoàn đi khảo sát tại cộng đồng người Việt ở một số nước và sau khi in sách, chúng tôi đã mang sách đi tập huấn, dạy thử nghiệm tại các nước Ba Lan, Đức, Hoa Kỳ, Lào, Pháp, Czech và Thái Lan. Nhìn chung, kiều bào ta ở các nước đều khao khát cho con em học tiếng Việt. Trước đây, nhiều lớp tiếng Việt tự phát ở các nước chỉ sử dụng sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 của Bộ GD-ĐT (sách dạy cho học sinh trong nước) để dạy, hoặc photo tài liệu, tự biên soạn tài liệu dạy học. Việc dùng sách trong nước dạy cho trẻ chưa biết giao tiếp tiếng Việt là một bất cập lớn.

Vì thế, khi Tiếng Việt vui và Quê Việt tới tay một số thầy cô giáo, họ rất mừng. “Sách thử nghiệm chỉ đủ tiền in 800 cuốn. Ngay ở thời điểm đề án đang triển khai thử nghiệm, chúng tôi đã phải dùng sách photo đen trắng mang đi các nước. Tiếng Việt vui và Quê Việt với những ví dụ, bài tập sinh động, gần với cuộc sống của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Hai bộ sách này đã giải quyết được một khó khăn lớn trong việc dạy học tiếng Việt ở đó. Vào thời điểm dự án triển khai, Đài truyền hình VN, Đài Tiếng nói VN cũng dựa vào hai bộ sách để xây dựng chương trình dạy tiếng Việt trên các kênh sóng của họ” – GS Thuyết kể lại.

Năm 2010, đề án trên kết thúc. Theo GS Nguyễn Minh Thuyết, các nhóm tác giả sau khi mang sách đi tập huấn xứ người và lắng nghe các thầy, cô giáo góp ý, đã dành nhiều tháng trời để chỉnh sửa hai bộ sách thử nghiệm. Nhưng nhiều năm trôi qua, bản thảo bộ sách chỉnh sửa vẫn để đó vì không có tiền in, không cơ quan nào đứng ra nhận trách nhiệm duy trì việc phát hành sách, hỗ trợ cho các cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Sách thử nghiệm xong thì ngừng chỉ vì lý do đề án hết thời hạn thực hiện.

Theo các tác giả viết hai bộ sách trên, trong đợt tập huấn gần đây nhất tại Hà Nội vào cuối tháng 10-2013 cho những người tham gia dạy tiếng Việt ở các nước, các thầy cô ai cũng mong mỏi có hai bộ sách in màu để mang về làm tài liệu dạy học. “Tôi đã đề nghị anh Sơn (ông Nguyễn Thanh Sơn, thứ trưởng Bộ Ngoại giao, chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài) cho in tiếp sách được chỉnh sửa, ít nhất là để có sách phát cho các thầy cô dự tập huấn. Nhưng anh Sơn nói không còn tiền. Tôi nghĩ chỉ cần Chính phủ quyết thì chắc là có tiền in thôi. Tiền in vài trăm cuốn sách có đáng bao nhiêu. Nhưng ý nghĩa của công việc thì lớn lắm, không tính bằng tiền được” – GS Thuyết cho biết.

Đợt tập huấn tại Hà Nội từ ngày 24-9 đến 26-10 vừa qua, có 14 thầy, cô giáo từ Czech, Ba Lan, Đức, Nga, Đài Loan, Lào, Campuchia, Thái Lan về dự. Nhưng các thầy cô đều phải tự lo kinh phí đi về. “Chỉ có lòng nhiệt tình cao, tình yêu luôn hướng về quê hương mới khiến họ tự nguyện đi về để mong mỏi làm tốt hơn nữa công việc gìn giữ tiếng Việt của mình” – thầy Nguyễn Việt Tiến, người tham gia tập huấn cho các thầy cô giáo vừa qua, nhận xét.

