Huế – những tháng ngày sục sôi – 10 Kỳ

***

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 1: Những giọt nước tràn ly

 Tuổi Trẻ –  05/01/2012 21:22:00 Nguyễn Đắc Xuân

Đây là những hồi ức sống động về một thời xuống đường tranh đấu chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm của lực lượng sinh viên Huế. Là người trong cuộc, sinh viên Nguyễn Đắc Xuân, nay là nhà nghiên cứu nổi tiếng, đã tường trình những gì xảy ra tại Huế từ năm 1963, và tác động của nó đối với chính trường miền Nam lúc ấy.

Tôi là một sinh viên nghèo, gia đình ở nông thôn, chỉ gắn với Huế ở chỗ ngồi trong lớp học và bên cạnh tấm bảng đen, ở những gia đình tôi đến làm gia sư trên đường Phan Bội Châu (Phan Đăng Lưu ngày nay) và đường Trần Hưng Đạo, trước chợ Đông Ba. Trong môi trường đại học, dù có quy chế tự trị nhưng thực chất Tổng hội Sinh viên Đại học Huế lúc đó do đoàn sinh viên Công giáo nắm giữ. Những sinh hoạt đó xa lạ với tôi nên tôi luôn đứng bên tổ chức của sinh viên. Nhưng bất ngờ…

Giám mục Ngô Đình Thục (giữa), tổng thống Ngô Đình Diệm (phải) và cố vấn Ngô Đình Nhu  – Ảnh tư liệu

Đoàn sinh viên Phật tử Huế ra đời

Ngày 17-3-1963, 34 đoàn viên sáng lập họp khoáng đại tại nhà giảng chùa Từ Đàm. Hoàng Văn Giàu – cử nhân triết học, phụ khảo (Assistant) ban triết, Đại học Văn khoa, làm trưởng đoàn; Võ Văn Thơ (Đại học Sư phạm toán, phụ khảo ĐHSP); Thái Thị Kim Lan (sinh viên ban triết) làm phó đoàn; Phan Đình Bính (sinh viên y khoa) làm tổng thư ký. Các khoa trong Đại học Huế đều có đại diện. Đoàn có các ban chuyên môn: ban học tập giáo lý đạo Phật, ban hoạt động xã hội, ban văn hóa báo chí.

Từ ngày hôm ấy, bên cạnh các vị tăng ni uyên thâm giáo lý nhà Phật ở chốn thiền môn còn có thêm một lực lượng trẻ có học, năng nổ, hiểu biết mọi ngóc ngách của cuộc đời. Phụ khảo Hoàng Văn Giàu nhà ở ngã ba Thánh Giá – khu đồng bào Thiên Chúa giáo tiêu biểu của Huế, có phòng nghiên cứu đặt ngay trước lớp dự bị văn khoa của tôi. Giàu là người được các linh mục Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Hòa Nhã, Nguyễn Phương và sư huynh Ferdinand quý mến. Anh được bầu đoàn trưởng đoàn sinh viên Phật tử làm cho tôi rất bất ngờ. Các anh chị Võ Văn Thơ, Thái Thị Kim Lan, Phan Đình Bính và hàng chục sinh viên khác đều là những người nổi tiếng học giỏi, là những “con cưng” của cha Luận và các linh mục dạy Đại học Huế, bây giờ đứng ra thành lập đoàn SV phật tử bên cạnh đoàn SV Công giáo, càng làm cho tôi bất ngờ hơn nữa.

Anh Vĩnh Kha – bạn học cùng lớp với tôi ở Đại học Văn khoa, mời tôi vô đoàn sinh viên Phật tử. Tôi quy y Phật với hòa thượng Thích Đôn Hậu và được ban pháp danh Tâm Hằng từ năm 1956, đã cùng Vĩnh Kha học văn học Lý Trần với thượng tọa Thích Trí Quang ở chùa Từ Đàm, giờ được mời vô đoàn sinh viên Phật tử tôi thấy chẳng có gì phải suy nghĩ.Tôi làm đơn vô đoàn và được phân công vào ban văn hóa báo chí. Lúc ấy tôi đâu có ngờ mình vừa đặt chân lên một ngã rẽ cuộc đời.

Đoàn sinh viên Phật tử sinh hoạt được vài tháng, đang bàn định đến việc tập họp lực lượng ở Đại học Huế thì bất ngờ…

Tranh của họa sĩ Bửu Chỉ minh họa cho tự truyện của Nguyễn Đắc Xuân

Chính quyền Diệm cấm treo cờ nhân ngày Phật giáo

Nhân sự việc 25 năm (1938-1963) ông Ngô Đình Thục tựu chức giám mục, công bộc họ Ngô quyết định quyên góp tiền bạc chuẩn bị tổ chức trọng thể lễ Ngân khánh cho ông vào ngày 29-6-1963. Ông Thục – anh ruột của tổng thống Diệm, là người có quyền uy nhất ở VN cộng hòa lúc ấy, và cũng là vị tổng giám mục cao tuổi nhất trong hàng giám mục VN nên ông hi vọng sau lễ Ngân khánh ông sẽ được tòa thánh Vatican phong làm vị hồng y giáo chủ đầu tiên của VN.

Một nhà báo của tờ Informations Catholiques Internationales kể rằng có lần ông Thục đã nói với ông ta rằng: “Ở VN có nhiều làng đòi làm lễ rửa tội tập thể một lần tất cả dân chúng trong làng và Giáo hội Công giáo không đủ sức cung cấp số người dạy đạo cho họ”. Nhiều lần ông Thục tuyên bố “80% dân chúng trong địa phận Huế của ông là Kitô hữu”. Để chứng tỏ điều đó là có thật, mỗi lần có lễ lược gì thì ông Thục cho cắm cờ Vatican từ nhà thờ La Vang (Quảng Trị) vô đến nhà thờ Phủ Cam (Huế). Lần cắm cờ Vatican sau cùng diễn ra vào ngày 6-5-1963.

Đúng vào thời gian chuẩn bị tổ chức lễ Ngân khánh, Phật giáo cũng chuẩn bị tổ chức đại lễ Phật đản 2507. Tại Huế, khắp mọi nhà, trên mọi nẻo đường, phật tử treo đèn, treo cờ Phật giáo thế giới rực rỡ. Ở đầu các ngõ đường đều dựng cổng chào kết hoa lá và đặt hương án, treo ảnh Phật Thích Ca Mâu Ni để bái vọng. Cố đô Huế biến thành một rừng cờ phật giáo. Chứng tỏ Huế có đến 90% dân chúng theo đạo Phật. Sự kiện này vô tình đã diễn ra đúng vào lúc phái đoàn đại diện Vatican qua miền Trung. Đó là một nguy cơ cho lễ Ngân khánh sắp tới và chức hồng y trong tương lai của ông Thục. Ông Thục vô cùng tức giận bèn điện thoại ngay cho tổng thống Diệm bắt phải dẹp bỏ ngay chuyện treo cờ Phật giáo. Thế là công điện 9195 cấm treo cờ Phật giáo trong lễ Phật đản 2507 của phủ tổng thống ra đời.

Công điện 9195 ra đến Huế vào chiều 7-5-1963 (là 14 tháng 4 năm Quý Mão). Đại biểu chính phủ Hồ Đắc Khương, tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm thị trưởng thành phố Huế Nguyễn Văn Đẳng báo cáo ngay với cố vấn Ngô Đình Cẩn. Cẩn đề nghị xin hoãn thi hành công điện ấy để giữ quan hệ với chùa Từ Đàm. Trong lúc ông Cẩn và các quan chức đang bàn thảo nên hay chưa nên thì có người đem thư của tổng giám mục Ngô Đình Thục đến. Thư chỉ là một mảnh giấy nhỏ với mấy chữ: “Mai tôi đi La Vang, nếu còn thấy cờ Phật treo nhiều thế nữa thì các ông liệu đấy…”. Cuộc hội ý ngắn ngủi chấm dứt.

5 giờ chiều hôm ấy, công việc trang trí để đón Phật đản của phật tử Huế vừa xong thì thấy ngoài đường ùn ùn xe công an cảnh sát với xe loa thông tin đọc lệnh của phủ tổng thống. Họ yêu cầu phải tháo bỏ tất cả cờ Phật giáo, nếu ai trái lệnh sẽ bị tội. Quá bất ngờ, dân chúng hoang mang chạy lên chùa Từ Đàm – trụ sở của Giáo hội Phật giáo, hỏi.

