Đâu là nguồn gốc của tiếng Anh?

Nguồn bài Mariam Webster

Lịch sử của ngôn ngữ Anh thường, có lẽ quá rõ ràng, được chia làm 3 thời kỳ: Tiếng anh cổ (hay còn gọi là tiếng Anglo-Saxon), tiếng Anh trung cổ và tiếng Anh hiện đại. Thời kỳ tiếng anh cổ bắt đầu với sự di cư của một số bộ lạc người Đức từ lục địa đến Vương Quốc Anh vào thế kỷ thứ năm trước công nguyên, mặc dù không có ghi chép nào về ngôn ngữ của họ từ trước thế kỷ thứ bảy, cho đến cuối thế kỷ thứ mười một hoặc lâu hơn. Vào thời điểm đó, tiếng Latin, Old Norse (ngôn ngữ của bộ tộc Viking) và đặc biệt là tiếng Pháp Anglo-Norman của giai cấp thống trị sau Cuộc chinh phạt Norman năm 1066 đã bắt đầu tác động đáng kể lên từ vựng, khiến ngữ pháp của tiếng Anh cổ bắt đầu bị phá vỡ.

Một đoạn ví dụ ngắn dưới đây của tiếng Anh cổ minh họa một số cách quan trọng mà tiếng Anh biến đổi quá nhiều. Chúng ta cần xem xét cẩn thận để tìm ra những điểm tương đồng giữa ngôn ngữ của thế kỷ thứ mười với ngôn ngữ hiện nay. Ví dụ này được trích từ cuốn “Homily on St. Gregory the Great” của Aelfric và liên quan đến câu chuyện nổi tiếng về việc giáo hoàng đã gửi các nhà truyền giáo để cải đạo người Anglo-Saxon sang Kitô giáo sau khi thấy các cậu bé người Anglo-Saxon bị bán làm nô lệ ở Rome: Tiếp tục đọc “Đâu là nguồn gốc của tiếng Anh?”

Tiếng Việt thời LM de Rhodes – tràng hột/chuỗi hột – chuỗi mân khôi/mai khôi/môi côi… (phần 19)

5

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về cách dùng tràng hạt (hột), chuỗi hạt[2] từ thời các LM de Rhodes và Maiorica sang truyền đạo ở An Nam cho đến nay. Phần này cũng đề nghị một cách giải thích tại sao lại có các dạng Mân Khôi (tắt là MK), Văn Khôi, Mai Khôi, Môi Côi …  từ quá trình cấu tạo của chữ Hán Việt so với chữ Việt.

Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn Tiếp tục đọc “Tiếng Việt thời LM de Rhodes – tràng hột/chuỗi hột – chuỗi mân khôi/mai khôi/môi côi… (phần 19)”

Xin hãy dành cho thầy Y Jút một vị trí xứng đáng

baodaklak – Cập nhật lúc 10:33, Chủ Nhật, 18/01/2015 (GMT+7)

Linh Nga Niê Kdăm

Trong hồi ký 50 năm theo Bác Hồ, cố bác sĩ Y Ngông Niê Kdăm có nhắc câu chuyện thầy Y Jút giải thích khi học sinh Trường Tiểu học Pháp – Đê ngày ấy hỏi về những người tù bị bắt làm Quốc lộ 14, rằng “đó là những người tù chính trị”.
Phần mộ của vợ chồng nhà giáo Y Jút nằm lọt giữa khu dân cư buôn Păn Lăm. Ảnh: Hoàng Gia
Phần mộ của vợ chồng nhà giáo Y Jút nằm lọt giữa khu dân cư buôn Păn Lăm. Ảnh: Hoàng Gia
Trong hồ sơ xin xây lại ngôi mộ của thầy Y Jút ở buôn Păn Lăm (phường Tân Lập, TP. Buôn Ma Thuột), nhà giáo – Tiến sĩ Phan Văn Bé, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo Dak Nông, đã nói rất kỹ về ông:

Tiếp tục đọc “Xin hãy dành cho thầy Y Jút một vị trí xứng đáng”

Ý nghĩa tên các địa danh ở Tây Nguyên

vulands.com

Không biết bạn thì sao, còn mình khi đến nơi nào đó có cái tên là lạ, thường có thói quen tò mò hỏi dân bản địa: nó có nghĩa là gì. Tại sao gọi 54 dân tộc anh em cùng sống chung trên Đất nước Việt Nam, mà ta có thể bàng quan nhỉ.