Giờ học tiếng Việt tại Trường Hữu Nghị (Thái Lan) - quà tặng của TP Hà Nội cho tỉnh Nakhon Phanom - Ảnh: GS Nguyễn Minh Thuyết cung cấpPhóng to
Giờ học tiếng Việt tại Trường Hữu Nghị (Thái Lan) – quà tặng của TP Hà Nội cho tỉnh Nakhon Phanom – Ảnh: GS Nguyễn Minh Thuyết cung cấp

Góp một bàn tay

Trong khi ở trong nước việc hỗ trợ dạy học tiếng Việt ở nước ngoài chưa được quan tâm thích đáng thì tại các nước, một số tổ chức, đặc biệt là cơ quan truyền thông, vẫn tiếp tục thể hiện sự ủng hộ đối với việc duy trì, phát triển tiếng Việt và văn hóa Việt.

Nhà báo Nguyễn Diệu Linh – đại diện tờ Tuần Tin Mới (một tờ báo xuất bản cho người Việt tại Czech) – nhân dịp về nước dự hội thảo về vấn đề dạy tiếng Việt cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã chia sẻ: “Chứng kiến thế hệ F2 của cộng đồng người Việt ở Czech không nói được tiếng Việt, tôi càng thấy việc dạy tiếng Việt cho kiều bào ta là cần thiết. Khi còn sinh hoạt trong phong trào đoàn thanh niên ở Czech, tôi đã vận động thanh thiếu niên đi học, giúp đỡ việc tổ chức lớp học tiếng Việt. Khi trở thành phóng viên của tờ Tuần Tin Tức (nay là Tuần Tin Mới), tôi cũng tâm đắc với trang dạy tiếng Việt trên báo. Nội dung này đã được duy trì trong nhiều năm và góp phần hỗ trợ nhiều người Việt học tiếng mẹ đẻ”. Theo Diệu Linh, hiện ở Czech có 2-3 tờ báo cho cộng đồng người Việt, dù số lượng phát hành sụt giảm so với sự phát triển mạng điện tử nhưng những tờ báo này vẫn cố gắng duy trì vì đó là nơi duy trì, lưu giữ, cập nhật ngôn ngữ, hình ảnh về đất nước, nó luôn quý đối với những người con xa Tổ quốc.

Nhà báo Vũ Hoàng Lân của kênh truyền hình mạng Phố BolsaTV tâm sự: “ở Nam California (Mỹ) nơi tôi sinh sống, rất may báo chí đã và đang có những đóng góp quan trọng cho việc bảo tồn tiếng Việt tại đây. Bản thân việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong các phương tiện truyền thông, báo chí đã cung cấp một nguồn thông tin, tài liệu trong đời sống hằng ngày. Báo chí, truyền thông Việt ngữ rất quan tâm, đưa tin các sinh hoạt cộng đồng, trong đó có sinh hoạt của các tổ chức, trung tâm Việt ngữ, giúp các tổ chức, trung tâm này sinh hoạt hiệu quả hơn”.

Trong khi đó ở Pháp, nhu cầu học tiếng Việt rất lớn vì đối tượng không chỉ là người Việt xa quê mà còn có những người Pháp quan tâm đến Việt Nam. Cộng đồng vì thế từng có “tham vọng” xây dựng tủ sách tiếng Việt nhưng do điều kiện tài chính hạn hẹp, người gốc Việt sống rải rác khắp nước Pháp nên điều đó không thành hiện thực. Thay vào đó, rất nhiều người đã nỗ lực đưa sách, truyện xuất bản tại Việt Nam vào các thư viện lớn của Pháp. Bà Nguyễn Thanh Hằng, báo Đoàn Kết (Hội Người Việt Nam tại Pháp), cho biết như vậy.

Theo bà Hằng, để có thể gìn giữ tiếng Việt cho các thế hệ trẻ kiều bào, yếu tố quan trọng hàng đầu là sự chăm chút, quan tâm của cha mẹ các em, và quan trọng không kém là mối dây liên hệ giữa trong nước và nước ngoài. “Người ta thấy Việt Nam đẹp, phát triển thì sẽ tự hào. Cho nên có nhiều em từ bé đến lớn sinh ra và học hành ở Pháp, khi trưởng thành về Việt Nam một lần là quyết định bỏ hết để về nước…” – bà Hằng nói.