Các vị lãnh đạo Phật giáo ở Huế cũng bất ngờ nên hai đại lão hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên dẫn đầu một phái đoàn đến tư dinh của tỉnh trưởng trên đường Lê Lợi chất vấn về lệnh triệt hạ cờ Phật giáo. Trong lúc đó đoàn sinh viên Phật tử cùng với 5.000 phật tử kéo xuống biểu tình trước tòa tỉnh trưởng phản đối công điện cấm treo cờ Phật trong ngày Phật đản sắp đến. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng thấy không thể làm gì khác hơn nên đã liều mạng tuyên bố tạm thời chưa thực hiện công điện 9195. Tưởng như thế là yên.

Phục vụ mùa Phật đản 2507, Đài phát thanh Huế dành cho gia đình phật tử phát một chương trình vào tối 6-5, dành cho đoàn sinh viên phật tử Huế chúng tôi vào tối 7-5, và sẽ dành cho giáo hội phát lại cuốn băng đại lễ Phật đản diễn ra tại chùa Từ Đàm sáng 8-5-1963 (tức rằm tháng tư năm Quý Mão) như mọi năm. Chương trình phát thanh hai đêm 6 và 7 không có vấn đề gì. Nhưng tối 8-5-1963, Đài phát thanh Huế không cho phát cuốn băng đại lễ Phật đản có ghi lời phát biểu của thượng tọa Trí Quang.

Thay vào chương trình phát thanh của Giáo hội Phật giáo bằng một chương trình ca nhạc. Hàng vạn phật tử Huế liền tắt máy thu thanh kéo nhau đến Đài phát thanh Huế ở đầu phía nam cầu Trường Tiền. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng đến yêu cầu đồng bào hãy về. Thượng tọa Thích Trí Quang cũng được mời đến khuyên đồng bào hãy bình tĩnh và giải tán, mọi việc thương lượng với chính quyền đã có Giáo hội.

Nhưng đồng bào không chịu giải tán và cương quyết đấu tranh với hi vọng chính quyền sẽ nhượng bộ và cuốn băng Đại lễ Phật đản sẽ được phát. Nhưng không. Đáp lại nguyện vọng của hàng vạn đồng bào phật tử Huế, một đoàn xe thiết giáp và hàng chục lính súng cầm tay lưỡi lê giương thẳng, do thiếu tá phó tỉnh trưởng nội an Đặng Sĩ chỉ huy, xuất hiện. Họ xông vào khuôn viên Đài phát thanh đông nghịt người.

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

________________________

Binh lính tấn công Đài phát thanh Huế, giải tán biểu tình. Nhiều người chết và bị thương. Cuộc tranh đấu chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu.

Kỳ tới: Súng đã nổ!

***

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 2: Súng đã nổ!

  06/01/2012 20:20:00Nguyễn Đắc Xuân  

Thượng tọa Thích Trí Quang (bìa phải) và giáo sư Erich Wulff (giữa) – người đã công bố sự thật về cuộc đàn áp Phật giáo tại Huế – Ảnh: tư liệu N.Đ.X.

Đêm 8-5-1963, đáp lại nguyện vọng của hàng vạn đồng bào phật tử Huế, một đoàn xe thiết giáp và hàng chục lính súng cầm tay lưỡi lê giương thẳng, do thiếu tá phó tỉnh trưởng nội an Đặng Sĩ chỉ huy, xuất hiện và xông vào khuôn viên Đài phát thanh.

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 1: Những giọt nước tràn ly

Tấn công

Dòng chữ Ngô Đình Khôi kẻ trên một xe thiết giáp hiện ra trước mắt hàng ngàn người. Có tiếng đồng thanh la lớn: “Thiết giáp Ngô Đình Khôi! Thiết giáp Ngô Đình Khôi!”. Súng bắn, lựu đạn nổ ầm ầm. Tiếng đồng bào rú lên thất thanh giữa đêm hè vô cùng rùng rợn. Nhiều người đạp lên nhau chạy tháo thân.

Trong phút chốc khuôn viên Đài phát thanh, bùng binh đầu cầu Trường Tiền và khách sạn Morin thành một bãi chiến trường thê thảm. Vô số xe đạp cong queo, giày dép, guốc cao gót đủ màu, vạt áo, mũ nón, từng mảng da tóc đầm đìa máu me. Gần một chục xác người nằm trên bãi máu, kẻ mất tay, người gãy chân, người mất đầu.

Tôi như một kẻ không hồn giẫm lên xác chết chạy về nhà trọ phía Đập Đá. Tôi không thể tưởng tượng cơn thịnh nộ máu lửa của anh em nhà họ Ngô có thể diễn ra như thế. Chiếc xe thiết giáp mang tên Ngô Đình Khôi cứ gầm rú trong đầu tôi. Ngô Đình Khôi – ông anh cả trong gia đình họ Ngô – đã chết từ gần 20 năm trước, không ngờ hôm nay lại hóa thân thành chiếc xe thiết giáp đi giết những người bất phục chế độ của các em ông. Về nhà trọ bên dòng Thọ Lộc, đóng kín cửa mà tôi vẫn không hết sợ.

Suốt đêm 8 và sáng hôm 9-5, quân vụ thị trấn giới nghiêm, khu vực xung quanh Đài phát thanh Huế, xe cứu thương đến chở hết các xác chết lên bệnh viện, công an cảnh sát ra sức hốt hết tang vật, rửa sạch mặt đường. Chính quyền họp báo, phát trên Đài phát thanh tin đêm Phật đản 8-5-1963 “Việt cộng đã trà trộn vào đám đông trước Đài phát thanh và đã ném plastic khiến tám người chết và bốn người bị thương. Đây là một hoạt động của Việt cộng nhằm kỷ niệm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ” (thực tế có đến chín người chết và 14 người bị thương phải cứu chữa ở bệnh viện, hàng trăm người bị thương khác không đến bệnh viện công). Đồng thời chính quyền triển khai lực lượng an ninh và quân đội tìm bắt những người nổi trội trong các cuộc tập họp vừa qua.

Ông Ngô Đình Thục đi La Vang về, hài lòng nghe báo cáo đã dẹp được những người bảo vệ Phật giáo, nhưng ông không ngờ đất dưới giáo phận của ông đã rung.

Nói lên sự thật

Do một sinh viên gặp trên đường mời, bác sĩ Erich Wulff – giáo sư Đại học Y khoa và Đại học Văn khoa Huế trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Chính phủ Tây Đức cho Đại học Huế – đã có mặt tại Đài phát thanh Huế trong đêm pháp nạn. Ông tình cờ được chứng kiến cuộc thảm sát từ đầu đến cuối và một đồng nghiệp của ông là Orje đã giúp ông chụp ảnh tất cả những người bị súng, lựu đạn và xe thiết giáp của chế độ Diệm giết chết.

Ông hết sức xúc động, cho đây là một vụ giết người tập thể. Ông đã tường thuật lại với vợ chồng giáo sư Krainick – trưởng phái bộ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Lời tường thuật được thu băng và được sự chứng thực của giáo sư Krainick. Để có thể đưa thông tin – tài liệu tội ác của chế độ Diệm ra cho báo chí quốc tế, với sự trợ giúp của giáo sư Krainick, bác sĩ E. Wulff đã rời Huế vào Sài Gòn, rồi ra nước ngoài bằng con đường Phnom Penh (Campuchia).

Qua bác sĩ E. Wulff mà thế giới biết được tin tức về cuộc đàn áp Phật giáo đang diễn ra tại VN. Và cũng chính bác sĩ E. Wulff là người được mời điều trần sự kiện này trước Ủy ban Điều tra tội ác đàn áp Phật giáo VN của Liên Hiệp Quốc vào tháng 9-1963. Bức trường thành bưng bít sự thật ở VNCH đã bị chọc thủng.