Bài viết sưu tầm, tổng hợp theo ý đơn giản dễ hiểu nhất, còn cãi nhau về học thuật địa chí dành cho các cụ râu dài và bà con các dân tộc Tây Nguyên. Tiếp tục đọc “Ý nghĩa tên các địa danh ở Tây Nguyên”

Students develop self-study app for Raglai language

VNN – Update: September, 16/2019 – 10:35

Mai Vĩ Hào and Pinăng Bảo record the language used by the ethnic minority group Raglai for use in their mobile app for smartphones. — VNA/VNS.Photo Nguyễn Thành

NINH THUẬN — To preserve the Raglai ethnic minority language, two students at the Pinăng Tắc Ethnic Minority Boarding High School in Ninh Thuận Province have developed a mobile phone app for self-study.

The software developed by 12th graders Mai Vĩ Hào and Pinăng Bảo won third prize in the province’s 2019 Youth and Children Innovation Contest. Tiếp tục đọc “Students develop self-study app for Raglai language”

Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5B)

Nguyễn Cung Thông[1]

>> Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5A)

Phần này bàn về tiếng Việt dùng trong Kinh Lạy Cha (KLC) qua các văn bản từ thời bình minh của chữ quốc ngữ. Tiếp theo bài viết 5A, bài 5B sẽ ghi nhận thêm các dữ kiện nhìn KLC từ các lăng kính khác nhau, hi vọng người đọc sẽ thấy thích thú và tìm hiểu sâu xa hơn.


Chúng ta đang ở đây (ở trên trái đất, trong hệ mặt trời hay chỉ là một chấm nhỏ ở đầu mũi tên này). Hình trên cho thấy hệ mặt trời nằm trong dãi Ngân Hà có trung tâm là vùng sáng ở giữa (chùm sao Saggitarius). Tiếp tục đọc “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5B)”

Chuẩn chính tả tiếng Việt: Việc đã cấp bách!

KVH Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trí Dõi, Khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, sau hơn sáu mươi năm trở thành chữ viết chính thức, cho đến nay chữ Quốc ngữ vẫn còn chưa được thật sự sử dụng thống nhất trong cộng đồng sử dụng tiếng Việt. Chắc chắn nó sẽ tạo ra những tiêu cực xã hội không đáng có…

65198920-small_282434.jpg (350×263)
Lỗi chính tả có trong một biển hiệu giao thông khuyến cáo người đi đường.

Lỗi chính tả: từ sách học ra cuộc sống

Để chứng minh cho ý kiến này, Giáo sư Dõi đã đưa ra những ví dụ cụ thể. Tiếp tục đọc “Chuẩn chính tả tiếng Việt: Việc đã cấp bách!”

Không có dân tộc Kinh (?)

NĐT –  11:27 | Thứ hai, 31/07/2017 4

Người Việt, ai cũng phải khai là dân tộc Kinh một cách vô lý. “Kinh” nghĩa là gì? Tự tìm hiểu tôi mới nghiệm ra không có dân tộc nào là dân tộc Kinh cả.


Người Việt phải khai là ‘Dân tộc Việt’ trong cộng đồng ‘Người Việt Nam’ gồm 54 dân tộc anh em mà dân tộc Việt là đông nhất. Ảnh minh họa

Nhiều người lớn đang vò đầu bứt tai than vãn: “Xã hội bây giờ nhiễu nhương quá, chẳng còn tôn ti trật tự”. Ai cũng biết vậy. Cái gì cũng có căn nguyên, nhân nào thì quả đó. Xã hội nền nếp vì mọi thứ đều có quy chuẩn rõ ràng, ngô khoai minh bạch. Việt Nam lắm chuyện khác người, từ những việc rất nhỏ.