Góp một bàn tay, kết nối giữa trong nước với cộng đồng nước ngoài là điều nhiều kiều bào, nhiều trí thức VN ở nước ngoài mong mỏi. Nhiều người đưa ra mối quan ngại về việc phai nhạt dần nhu cầu học tiếng Việt theo kiểu tự phát lâu nay. Nhưng khó khăn sẽ vẫn là khó khăn khi “dạy tiếng Việt cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài” vẫn phải xếp sau nhiều việc khác.

Cách đây mấy hôm, PGS.TS Nina Grigoryeva ở khoa Đông phương ĐH Quốc gia St. Petersburg nhân sang công tác tại Hà Nội, đã tới gặp tôi đề nghị cho trường của cô in bộ sách Tiếng Việt vui để dạy cho sinh viên khoa Đông phương. Cá nhân tôi đồng ý nhưng tôi khuyên cô ấy gửi thư cho Bộ GD-ĐT vì bộ giữ bản quyền.

Việc này cho thấy những nhà giáo dục quan tâm tới tiếng Việt ở nước ngoài cũng quan tâm, đánh giá tốt về bộ sách. Chỉ tiếc là ở VN bộ sách lại bị để lãng phí. Việc hỗ trợ để tiếp sức cho những người có tâm huyết duy trì phát triển tiếng Việt ở cộng đồng người Việt tại nước ngoài là công việc rất lớn và có ý nghĩa, nhưng đáng tiếc không còn cơ quan đầu mối, không có kinh phí để triển khai. Trong khi đó, người ta vẫn có tiền làm nhiều việc khác, kể cả những việc tồi tệ như bỏ hàng chục triệu đôla để mua những cái ụ nổi hay con tàu nát bét về làm đồng nát…

GS NGUYỄN MINH THUYẾT

————————————

V.HÀ – Ng.HÀ – H.GIANG
***

Để “tiếng nước tôi” vang mãi nơi xa…

22/11/2013 09:07 GMT+7

TTLà người hoạt động tư vấn giáo dục và có quá trình gắn bó với việc giảng dạy tiếng Việt ở nước ngoài, tiến sĩ giáo dục Nguyễn Thụy Anh, chủ nhiệm “Câu lạc bộ đọc sách cùng con”, chia sẻ với Tuổi Trẻ một số vấn đề xung quanh việc gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người.

 Tiến sĩ giáo dục Nguyễn Thụy Anh (hàng đứng, thứ hai từ trái) sinh hoạt với trẻ học tiếng Việt tại trại hè “Vui cùng tiếng Việt” ở Ba Lan - Ảnh: Tư liệuPhóng to
Tiến sĩ giáo dục Nguyễn Thụy Anh (hàng đứng, thứ hai từ trái) sinh hoạt với trẻ học tiếng Việt tại trại hè “Vui cùng tiếng Việt” ở Ba Lan – Ảnh: Tư liệu

* Thưa tiến sĩ (TS), là người từng sống lâu năm ở nước ngoài, TS cảm nhận nhu cầu cần có những trường lớp dạy tiếng Việt ra sao? Nó quan trọng và mang ý nghĩa như thế nào đối với kiều bào VN và các thế hệ con em gốc Việt sinh ra và lớn lên tại xứ người?

– Tiến sĩ Nguyễn Thụy Anh: Tôi nghĩ ở đây không phải chỉ là câu chuyện ngôn ngữ mà là vấn đề văn hóa và tâm lý cộng đồng. Những trường lớp tiếng Việt ở nước ngoài có nhiệm vụ cho thế hệ trẻ Việt Nam ở đó những cảm nhận tinh tế về nguồn cội, nhận thức về những giá trị lớn lao mà con người có thể nhận được từ gia đình, quê hương mà ngôn ngữ chỉ là một khía cạnh. Đây cũng là một kênh giao tiếp kéo gần những cá nhân trong cộng đồng, giúp bố mẹ duy trì được mối liên hệ tinh thần với con cái, những bạn trẻ tiếp nhận văn hóa bản xứ từ nhỏ.