Hằng ngày, bộ máy chính quyền Diệm phải đương đầu với báo chí và đài phát thanh ngoại quốc hết sức khó khăn. Và điều bất ngờ nhất là anh em nhà họ Ngô chưa hề nghĩ đến việc đối phó với…

Đấu tranh bất bạo động

Ngày 10-5-1963, lãnh đạo cuộc đấu tranh gửi cho tổng thống Diệm một tuyên ngôn đòi giải quyết năm nguyện vọng: 1. Tự do treo cờ, 2. Bình quyền với Kitô giáo; 3. Ngưng bắt giữ phật tử, 4. Tự do tín ngưỡng và 5. Bồi thường cho nạn nhân ngày 8-5-1963 và trừng trị những người có trách nhiệm.

Năm ngày sau, 15-5-1963, một bản phụ đính được công bố nói rõ cuộc tranh đấu của Phật giáo chỉ muốn “thay đổi chính sách của chính phủ”: đấu tranh vì sự công bằng tôn giáo, công bằng xã hội chứ không phải một tôn giáo chống một tôn giáo, phương pháp đấu tranh bất bạo động. Trong tinh thần đấu tranh bất bạo động, Phật giáo đã tổ chức một phái đoàn đưa năm nguyện vọng và phụ đính cho tổng thống Diệm, tổ chức cầu siêu cho các nạn nhân trong vụ thảm sát tại Đài phát thanh Huế.

Một trong những người bị thảm sát và được tôn vinh là thánh tử đạo là Trần Thị Phước Trị – em gái của Trần Mô Phạm và Trần Thị Phước Định – bạn học của tôi ở Đại học Văn khoa. Trần Mô Phạm là thân sinh của nữ diễn viên điện ảnh Trần Nữ Yên Khê – vợ của đạo diễn Trần Anh Hùng ở Pháp hiện nay. Ngay sau lễ cầu siêu, toàn thể tăng ni có mặt bắt đầu một cuộc tuyệt thực để cầu nguyện cho năm nguyện vọng sớm được giải quyết. Tin tuyệt thực được loan ra làm cho đồng bào phật tử Huế vô cùng xúc động. Hàng ngàn người xin tham gia, trong đó có nhiều sinh viên. Lúc ấy chúng tôi đấu tranh rất chân thành, đã tuyên bố tuyệt thực là tuyệt đối không ăn.

Để giữ danh dự với đối phương, một ly nước đường cũng không uống. Phải giữ lòng trong sạch để cầu nguyện cho năm nguyện vọng sớm được giải quyết.

Tuyệt thực được 24 tiếng, tôi thấy đuối sức, đầu óc bắt đầu nghĩ vẩn vơ. Một số người tuyệt thực không còn đủ sức ngồi nữa. Một vài người huyết áp xuống thấp phải gọi bác Đội Siêu ở phòng y tế chùa Từ Đàm lên chích thuốc cấp cứu. Tuyệt thực được 36 tiếng thì có tin thượng tọa Trí Quang bị ngất. Cái tin ấy làm chấn động cả thành phố Huế.

Bỗng trước cổng chùa xuất hiện một chiếc Mercedes màu cà phê sữa nhạt. Có tiếng tranh cãi ồn ào rồi thấy công an mật vụ giạt ra. Ôi, hết sức bất ngờ: bác sĩ Lê Khắc Quyến – khoa trưởng Đại học Y khoa, giám đốc Bệnh viện Huế – dẫn mấy sinh viên y khoa cầm ống nghe hối hả đi vào chùa. Ông hỏi chỗ thầy Trí Quang tuyệt thực và len lỏi đến thăm mạch, chích thuốc cho thầy. Tôi hết sức biết ơn và cảm thấy tinh thần mình phấn chấn trở lại. Sau đó tôi lại được biết với tư cách giám đốc Bệnh viện Huế, trực tiếp khám nghiệm những nạn nhân đã bị thảm sát ở Đài phát thanh Huế, bác sĩ Quyến khẳng định những người chết do lựu đạn, đạn bắn thẳng và xe thiết giáp cán chứ không phải do sức nổ plastic “của Việt cộng” như chính quyền đã công bố.

Bác sĩ Quyến được ông Diệm giao cùng với linh mục Cao Văn Luận sáng lập ra Đại học Y khoa Huế, là người thầy thuốc tin cậy của gia đinh họ Ngô… thế mà giờ đây lại đứng về phía Phật giáo đấu tranh với chế độ Diệm! Ôi, ý nghĩa làm sao!

Sau khi bác sĩ Quyến ra về, thấy có một bà cụ mặc áo dài màu vàng, quần dài trắng, đội khăn vàng, tay cầm một gói giấy lững thững đi vào chùa. Những người tuyệt thực ngồi rẽ qua hai bên để tránh đường cho bà. Nhiều người sụp lạy bà. Bà đến chỗ thầy Trí Quang ngồi và sụp lạy thầy. Bà già ấy là đức Từ Cung – thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại. Gói giấy trên tay bà là sâm Cao Ly xắt lát trộn với nếp rang, bà đem đến để khi cần cấp cứu những người tuyệt thực bị kiệt sức. Tôi đã đến nhà bà nhiều lần nhưng đây là lần đầu tiên tôi được gặp bà. Cái bức màn ngăn cách giữa người bình dân xứ Huế và hoàng tộc đã được vén lên.

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

______________________

Ngày 11-6-1963, ngọn lửa Thích Quảng Đức rực cháy giữa đường phố Sài Gòn. Ngọn lửa lan đến nhiều nơi, rồi bùng phát tại Huế.

Kỳ tới: Lửa từ bi từ Sài Gòn đến Huế

***

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 3: Lửa từ bi từ Sài Gòn đến Huế

  07/01/2012 22:17:00Nguyễn Đắc Xuân

Malcolm Brown với bức ảnh hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu gây chấn động thế giới – Ảnh tư liệu của A.J.Langguth

Cuối tháng 5-1963, Đoàn sinh viên phật tử công bố hai văn bản quan trọng. Thư gửi cho sinh viên học sinh Huế và kiến nghị của Đoàn sinh viên phật tử Huế gửi tổng thống Diệm. Chúng tôi kêu gọi sinh viên học sinh tham gia cuộc đấu tranh cho lý tưởng tự do, bình đẳng. Kiến nghị tổng thống Việt Nam cộng hòa sớm giải quyết năm nguyện vọng của Phật giáo.

>> Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 1: Những giọt nước tràn ly

>> Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 2: Súng đã nổ!

Trong vòng phong tỏa

Thư kêu gọi sinh viên do tổng thư ký Phan Đình Bính ký (vì đoàn trưởng Hoàng Văn Giàu bị gọi đi học quốc sách ấp chiến lược ở suối Lồ Ồ chưa về). Kiến nghị do đại diện năm khoa đại học, đại diện Viện Hán học và đại diện bốn trường cao đẳng ký. Thư và kiến nghị được in ronéo hàng ngàn bản phát cho quần chúng và báo chí. Khả năng in ấn của chúng tôi không đáp ứng được yêu cầu của quần chúng, nên chúng tôi đã tổ chức phát thanh hằng ngày để phổ biến tài liệu, tin tức thu thập qua các đài và báo chí ngoại quốc.

Từ sau khi ký tên dưới thư gửi cho sinh viên học sinh Huế tấn phát ra ngoài, tên tuổi anh Phan Đình Bính rất được chú ý. Vào sáng 3-6-1963, Bính đi ôtô về thăm các bệnh nhân bị đàn áp đang nằm điều trị tại Bệnh viện Huế, giữa đường anh bị lực lượng an ninh của Diệm đón bắt. Bính là sinh viên Huế đầu tiên bị bắt nên gây ra một sự xúc động mạnh mẽ trong mọi người. Chúng tôi đưa kiến nghị đòi phải thả ngay Phan Đình Bính. Trong tù Bính tuyệt thực đến kiệt sức. Cuối cùng chính quyền Diệm phải đưa Bính vào quản thúc tại Bệnh viện Huế.