Làm sao có thể dạy trẻ con lịch sự, biết kính trọng tổ tiên, ông bà khi tên đường đặt rất tùy tiện. Từ những cách gọi lai căng như Bà Triệu (Triệu Thị Trinh), Trần Hưng Đạo (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)… đến những cách gọi thiếu tôn trọng như Thoại Ngọc Hầu (Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại), Lãnh Binh Thăng (Lãnh Binh Nguyễn Ngọc Thăng), Đề Thám (Đề Lĩnh Hoàng Hoa Thám)… Tệ nhất là cách gọi theo hỗn danh như Ký Con (Đoàn Trần Nghiệp, làm thư ký, nhỏ con), Đồng Đen (Nguyễn Văn Kịp)… Nếu những cách gọi này được phổ cập thì tiếng Việt sẽ thế nào? Tiếp tục đọc “Không có dân tộc Kinh (?)”

Chữ viết cổ của người Thái (Sơn La) trở thành di sản văn hóa Quốc gia

(PL+) – Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch vừa công bố thêm 7 di sản văn hóa Quốc gia, trong đó có chữ viết cổ của người Thái (Sơn La).

Bộ VH – TT và DL vừa ban hành quyết định bổ sung 7 di sản vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Trong danh sách này, các di sản thuộc 4 loại hình: Lễ hội truyền thống; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Nghề thủ công truyền thống; Tiếng nói, chữ viết.

PGS. TS Hoàng Lương từng chia sẻ: “Chỉ cần biết tiếng Thái, biết chữ Thái đen ở Sơn La thì ta có thể đọc được chữ Thái của các vùng khác. Vì chữ Thái ở nơi khác như Mường Tấc, Lai Châu,… chỉ thêm một vài từ”.

Bản gốc
Bản gốc “Quam tô mương” bằng chữ Thái cổ. Ảnh: Internet

Trước đó, năm 2002, nhóm nghiên cứu chữ Thái thống nhất của Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hóa – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, đã xây dựng Bộ chữ Thái thống nhất, in thành sách dạy thí điểm ở một số địa phương như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu… Bộ chữ Thái này lấy chữ Thái (Sơn La) làm chuẩn.

Sách chữ Thái cổ từ xưa đến nay luôn được coi là một loại cổ vật quý hiếm. Ảnh: Internet
Sách chữ Thái cổ từ xưa đến nay luôn được coi là một loại cổ vật quý hiếm. Ảnh: Internet

Tiếp tục đọc “Chữ viết cổ của người Thái (Sơn La) trở thành di sản văn hóa Quốc gia”

Cách nói “xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài …” thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)

Linh mục Alexandre de Rhodes và cuốn Phép Giảng Tám Ngày

Nguyễn Cung Thông[1]

>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói “xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài …” (phần 1)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… (phần 2)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng chớ (gì), kín … (phần 3)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4)

Phần này bàn về các cách dùng xuống thuyền, lên đất, ra đời từ nhận xét của linh mục/LM de Rhodes trong cuốn từ điển Việt Bồ La (1651).

LM de Rhodes đã phải cố gắng ghi chú thêm khi thấy các cách dùng này, rất khác biệt (hay có lúc ngược lại) với các cách dùng ngữ pháp truyền thống của tiếng Pháp, La Tinh… Thật ra khi hiểu cách nhìn tổng hợp của người An Nam từ xưa đến nay trong các trường hợp khác như thời gian, tín ngưỡng (kiếp trước, kiếp sau), cách xưng hô (vị trí trong xã hội và gia đình), các câu chuyện hàng ngày (ra chợ, thuyền đi trên sông …) thì ta có thể hiểu phần nào các cách dùng đặc biệt này.