Cho dù thế giới có “phẳng” và chúng ta tích cực xây dựng khái niệm “công dân thế giới” thế nào đi chăng nữa thì một con người vẫn sẽ sống vững vàng và hạnh phúc hơn khi hiểu biết về nguồn gốc, quê hương mình.

* Là người từng sống lâu năm ở Nga và gắn bó một số hoạt động của các trường dạy tiếng Việt ở châu Âu, TS nhận định gì về quá trình hình thành và phát triển của các trường dạy tiếng Việt này?

– Để duy trì được hoạt động dạy và học tiếng Việt trong môi trường các nước bản xứ là một việc không đơn giản. Các thầy cô giáo đều phải đối mặt với chuyện mưu sinh hằng ngày nhưng vẫn đều đặn đến trường giảng dạy cho các em.

Tôi thấy vui vì họ là những người lãng mạn, tâm huyết, yêu trẻ và yêu tiếng nước mình. Giữa bao điều khó như chuyện sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy… còn có cái khó của việc tạo động lực học cho những đứa trẻ sinh ra ở xứ người bởi “tiếng mẹ đẻ” của trẻ là tiếng bản xứ nên trẻ không thật sự có nhu cầu tự thân trong việc sử dụng tiếng Việt.

Bên cạnh đó cũng còn không ít ý kiến ngược chiều, không ủng hộ. Cái khó ở lòng người là cái khó lớn hơn cả. Vì vậy, những người gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người nếu không tâm huyết và không say mê và không có chút lãng mạn thì không kiên trì được như vậy.

Cô giáo Lan Anh và các học trò 5 tuổi Trường tiếng Việt Lạc Long Quân (Warsaw) kết tóc cho nhau sau giờ học tiếng Việt - Ảnh: Tr.N.Phóng to
Cô giáo Lan Anh và các học trò 5 tuổi Trường tiếng Việt Lạc Long Quân (Warsaw) kết tóc cho nhau sau giờ học tiếng Việt – Ảnh: Tr.N.

* Có những trường tiếng Việt ở xứ người đã tồn tại và phát triển thời gian dài (10-15 năm…) dù rất khó khăn, liệu chỉ nhờ vào sự say mê và lãng mạn của những thầy cô ở đó?

– Tôi lấy ví dụ về Trường tiếng Việt Lạc Long Quân ở Ba Lan (Tuổi Trẻ ngày 19-11) – chẳng những tồn tại một cơ sở mà nay còn mở rộng được thêm chi nhánh – thật sự rất đáng khâm phục. Tôi nghĩ đó là nhờ sự kiên trì và vững tin của những người đứng đầu.

Bên cạnh điều đó còn cần một cách nghĩ luôn đổi mới, đi từ sự nhiệt tình đến sự chuyên nghiệp, sao cho các hoạt động ngày càng có chất lượng hơn. Như tôi đã nói, để trẻ sinh ra ở nước ngoài thích học tiếng Việt là một việc không dễ chút nào. Trẻ phải thấy hay, thấy vui, thấy muốn học chứ không phải học vì người lớn muốn.

Thêm vào đó, kể cả những bạn nhỏ chưa bao giờ từng học tiếng Việt, chưa biết tiếng Việt thì cũng nên được lôi cuốn vào các hoạt động của trường bằng một hình thức nào đó. Trường không nên chỉ chăm chăm dạy tiếng mà còn nên là địa chỉ văn hóa của trẻ em cộng đồng.

Việc tổ chức trại hè tiếng Việt chính là một hình thức tạo động lực học tiếng Việt rất tốt dành cho thế hệ trẻ VN sinh ra ở nước ngoài mà tôi được may mắn tham gia. Chúng tôi cố gắng đưa vào các hoạt động của trại phương pháp tiếp cận hiện đại, nội dung phong phú, lôi cuốn không chỉ trẻ gốc Việt mà còn cả trẻ em bản xứ.

Nếu ai đó từng đến trại hè đều sẽ cảm nhận được sự cố gắng này. Và hẳn các bạn nhỏ của chúng ta là người rõ nhất vì các em đã lưu giữ được những niềm vui. Niềm vui có được từ ngôn ngữ tiếng Việt vốn không dễ học nhưng thú vị và thân thương.