Để ngăn chặn hoạt động tranh đấu của chúng tôi, từ đầu tháng 6-1963 chế độ Diệm cho cắt nước, cắt điện, phong tỏa chùa Từ Đàm. Hàng ngàn người bị ém trong khuôn viên chùa. Tin chùa Từ Đàm bị phong tỏa lại làm xúc động lòng người cả nước. Cuộc đấu tranh đòi giải tỏa chùa Từ Đàm diễn ra khắp nơi. Máu tiếp tục đổ ở đầu cầu Bến Ngự, ở trước Tòa đại biểu chính phủ, số 5 Lê Lợi… Tình hình hết sức bức xúc. Nhiều đoàn viên sinh viên phật tử chịu không nổi tìm cách phá vỡ vòng vây. Ban đêm anh em lén qua nhà dân xung quanh chùa, mò qua phố mua bánh kẹo thuốc men rồi lên chùa lại.

Dù bị phong tỏa, thiếu thốn mọi bề nhưng chúng tôi vẫn vui vẻ, hội họp, in ấn, bàn thảo công việc suốt ngày. Ở trong chùa ăn chay suốt cả tháng đến lúc về nhà trọ ăn mặn, nên món nào tôi cũng có cảm giác tanh tao không ăn được. Phải tập cả tuần lễ sau mới quen trở lại.

4 ngày, hai vụ tự thiêu ở Huế

Sau hơn một tháng đấu tranh, bao nhiêu hứa hẹn của chính quyền Diệm đều chỉ là những thủ đoạn lừa bịp để kéo dài thời gian với hi vọng những người tham gia phong trào chịu không nổi phải giải tán, lúc đó chính quyền sẽ trừng trị từng người. Đấu tranh bạo động, biểu tình thì các thầy không cho, sợ vi phạm tinh thần bất bạo động. Phát thanh, viết in truyền đơn hoài cũng chán. Nhiều lúc chúng tôi cảm thấy bí, không biết làm gì.

Bất ngờ ngày 11-6-1963, ngọn lửa Thích Quảng Đức bừng sáng giữa TP Sài Gòn. Cả thế giới bàng hoàng, xúc động. Ngọn lửa Thích Quảng Đức làm rung chuyển chế độ Diệm. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương bừng tỉnh ra khỏi cơn Say mây viết ngay bài Lửa từ bi tuyệt vời. Bài thơ tác động rất mạnh đến tinh thần của sinh viên học sinh cả miền Nam.

Gần một tháng sau, ngày 7-7, thủ lĩnh nhóm Tự Lực Văn Đoàn hồi trước Cách mạng Tháng Tám 1945, nhà văn Nhất Linh, uống thuốc ngủ tự vận để chống lại tòa án của Diệm xử ông về tội chống Diệm. Chúng tôi tổ chức truy điệu Nhất Linh. Những người từng mê say văn học của Tự Lực Văn Đoàn, những sinh viên văn khoa từng học Đoạn tuyệt với thầy Lê Tuyên, những giáo viên dạy văn học còn đứng ngoài cuộc tranh đấu giờ xích lại gần chúng tôi.

Tiếp theo ngọn lửa Thích Quảng Đức, ngày 4-8-1963, ngọn lửa Nguyên Hương bùng lên ngay trước tỉnh đường tỉnh Bình Thuận. Ngày 13-8-1963, Sadi Thanh Tuệ 18 tuổi tự thiêu tại chùa Phước Duyên, phía sau chùa Thiên Mụ, Huế. Không khí tranh đấu ở Huế trở nên căng đầy. Chính quyền Diệm tổ chức cướp xác Thanh Tuệ, phong tỏa khu vực từ cầu Bạch Hổ lên chùa Phước Duyên.

Chúng tôi tổ chức tuyệt thực ngay hàng rào kẽm gai cấm cầu Bạch Hổ. Ngày 15-8, sau cuộc biểu tình phản đối việc cướp xác Sadi Thanh Tuệ ở Huế, ni sư Diệu Quang – người Huế, tự thiêu tại Ninh Hòa (gần Nha Trang). Ngày 16-8, chính quyền Diệm ban hành lệnh giới nghiêm và thiết quân luật toàn diện. Để cho dân chúng đi lại theo dõi cuộc tranh đấu được dễ dàng, lúc này chúng tôi đã tổ chức thêm một trụ sở tranh đấu nữa tại chùa Diệu Đế. Buổi trưa, buổi chiều hàng ngàn người đứng chật hai đoạn đường Bạch Đằng và Huỳnh Thúc Kháng trên đôi bờ sông Đông Ba trước chùa nghe phát thanh. Công an, cảnh sát của Diệm ra sức dẹp mà không thể dẹp được. Vì thế mặc dù thiết quân luật, chúng tôi vẫn phát thanh đều đều.

Sau khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở Sài Gòn, thượng tọa Thích Tiêu Diêu, 71 tuổi, người làng An Truyền, xuất thân chùa Tường Vân, phát nguyện noi theo gương hòa thượng Thích Quảng Đức tự mổ bụng tại một địa điểm thích hợp ở Huế để góp phần cầu nguyện cho năm nguyện vọng. Lãnh đạo Phật giáo không đồng ý. Trong thời gian chờ đợi sự đồng ý của lãnh đạo, thượng tọa tuyệt thực. Đến đêm 15 rạng ngày 16-8-1963, không rõ đã được sự đồng ý của lãnh đạo hay chưa, thượng tọa mặc y vàng có kết bông gòn phía trong ra ngồi trước nhà thiền bên sân trái chùa Từ Đàm (nơi dựng tượng cư sĩ Lê Đinh Thám ngày nay), tự tưới xăng lên mình rồi bật lửa tự thiêu. Ngọn lửa Tiêu Diêu cũng hào hùng không thua gì ngọn lửa Quảng Đức. Thượng tọa an nhiên ngồi chấp tay niệm Phật trong ngọn lửa rực cháy. Xung quanh ngọn lửa Tiêu Diêu, hàng ngàn phật tử cúi lạy và đọc kinh tiếp dẫn không ngớt.

Để đối phó với âm mưu cướp xác của chính quyền Diệm như trường hợp Sadi Thanh Tuệ, chúng tôi bố trí lực lượng sinh viên học sinh và phật tử nắm tay nhau làm thành nhiều lớp hàng rào bao quanh ngọn lửa Tiêu Diêu. Nhờ thế lực lượng dã chiến của ông Diệm không dám nhảy qua cướp xác. Linh cữu của thượng tọa được quàn ngay trong nhà giảng chùa Từ Đàm.

Trong những ngày này sinh hoạt đấu tranh ở chùa Diệu Đế rất rộn ràng. Nhiều vị tăng ở Sài Gòn ra thuyết pháp, trực tiếp đề cập đến thái độ hỗn xược của bà Ngô Đình Nhu đối với sự hi sinh cao cả của hòa thượng Thích Quảng Đức. Chưa bao giờ chế độ Ngô Đình Diệm bị đả kích một cách công khai, mạnh mẽ đến như thế. Hai bên bờ sông Đông Ba và sân chùa Diệu Đế đông nghịt người đến nghe và họ vỗ tay tán thưởng như sấm dậy. Sinh viên phật tử mua mấy phuy xăng và củi về chất thành mấy giàn hỏa giữa sân chùa Diệu Đế, tuyên bố sẵn sàng theo gương hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cầu nguyện cho năm nguyện vọng. Bản thân tôi đến lúc này thấy chuyện vào ngồi trong giàn hỏa tự thiêu cho chánh pháp không có gì là khó khăn, sợ hãi cả.

Tin sinh viên Huế chuẩn bị tự thiêu ở chùa Diệu Đế lan ra khắp thành phố. Người người xúc động…

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

_______________________

Viện trưởng Viện Đại học Huế bị cách chức. Các giáo sư khoa trưởng đồng loạt từ chức để phản đối. Trước tình hình đó, sinh viên đã làm gì trong một ngày, nay  được xem là ngày lập nên truyền thống đấu tranh yêu nước của sinh viên Huế?