Vấn đề phân định thời gian và không gian trong ngôn ngữ là một chủ đề được nghiên cứu rất nhiều trong vòng ba mươi năm nay, đa phần thuộc về lãnh vực Ngôn Ngữ Học Tri Nhận (Cognitive Linguistics, viết tắt NNTN). Một kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy các ngôn ngữ Tây phương thường xem thời gian từ tiêu chí động (dynamic – như người nói đang di chuyển hay thời gian trôi đi như giòng nước) so với tiêu chí tĩnh (static) và khả năng dùng các giới từ định vị (không gian) cho thời gian ở phương Đông … Ngoài ra, nguyên tắc Gestalt sẽ được bàn đến để giải thích phần nào các khác biệt này qua ngôn ngữ.

Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false . Các chữ viết tắt khác là P (tiếng Pháp), A (tiếng A), L (tiếng La Tinh), LM (Linh Mục), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), Hán Việt (HV).

Click vào đây để download toàn bài

[1] Nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Melbourne (Úc) – email nguyencungthong@yahoo.com

Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4)

Linh mục Alexandre de Rhodes và cuốn Phép Giảng Tám Ngày

Nguyễn Cung Thông[1]

>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói “xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài …” (phần 1)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… (phần 2)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng chớ (gì), kín … (phần 3)
>> Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4)

Phần này bàn về cách dùng đỗ như “đỗ trạng nguyên”, xuống thuyền/lên đất, trên và dưới vào thời LM Alexandre de Rhodes sang An Nam truyền đạo, cụ thể là qua tự điển Việt Bồ La và các tài liệu chữ Nôm hay tiếng Việt cùng thời đại. Với cách nhìn rộng ra hơn, từ trục không gian đến thời gian, ta có cơ sở giải thích các cách dùng đặc biệt này trong tiếng Việt. Tiếp tục đọc “Tiếng Việt thời LM de Rhodes – Cách dùng đỗ trạng nguyên, trên/dưới… (phần 4)”

Về nguồn gốc từ Ba la mật 菠蘿蜜 mà Hán ngữ dùng gọi quả mít

TĐH: Cây mít có tên Hán là Ba la mật, nghe y hệt như từ “Ba la mật” hay “Ba la mật đa” trong kinh Phật, có nghĩa là qua bờ bên kia, tức là “giác ngộ”, như từ “Bát Nhã Ba la mật đa” trong Bát Nhã Tâm Kinh.  Có lẽ chính vì vậy mà người ta hay trồng mít trong sân chùa. Tuy nhiên bài dưới đây, có giả thuyết rằng “mít” là từ Việt cổ blái mít (trái mít), du nhập sang TQ và biến thành Ba ma mật.  Rất thú vị, và có lý hơn là lý giải rằng âm ba-la-mật-đa là người Trung Hoa lấy từ tiếng Phạn có nghĩa là qua bờ.

Phan Anh Dũng
VHNA
Thứ tư, 16 Tháng 8 2017 07:53

Trước hết về gốc gác phương Nam của cây “ba la mật 菠蘿蜜”[1] thì không cần phải bàn cãi, vì chính sách vở và các trang mạng Trung Quốc cũng ghi rõ ba la mật 菠蘿蜜là giống cây nhiệt đới có gốc gác ở Ấn Độ.

Như vậy phải chăng cách gọi cây “mít” của Việt Nam chính là mượn từ “ba la mật” của Trung Quốc rồi bỏ tiền tố “ba la” đi, chỉ còn “mật” sau đó lại đọc trại cả nguyên âm -â- thành -i-, là nguyên âm có độ mở miệng hẹp hơn ?