Tôi nhớ ở trại hè “Vui cùng tiếng Việt” năm 2013 tại Warsaw (Ba Lan), các bạn nhỏ say sưa hát bài hát về tiếng Việt vui mà tôi “đặt hàng” riêng nhạc sĩ Nguyễn Lê Tâm viết cho trại hè: “Dấu sắc mà trèo lên cao… Dấu hỏi cong như tai mình… Ồ tiếng Việt vui vui!”.

Trại hè còn được nhiều nhân vật hoạt động xã hội trong cộng đồng đóng góp tâm sức. Tôi nghĩ đây là một hoạt động đáng tham khảo và nên được tổ chức ở các nước khác. Trên thực tế, sau hai mùa trại tổ chức ở Ba Lan, tôi nhận được rất nhiều thư hỏi kinh nghiệm và đề nghị chia sẻ phương pháp từ các kiều bào ở Đức, Nhật, Pháp, Romania…

Tôi cho rằng nếu kết nối được các nguồn lực từ thầy cô giáo, các phụ huynh nhiệt tình, những nhà hoạt động xã hội, các bạn sinh viên năng nổ, các doanh nghiệp… thì câu chuyện giữ gìn tiếng Việt ở xứ người sẽ là một câu chuyện thú vị dài lâu.

* Theo TS, để các thế hệ trẻ gốc Việt sinh ra và lớn lên tại xứ người luôn nghĩ về ngôn ngữ cội nguồn thân thương, việc gìn giữ tiếng Việt nơi xứ người hôm nay cần mô hình như thế nào?

– Tôi nghĩ mỗi mô hình trường học phải phù hợp với đặc điểm dân cư và nhu cầu của cộng đồng tại xứ người. Mô hình trại hè cũng vậy – cần được tổ chức có tính chuyên môn cao, chuyên nghiệp và chu đáo, nếu không sẽ cho kết quả ngược lại. Tôi mong các thầy cô có đủ sức lực, tâm huyết để không ngừng nghỉ về việc dạy tiếng Việt ở nước ngoài.

Thêm nữa, tôi nghĩ đến việc đề xuất với các cơ quan chức năng hoặc những doanh nghiệp quan tâm đến việc này cùng chung tay hỗ trợ những ngôi trường ở nước ngoài. Khi trực tiếp tham gia cùng các thầy cô giáo ở xứ người, tôi mới thấy câu chuyện làm sao có kinh phí hoạt động vẫn là một câu chuyện dài.

Càng biết, càng nghĩ, càng phục các anh chị ấy nhiều hơn. Tôi thấy nhiều nhà hảo tâm ở nước ngoài sẵn sàng ủng hộ đồng bào trong nước thật đáng quý, nhưng ủng hộ những hoạt động của cộng đồng ngay tại nước bạn có lẽ cũng là một việc không kém quan trọng. Những đứa trẻ của chúng ta lớn lên ở nước người mà có cảm nhận tích cực về quê nhà là cơ sở để có một sức mạnh Việt Nam bền vững.

 

Bộ giáo trình Tiếng Việt vui từ đề án Hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài (Tuổi Trẻ 21-11) theo tôi được biết, đang được các thầy cô sử dụng một cách có chọn lọc để phù hợp với đối tượng học sinh của mình.

Tôi nghĩ đây cũng là bộ sách được soạn tương đối công phu và nếu có thể đầu tư bổ sung hơn nữa các phần bài tập tương tác nhỏ sẽ là một bộ giáo trình hỗ trợ được thầy cô nhiều trong việc giảng dạy.

Tuy vậy vẫn cần có nhiều bộ sách mang nhiều mục đích khác nhau ở nhiều trình độ khác nhau dựa trên việc phát triển, rèn luyện bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết và các kiến thức về văn hóa, đất nước học… Về mặt phương pháp, đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở môi trường ngôn ngữ khác cần được hướng dẫn học tiếng Việt như một ngoại ngữ chứ không phải như tiếng mẹ đẻ dù tiếng Việt là tiếng nói thân thương của nước nhà.

————————————

TRUNG NGHĨA

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s