Kỳ tới: Sinh viên Huế tuyên chiến

***

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 4: Sinh viên Huế tuyên chiến

  08/01/2012 20:40:00Nguyễn Đắc Xuân

Đã đọc: 2326          https://www.facebook.com/v9.0/plugins/like.php?app_id=230661803738293&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fx%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2F%3Fversion%3D46%23cb%3Df3c44bd18f5e364%26domain%3Dwww.daophatngaynay.com%26is_canvas%3Dfalse%26origin%3Dhttps%253A%252F%252Fwww.daophatngaynay.com%252Ff91b07a3fe5794%26relation%3Dparent.parent&container_width=0&href=https%3A%2F%2Fwww.daophatngaynay.com%2Fvn%2Fphatgiao-vn%2Flich-su%2F9780-Hue-nhung-thang-ngay-suc-soi-Ky-4-Sinh-vien-Hue-tuyen-chien.html&layout=button_count&locale=vi_VN&sdk=joey&send=true&show_faces=true&width=250Cỡ chữ:  

Sinh viên Ngô Văn Bằng đọc kiến nghị bên cạnh giáo sư Nguyễn Hữu Trí. Phía sau là Võ Văn Thơ, Huỳnh Ngọc Ghênh, Nguyễn Đắc Xuân, Hồ Đức Nhị, Vĩnh Kha, Nguyễn Văn Tú – Ảnh: tư liệu Nguyễn Đắc Xuân

Vào khoảng 9g ngày 17-8-1963, tôi đang chuẩn bị chương trình phát thanh trưa tại chùa Diệu Đế thì có người hối hả chạy về báo: – Linh mục Cao Văn Luận không chịu có biện pháp mạnh để đối phó với sinh viên theo Phật giáo tranh đấu nên bị ông Diệm cách chức rồi.

>> Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 1: Những giọt nước tràn ly

>> Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 2: Súng đã nổ!

>> Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 3: Lửa từ bi từ Sài Gòn đến Huế

Tôi hết sức ngạc nhiên nhưng rồi cũng có thể hiểu được.

Các giáo sư lên tiếng

Linh mục Cao Văn Luận là người thân cận của chính phủ Diệm nhưng linh mục có tinh thần độc lập.

Suốt gần ba tháng chúng tôi bỏ đại học đi tuyệt thực tranh đấu, linh mục không hề có một lời cảnh cáo nào. Bây giờ có lẽ ông Diệm cách chức linh mục vì ông không ra lệnh đuổi hết những sinh viên tham gia tranh đấu chống chính phủ.

Sau này đọc hồi ký Bên dòng lịch sử của linh mục, tôi biết lúc đó có những mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa ông Diệm và linh mục Luận, nhất là chuyện linh mục và ông Âu Ngọc Hồ đi Mỹ về biết được phản ứng của dư luận Mỹ không có lợi cho ông Diệm và viết thư khuyên ông Diệm nên thay đổi đường lối cai trị mà ông Diệm không nghe.

Linh mục Luận bị cách chức, tôi không biết linh mục đã có phản ứng gì chưa nhưng tôi tin chắc những giáo sư, sinh viên từng trưởng thành dưới bóng mát của linh mục sẽ không chịu ngồi yên đâu. Quả nhiên như thế, chỉ một tiếng sau, anh em đem về cho chúng tôi một xấp thông báo của các thầy khoa trưởng các phân khoa Đại học Huế (y khoa, luật khoa, khoa học, sư phạm…) cùng “những nhân viên giáo huấn”.

Thông cáo “tuyên bố cùng thế giới, quân dân, và sinh viên nam nữ toàn quốc:

1. Vô cùng xúc động trước hai vụ hỏa thiêu tại Huế trong vòng năm ngày, trước sự cướp xác của vị tu sĩ tự thiêu, trước sự bắt bớ phật tử và sinh viên Phật giáo, trước viễn tượng tự thiêu của các sinh viên, trước vấn đề tranh đấu cho sự thực thi thông cáo chung giữa Phật giáo và Chính phủ;

2. Vô cùng xúc động trước sự thờ ơ của chính phủ đã để cho vấn đề kéo dài đến ba tháng rưỡi nay mà không đem lại một giải pháp nào để ổn định tình thế;

3. Vô cùng xúc động trước sự thay thế linh mục viện trưởng Viện Đại học Huế trước tình thế trầm trọng này.

Xin từ chức các chức vụ mà chúng tôi đảm nhận tại Viện Đại học Huế kể từ ngày hôm nay 17-8-1963”.

Bản thông cáo ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa. Các cuộc tự thiêu của sadi Thanh Tuệ và thượng tọa Tiêu Diêu cùng thái độ sẵn sàng tự thiêu của một số sinh viên đã gây xúc động mạnh đến các giáo sư đại học.

Chuyện ông Diệm cách chức linh mục Luận chỉ như một giọt nước rót thêm vào bát nước đã đầy. Linh mục Luận là ân nhân của biết bao người, linh mục Luận bị cách chức mà họ không có thái độ thì còn mặt mũi nào mà đứng trước bảng đen dạy dỗ sinh viên nữa. Vì thế, dù muốn dù không mọi người phải từ chức.

Sinh viên quyết định bãi khóa

Ngay đầu buổi chiều 17-8, không rõ qua kênh thông tin nào mà có chừng 500 sinh viên Đại học Huế tự động họp mặt tại giảng đường C Đại học Khoa học để tỏ thái độ với chính phủ Diệm đã cách chức linh mục Luận. Từ sau vụ đàn áp ở Đài Phát thanh Huế tối 8-5 cho đến nay, 17-8-1963, lần đầu tiên mới có một cuộc họp mặt sinh viên Đại học Huế như thế này.

Trong số 500 người tham dự không riêng gì sinh viên phật tử mà có cả sinh viên Công giáo, Tin lành, nhiều người xuất thân các trường dòng, trường Tây. Đặc biệt nhất là có nhiều nữ sinh viên xinh đẹp, xưa nay nổi tiếng đài các hôm nay cũng “xuống đường”.

Vào lúc 2g chiều, chúng tôi sắp hàng làm một cuộc tuần hành dọc theo đường Lê Lợi vòng qua đường Lê Thánh Tôn (nay là đường Hà Nội) đến tư thất linh mục Luận (nay là trụ sở của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Huế). Đi đầu đoàn tuần hành có hai sinh viên khiêng tấm bảng cáctông idôren với dòng biểu ngữ viết vội đại ý xin trả lại chức vụ viện trưởng Đại học Huế cho linh mục Cao Văn Luận.

Lên đến nơi thì thấy tư thất của linh mục Luận cửa đóng then cài. Chúng tôi chạy quanh nhà thì gặp thầy Nguyễn Hữu Trí (Đại học Sư phạm). Thầy Trí cho biết linh mục Luận đã rời Huế vào Đà Nẵng bằng xe con cách đó mấy phút.

Không gặp được linh mục Luận, đứng ngay trên thềm nhà, trước mặt thầy Trí chúng tôi nhân danh toàn thể sinh viên Đại học Huế thảo một kiến nghị gửi cho tổng thống Ngô Đình Diệm. Bản kiến nghị ấy sau này đăng trong tạp chí Nhận Thức (số 3-1964) có nội dung như sau (trích):

Chúng tôi, toàn thể sinh viên thuộc các phân khoa Viện đại học Huế, họp tại Trường đại học Khoa học lúc 14 giờ ngày 17-8-1963, ký tên dưới đây đồng kiến nghị và quyết định:

1. Yêu cầu tổng thống thâu hồi lệnh bãi chức viện trưởng của linh mục Cao Văn Luận.

2. Yêu cầu tổng thống và ông bộ trưởng quốc gia giáo dục tìm mọi phương sách để quý vị khoa trưởng và giáo sư đã từ chức để phản đối lệnh bãi chức trên đảm nhận lại chức vụ của mình.

3. Quyết định bãi khóa từ ngày hôm nay cho đến khi nào những nguyện vọng trên được thỏa mãn.

Đồng ký tên.

Xuống đường!

Kiến nghị của sinh viên Đại học Huế chỉ đấu tranh đòi phục chức cho cha Luận và yêu cầu chính phủ tìm mọi cách để các giáo sư trở lại nhiệm sở của mình, chứ hoàn toàn không đề cập gì đến cuộc đấu tranh của Phật giáo. Kiến nghị như thế vừa đúng với vị thế của sinh viên, vừa đoàn kết được các sinh viên không theo đạo Phật và đặc biệt “mở thêm một mặt trận mới” của sinh viên Huế chống Diệm song song với phong trào đấu tranh của Phật giáo.

Thảo và ký kiến nghị xong, chúng tôi kéo lên tòa đại biểu chính phủ tại 5 Lê Lợi – nơi người của chính phủ Diệm đang hội họp tìm biện pháp đối phó với phong trào đấu tranh. Lên đến nơi, cửa ngõ tòa đại biểu khóa chặt. Chúng tôi đứng ngoài hàng rào la ó vang rân. Cảnh sát và xe vòi rồng đến bao vây nhưng không dám hành động.