Điều nay có vẻ hơi nghịch lý, vì Việt Nam là nước trồng nhiều mít, và cây mít nếu di thực từ Ấn Độ thì lan truyền theo đường ven biển qua Việt Nam vào Trung Quốc thuận tiện hơn là qua vùng núi Tây Tạng, vì đây là vùng núi cao và giá lạnh không thích hợp để trồng mít. Do đó tên gọi “ba la mật” truyền từ Việt Nam sang Trung Quốc có lẽ hợp lý hơn ? Tiếp tục đọc “Về nguồn gốc từ Ba la mật 菠蘿蜜 mà Hán ngữ dùng gọi quả mít”

Một số dạng trang phục thời Lê

ĐVCP – 15/07/2016

Giao Lĩnh Thường – tức bộ y phục gồm chiếc áo 6 thân có cổ giao nhau (giao lĩnh) đi cùng với chiếc váy quây (thường) – là phục trang phổ biến nhất trong dân gian thời Lê, có thể thấy qua tranh vẽ lẫn điêu khắc.

Giao lĩnh có dạng vạt ngắn và vạt dài.

Giao lĩnh vạt dài triều Lê

Tiếp tục đọc “Một số dạng trang phục thời Lê”

Món thịt sống của người Kẻ Chợ và nguồn gốc từ “Khoái chá”

ĐVCP – 20/07/2016

Món nem chạo Vị Thủy làm từ thịt lợn sống
Món nem chạo Vị Thủy làm từ thịt lợn sống

Trích cuốn “A supplement to the Voyages Round the World”, William Dampier, 1688.

==========================================================

(…) Đối với những nhu yếu phẩm này thì có các buổi chợ được họp mỗi tuần, trong khu vực khoảng bốn đến năm làng; và được họp tại mỗi làng theo thứ tự: thế nên một ngôi làng sẽ không được khu chợ quay lại sau bốn đến năm tuần. Những khu chợ này có nhiều gạo (vì đây là thực phẩm chính của họ, nhất là đối với người nghèo) hơn là thịt hoặc cá, nhưng cũng không hề thiếu thịt lợn, lợn con, vịt và gà mái, rất nhiều trứng, các loại cá to và nhỏ, tươi hoặc muối với Balachaun(1) và Nuke-Mum(2); với đủ các loại củ, rau thơm, hoa quả, kể cả đối với những khu chợ nông thôn này. Nhưng ở Cachao(3), nơi mà có nhiều chợ họp hàng ngày, ngoài những thứ đó ra người ta còn có thịt bò thiến, thịt trâu, thịt dê, thịt ngựa, thịt mèo và chó (theo như tôi được nghe kể) và châu chấu. Tiếp tục đọc “Món thịt sống của người Kẻ Chợ và nguồn gốc từ “Khoái chá””

Lạ kỳ tiếng Việt đó đây: Các thổ âm Việt nghe như tiếng nước ngoài (8 kỳ)

Kỳ 1: Làng nói tiếng… cực lạ

Tuổi Trẻ 31/10/2012 10:30 GMT+7

TT – Cách trung tâm thủ đô hơn 40km có một ngôi làng toàn người Kinh, nhưng lại có một thứ ngôn ngữ riêng khiến người ngoài làng nghe không thể hiểu.

Dường như mỗi tỉnh đều có một thứ phương ngữ riêng, thậm chí trong mỗi tỉnh thì một vài huyện, xã lại có phương ngữ riêng của mình. Nhưng có một hiện tượng có thể nói là rất lạ: có những làng nói tiếng Việt mà như nói tiếng… nước ngoài. Tiếng nói của họ lạ từ giọng điệu, phát âm cho đến từ ngữ.

Phóng viên Tuổi Trẻ đã tìm đến các “đảo thổ ngữ” ấy và mang về những câu chuyện hết sức thú vị.

Lạ kỳ tiếng Việt đó đây Phóng to
Ông Nguyễn Ngọc Đoán, trông coi đình làng Đa Chất, cũng là người đang lưu giữ những tài liệu về thứ ngôn ngữ lạ của làng này – Ảnh: Đức Bình

Dù chưa rõ nguồn gốc nhưng với người làng Đa Chất (xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội), “tiếng lạ” vẫn được họ xem như báu vật của làng.

Tiếp tục đọc “Lạ kỳ tiếng Việt đó đây: Các thổ âm Việt nghe như tiếng nước ngoài (8 kỳ)”