Thấy không thể trốn được, ông Nguyễn Xuân Khương – kỹ sư nông nghiệp hay thú y gì đó vừa được cử làm đại biểu chính phủ (thay ông Hồ Đắc Khương đã bị bãi chức) – cùng giáo sư Nguyễn Quang Trình – bộ trưởng bộ quốc gia giáo dục – ra đứng bên trong hàng rào tòa đại biểu tiếp sinh viên.

Ông Nguyễn Xuân Khương xổ giọng cha chú ra vừa dọa dẫm vừa vuốt ve sinh viên, liền bị chúng tôi vạch mặt. Giáo sư Nguyễn Quang Trình biết không thể đối chất với sinh viên nên đứng lặng thinh. Nhân thể một sinh viên nhảy lên đứng trước mặt giáo sư bộ trưởng đọc bản kiến nghị của sinh viên. Đọc xong chúng tôi nhờ ông chuyển kiến nghị lên tận tay tổng thống Diệm.

Gửi kiến nghị của sinh viên xong, chúng tôi định làm một cuộc biểu tình qua các đường phố hai bên bờ sông Hương. Lúc này nhiều sinh viên học sinh khác bổ sung cho đoàn biểu tình lên đến cả ngàn người, trong đó có cả các thầy dạy đại học. Dân chúng đứng hai bên đường đông nghẹt.

Quân đội và cảnh sát của Diệm triển khai lực lượng phong tỏa hết các đường phố. Họ bắt chúng tôi phải giải tán. Chúng tôi tuyên bố nếu bị giải tán thì sẽ ngồi tuyệt thực ngay tại chỗ trên đường Lê Lợi. Cuối cùng họ phải để cho đoàn biểu tình về tập họp trong khuôn viên công trường xây dựng Đại học Sư phạm trên nền cũ tòa khâm sứ Huế.

Có thể nói ngày 17-8-1963 là ngày lập nên truyền thống đấu tranh yêu nước của sinh viên Huế.

Để cho phong trào đấu tranh của sinh viên Huế được độc lập, chúng tôi dùng ngay văn phòng của Tổng hội Sinh viên Huế đặt tại tầng trệt nhà Morin thuộc Đại học Khoa học làm trụ sở đấu tranh. Từ chùa Từ Đàm mở thêm chi nhánh chùa Diệu Đế, nay có thêm Đại học Huế tạo thành cái thế chân vạc rất vững chắc.

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

______________________

Chính quyền Diệm bất ngờ triển khai “kế hoạch nước lũ”, tấn công vào chùa chiền có tổ chức tranh đấu trên toàn miền Nam.

Chuyện gì xảy ra tại Huế?

Kỳ tới:  “Nước lũ” tràn ra Huế

Nguồn: Tuổi Trẻ

***

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 5: “Nước lũ” tràn ra Huế

  09/01/2012 21:06:00Nguyễn Đắc Xuân

Từ ngày Đại học Huế vào cuộc, phong trào đấu tranh trở nên nóng bỏng khác thường. Thành phố bị giới nghiêm nhưng các tụ điểm đấu tranh vẫn đông người. Không ai còn sợ cái uy của chính quyền Diệm nữa.

Đạp đổ bàn thờ, bắt hòa thượng

Đêm 20-8-1963, biện pháp giới nghiêm bỗng dưng thắt chặt hơn bao giờ hết. Điện nước đều bị cắt. Đến khuya nghe chuông trống phía chùa Từ Đàm gióng lên hối hả, nhưng do mất liên lạc chúng tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Hòa thượng Thích Đôn Hậu, phụ trách lãnh đạo công việc đấu tranh tại chùa Diệu Đế, không ngủ được. Hòa thượng ngồi niệm Phật một cách bình thản. Nhờ thế chúng tôi cũng đỡ lo lắng.

Tờ mờ sáng 21-8, các bạn canh gác xung quanh chùa vào báo với hòa thượng: “Cảnh sát dã chiến súng cắm lưỡi lê tuốt trần, hình như họ đang chờ lệnh tấn công chùa”.

Chúng tôi chạy ra xem thấy đúng như thế. Tôi vào mở máy nổ và mở máy phóng thanh cho hòa thượng nói chuyện với lực lượng của Diệm đang bao vây chùa. Hòa thượng nói đại ý: “Chúng tôi là phật tử, đấu tranh cho sự công bằng tôn giáo, bình đẳng xã hội bằng phương pháp bất bạo động. Có lẽ trong các bạn cũng có nhiều người theo đạo Phật biết thế nào là tinh thần từ bi của Đức Phật. Các bạn không nên dùng súng đạn lưỡi lê của bạo lực để đối phó với những người tay không. Khi nào những nguyện vọng của chúng tôi được chính phủ thỏa mãn là chúng tôi giải tán ngay không phải nhọc sức các bạn”. Không rõ lời kêu gọi của hòa thượng có tác dụng gì không đối với đám lính cảnh sát dã chiến, mà suốt buổi sáng 21-8 họ không hành động gì ngoài việc vây chặt khuôn viên chùa Diệu Đế. Chúng tôi tưởng chỉ bị bao vây “nội bất xuất, ngoại bất nhập” như những lần trước đã xảy ra tại chùa Từ Đàm, nên ăn trưa xong chúng tôi ngả lưng trước bàn thờ Phật nghỉ một chút.

Không ngờ đến khoảng 12g30, có tiếng phá cửa ầm ầm và tiếng giày bốtđờxô nhảy qua thành bôm bốp cùng với tiếng mở quylát súng lắc cắc nghe rất rùng rợn. Tôi chạy ra thì thấy tất cả lực lượng sinh viên học sinh và gia đình phật tử canh gác cửa chùa đều bị bắt. Hàng trăm tên lính người dân tộc thiểu số mặt mày đằng đằng sát khí sắp hàng ngang tiến vào điện Phật. Một tốp chiếm lấy các giàn hỏa chất bằng củi và giữ chặt mấy phuy xăng giữa sân chùa. Hòa thượng Đôn Hậu vẫn ngồi trước điện Phật. Người giữ tôi ngồi bên cạnh để tránh những hành vi vi phạm tinh thần bất bạo động.

Chúng đạp cửa và tiến vào trong điện Phật, giơ cao báng súng xáng lên người hòa thượng. Bản năng tự vệ khiến tôi… chui ngay xuống án thờ Phật. Chúng đá đổ bàn thờ Phật thiết lập từ thời vua Thiệu Trị và lôi tôi ra đánh đạp túi bụi. Hòa thượng Đôn Hậu nói lớn: “Các người cứ giết tôi đi, đừng đánh đập phật tử vô tội của tôi!”.

Những tên lính người dân tộc thiểu số miền Bắc di cư hành động như những cái máy không hồn. Chúng đập phá hết máy nổ, máy in ronéo, phương tiện phát thanh, tịch thu hết truyền đơn, báo chí, khẩu hiệu tranh đấu. Phá phách xong, chúng bắt hòa thượng và hàng mấy trăm tăng ni, sinh viên học sinh gia đình phật tử chở đầy hàng chục xe nhà binh. Đoàn xe chạy dọc đường Bạch Đằng, qua cầu Gia Hội rồi diễu qua đường Trần Hưng Đạo. Đồng bào hé cửa nhìn ra chắp tay cúi lạy hòa thượng Đôn Hậu đang đứng bình tĩnh trên xe nhà binh. Tôi nghĩ một cách thơ ngây: “Không biết chùa Từ Đàm lúc này có biết chúng tôi ở chùa Diệu Đế đang bị bách hại như thế này không?”.

Đến khi đoàn xe rẽ vào hội trường nha công an Trung phần tại đường Trần Cao Vân, thấy hàng ngàn bạn bè tôi ở chùa Từ Đàm bị thương, đầu mình băng bó máu me thấm đỏ, tôi mới vỡ lẽ: chùa Từ Đàm đã bị tấn công trước chùa Diệu Đế. Và lực lượng ở chùa Từ Đàm đã đánh trả một cách quyết liệt nên bị chúng đánh đập rất dữ dội. Nhiều người chiến đấu ở chùa Từ Đàm bị bách hại, áo quần tóc tai bê bết máu, mặt mày sưng húp.

Kết thúc 9 năm máu lửa

Chuyện Diệm tấn công các tụ điểm tranh đấu vào ban đêm, nên ở Tổng hội sinh viên Huế không có ai bị bắt. Suốt cả tuần lễ sau ngày 21-8-1963, chính quyền Diệm rải mật vụ đi lùng bắt những người bị tình nghi đang kẹt ở gia đình như anh em anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Quang Long… Điều lạ nhất là chúng bắt luôn cả mệ Sen (tức công chúa Lương Linh – con gái vua Thành Thái) đang làm việc cho Sở Du lịch Huế. Nghe nói chúng định bắt luôn bà Từ Cung – thân mẫu cựu hoàng Bảo Đại, vì tội bà đã đến thăm các nhà sư tuyệt thực ở chùa Từ Đàm, nhưng sau thấy bà già quá chúng chỉ quản thúc bà tại nhà (79 Phan Đình Phùng).

Những anh em bị bắt vào sau cho biết theo các đài phát thanh ngoại quốc, chính phủ Diệm thực hiện “kế hoạch nước lũ” tấn công vào chùa chiền có tổ chức tranh đấu trên toàn miền Nam. Chúng tấn công vào chùa Xá Lợi (Sài Gòn), bắt tất cả nhà sư có mặt tại chùa không kể có lãnh đạo tranh đấu hay không. Riêng chùa Từ Đàm ở Huế, chúng bắt sạch và đã cướp nhục thể thượng tọa Tiêu Diêu đem đi chôn một nơi nào không ai biết. Cần nói thêm: tại chùa Diệu Đế, buổi sáng lính cảnh sát dã chiến người Kinh, trong đó có nhiều người gốc Huế, đến bao vây chùa nhưng không chịu hành động. Buổi trưa chính quyền Diệm phải điều lực lượng người dân tộc thiểu số miền Bắc di cư đến thay thế mới thực hiện được cuộc tấn công.

Như thế mọi việc đã rõ ràng. Khi biết tập thể tranh đấu trên “toàn quốc” đều bị bắt cả, tự nhiên chúng tôi thấy không còn sợ hãi lo lắng gì nữa. Từ ngày biểu tình đầu tiên 7-5-1963 cho đến ngày bị bắt 21-8-1963, tính ra vừa đúng 107 ngày.

Thực hiện thành công “kế hoạch nước lũ”, chính quyền Ngô Đình Diệm tái lập được trật tự xã hội như cách đó 107 ngày. Nhưng chính quyền Diệm sau ngày 21-8-1963 đã khác xưa. Cái uy quyền tuyệt đối trước đây không còn nữa. Những huyền thoại mà bọn công bộc của gia đình họ Ngô dựng lên xung quanh Diệm đã bị phanh phui. Một kênh thông tin mới về tình hình đã vô hình được thiết lập. Anh em nhà họ Ngô không còn bưng bít sự thật được nữa.

Với phương pháp đấu tranh bất bạo động, một bộ phận dân chúng quan trọng đã tuyên chiến với chế độ. Dù những người lãnh đạo đấu tranh đã bị bắt hết vô tù nhưng tinh thần của họ hoàn toàn không bị khuất phục. Anh em nhà họ Ngô không thể sử dụng bộ máy “chống cộng” để đối phó với phong trào đấu tranh Phật giáo. Chế độ Diệm mở Trường đại học Huế để đào tạo nhân tài cho chế độ thì chính những người sinh viên của đại học ấy đã trở thành ngòi pháo của trái bom đập nát cái uy tín huyễn hoặc của chế độ Diệm. Chế độ Diệm đẻ ra bộ máy chiến tranh “chống cộng”, đến khi bộ máy ấy được chuyển qua chống Phật giáo, chế độ Diệm bất ngờ: bộ máy ấy phải thanh toán ngay chính chế độ Diệm. Bởi thế đã xảy ra cuộc “cách mạng 1-11-1963”. Anh em Diệm, Nhu bị giết chết tại tại Sài Gòn. Chúng tôi được ra khỏi nhà tù.

Kết thúc chín năm máu lửa của chế độ Diệm (1954-1963).

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

***

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 6: Số phận Ngô Đình Cẩn

10/01/2012 09:14 GMT+7

Tối đó các đài phát thanh BBC, VOA tường thuật tướng Dương Văn Minh cầm đầu “cuộc cách mạng 1-11-1963” và cho biết anh em tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị giết. Một sự thật ngoài sức tưởng tượng của tôi. Còn Ngô Đình Cẩn ở Huế thì sao?

Tòa án quân sự đang xét xử ông Ngô Đình Cẩn – Ảnh tư liệu

Chạy trốn

Từ khi thông tin “cách mạng 1-11-1963” ra đến Huế, đường lên dốc Phủ Cam bị xe bọc thép và lính VNCH khóa chặt, vừa để quản thúc Ngô Đình Cẩn và cũng vừa để bảo vệ ông ta. Nếu không canh giữ, dân chúng có thể ùa vào làm thịt lãnh chúa miền Trung – con người đã gây ra bao tội ác suốt chín năm qua.

Có người đến Tổng hội Sinh viên bảo chúng tôi: Này, các anh phải cảnh giác tướng Đỗ Cao Trí – tư lệnh quân đoàn 1 và vùng 1 chiến thuật – là con người hai mặt đó. Không khéo hắn mở cửa cho Ngô Đình Cẩn chạy ra nước ngoài lúc nào không biết! Biết thế nhưng sinh viên tranh đấu không có bất cứ một cơ hội nào có thể tiếp cận được Đỗ Cao Trí lúc đó cả.

Sau này có dịp sưu tập tư liệu về Ngô Đình Cẩn trong thời điểm đó, tôi thấy lời cảnh báo của dân chúng có phần đúng. Theo những người biết chuyện kể lại, lúc 10g45 sáng 2-11-1963, từ Đà Nẵng tướng Đỗ Cao Trí điện thoại cho đại úy Nguyễn Văn Minh – hầu cận của Ngô Đình Cẩn, rằng: Anh thông báo ngay cho cậu biết Sài Gòn vừa báo tin cho tôi hay là tổng thống và ông cố vấn chính trị đã tự tử chết rồi. Tôi không hiểu ra sao nữa! Qua thái độ, cách xưng hô và khẩu khí như thế chứng tỏ Đỗ Cao Trí vẫn còn là người của gia đình họ Ngô.

Nguyễn Văn Minh báo lại cái tin sét đánh ấy cho Ngô Đình Cẩn. Lúc đầu ông Cẩn không tin nhưng rồi cũng phải tin vì đó là sự thật. Ông Cẩn sai Nguyễn Văn Minh liên lạc với cháu ông là linh mục Nguyễn Văn Thuận ở bên nhà thờ dòng Cứu Thế. Linh mục Thuận mách cho cậu Cẩn “mọi việc phải nhờ tướng Đỗ Cao Trí”.

Khoảng 1g30 trưa, ông Cẩn sai đại úy Minh gọi điện thoại mời ông Trí ra Huế để bàn việc. Có lẽ ông Trí đã biết rõ quyết tâm diệt nhà Ngô của Dương Văn Minh ở Sài Gòn nên ông không dám ra Huế theo yêu cầu của ông Cẩn. Ngược lại, khoảng 3 giờ chiều 2-11-1963, ông Trí lệnh cho thiếu tá Tuấn đem quân đội và xe thiết giáp vây nhà ông Cẩn ở chân dốc Phủ Cam.

Không được ông Trí ra giúp cứu nguy mà lại còn bị quân đội bao vây, ông Cẩn mất tinh thần đến cực độ. Bọn gia nô một thời lợi dụng thế lực của ông làm mưa làm gió ở Huế không giúp được gì cho ông Cẩn cả. May sao, một người nhà của ông quan sát không thấy quân đội gác ở phía sông Phủ Cam nên ông Cẩn được đưa ra cửa sau chạy qua trốn ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế của cháu ông là linh mục Nguyễn Văn Thuận.

Linh mục Thuận thấy dân chúng phẫn nộ chống chế độ dòng họ Ngô Đình như thác lũ đang dâng lên khắp nơi nên ông cũng lo sốt vó. Ông không giúp được gì cho người cậu ruột của mình ngoài việc dành cho cậu một cái phòng kín trong nhà thờ để cậu trốn. Qua được nhà thờ của người cháu mình, ông Cẩn vẫn không yên tâm. Ông quá xúc động trước các tin tức về cái chết của hai anh Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu.

Ông thất thần, mặt mày hốc hác, lắc đầu quầy quậy, đập tay lên ngực thều thào: Thôi hết rồi! Thôi hết rồi. Còn chi nữa đâu… Chuyện thật trớ trêu, ngày 2-11 đúng vào ngày sinh nhật Ngô Đình Cẩn! Ông không thể nào ngờ vào ngày sinh nhật thứ 51 này lại chính là ngày đại tang của hai người anh ông!


Ông Ngô Đình Cẩn nhận các nghi thức tôn giáo trước giờ ra pháp trường ngày 9-5-1964 – Ảnh: tư liệu

Ngày tàn bạo chúa

Chiều 3-11, tướng Đỗ Cao Trí ra Huế và đi thẳng đến nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế gặp Ngô Đình Cẩn. Theo tư liệu và hồi ức của Trịnh Quốc Thiên và Nguyễn Văn Minh, tướng Trí vẫn niềm nở và trọng vọng ông Cẩn như ngày nào. Ngồi đối diện với ông Cẩn, tướng Trí lễ phép nói: Hội đồng quân nhân cách mạng ủy nhiệm con đến đây để thưa lại với cậu, tổng thống và ông cố vấn chết là do tai nạn ngoài ý muốn của các tướng lãnh. Chuyện đã xảy ra như vậy bây giờ biết làm thế nào được. Con cũng xin thưa với cậu, hội đồng quân nhân cách mạng kính mời cậu tham gia và xin mời cậu đứng trong thành phần của hội đồng.

Ông Cẩn có vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn giữ yên lặng và nhìn mọi người trong phòng. Tướng Trí nhận thấy lời mời của mình như giễu cợt không đúng chỗ nên nói thẳng vào điều mình muốn nói với ông Cẩn: Việc đã xảy ra như vậy thì thế nào hội đồng quân nhân cách mạng cũng sẽ áp dụng một số biện pháp đối với cậu như tịch biên tài sản… Con nghĩ cậu nên tính xem thế nào… cậu có thể đưa cho con giữ hộ.

Đề nghị của ông Trí cũng đã được ông Cẩn nghĩ tới. Trước khi ông Trí ra Huế, ông Cẩn đã gọi một người thân tín dặn rằng: Chiếc bao bố ném ở dưới gầm giường… trong đó có 24 ký vàng. Chiếc valy gồm một số gia bảo và quý vật… mày lo liệu giữ gìn không thì tụi nó lấy hết. Số bạc mặt tao vẫn để trong tủ… Mày cứ trao cho Trí giữ hộ… Cứ trao cho Trí không sao đâu… Đề nghị của ông Trí cao hơn những gì Cẩn đã nghĩ. Nhưng trong hoàn cảnh ấy ông Cẩn không thể nào làm trái ý ông Trí. Trò chuyện xong, ông Trí – vị tướng đã ngả về phía đảo chính Diệm vào giờ chót, xách một bao vàng và chiếc valy đựng gia bảo và quý vật của gia đinh họ Ngô đặt lên xe Jeep.

Sau đó, đoàn xe của ông Trí từ từ rời khỏi nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế.

Thấy ông Trí lấy của cải của ông Cẩn mà không giúp được gì cho ông Cẩn cả, linh mục Nguyễn Văn Thuận và các linh mục dòng Chúa Cứu Thế lén đến Tòa lãnh sự Mỹ ở đường Đống Đa xin cho ông Cẩn tỵ nạn.

Nhưng theo luật lệ ngoại giao quốc tế chỉ có tòa đại sứ mới có quyền cho tỵ nạn mà thôi. Ông lãnh sự John Helble điện thoại vào Sài Gòn xin lệnh tòa đại sứ và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Tòa đại sứ chấp thuận một cách dè dặt. Trong lúc đang cứu xét về trường hợp tỵ nạn của ông Cẩn chưa xong, ông Cẩn lại còn đòi cho phép thân mẫu ông là cụ bà Phạm Thị Thân (bà quả phụ Ngô Đình Khả) cùng tỵ nạn với ông nữa, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ buộc lòng phải ra chỉ thị cho lãnh sự quán của họ ở Huế rút lui quyết định đồng ý cho ông Cẩn tỵ nạn.

Không rõ lệnh lạc ra làm sao, sau khi có tin ông Cẩn xin đi tỵ nạn, ông Đỗ Cao Trí đến ngay tòa lãnh sự cảnh báo tòa đừng chứa chấp ông Cẩn. Nếu tòa chứa ông Cẩn, dân chúng Huế sẽ tràn vào phá tòa và hành hung ông Cẩn thì không có lực lượng nào giữ được an ninh cả.

Sau đó tướng Đỗ Cao Trí được lệnh của hội đồng quân nhân cách mạng đưa ông Cẩn cùng với cụ thân mẫu ông vào Sài Gòn. Ông Trí cùng với một sĩ quan Mỹ và một số sĩ quan VNCH tháp tùng ông Cẩn và thân mẫu ông lên máy bay đi Sài Gòn lúc 10g45 sáng 5-11-1963.

Bạo chúa miền Trung Ngô Đình Cẩn đi khỏi Huế và không còn cơ hội trở lại nữa.

Nguyễn Đắc Xuân

***

Huế – những tháng ngày sục sôi – Kỳ 7: Phá hội thảo “Bắc tiến”

11/01/2012 08:50 GMT+7
TT – Cuối mùa hè năm 1964, bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara dắt tay tướng Nguyễn Khánh – người đứng đầu chính quyền Sài Gòn, tuyên bố có thể mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.

Lời tuyên bố của ông McNamara đã khiêu khích tinh thần tự trọng dân tộc của giới sinh viên Huế. Nhiều người có ý thức chống Mỹ kể từ đó.


Sinh viên Hoàng Phủ Ngọc Tường (phải) và chủ tịch Tổng hội Sinh viên Huế Trần Xuân Kiêm tại cuộc hội thảo – Ảnh tư liệu N.Đ.X.

Vào Sài Gòn bằng máy bay tướng Kỳ

Trung tuần tháng 7-1965, người đứng đầu ủy ban hành pháp trung ương ở Sài Gòn là tướng Nguyễn Cao Kỳ, lấy ngày ký hiệp định Genève (20-7-1954) làm “ngày quốc hận”. Ông cho máy bay quân sự ra Phú Bài mời đích danh một số sinh viên lãnh đạo đấu tranh ở Huế vào Sài Gòn dự hội thảo “Ngày toàn dân đoàn kết chuẩn bị giải phóng miền Bắc”. Sau hội thảo, ủy ban thanh niên sinh viên do tướng Kỳ chỉ đạo sẽ thực hiện cuộc “rước quốc kỳ từ Cà Mau ra đến Bến Hải”.

Tướng Kỳ đẩy chúng tôi vào cái “cửa tử”. Ủng hộ “Bắc tiến” để giết hại bà con anh em mình ư? Nhưng sợ mà không đi thì tướng Kỳ sẽ cho bọn sinh viên Huế hèn. Chúng tôi đã chấp nhận đi.

Danh sách mời có đến hơn mười người, tôi chỉ còn nhớ có Trần Xuân Kiêm (chủ tịch tổng hội sinh viên), Trần Anh Tuấn (luật khoa), anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường (văn khoa) và Hoàng Phủ Ngọc Phan (y khoa), Nguyễn Đắc Xuân (sư phạm) và nhiều người nữa tôi không còn nhớ tên. Trước khi lên máy bay, chúng tôi đã thắp hương khấn vái ở sân bay Phú Bài và hứa: Nếu để cho sinh viên Huế bị làm nhục thì chúng tôi sẽ không trở lại sân bay này nữa.

Tướng Kỳ cho một chiếc máy bay quân sự Dakota ra Phú Bài đón chúng tôi. Hồi cuối năm 1963, tướng Dương Văn Minh cũng đã cử máy bay quân sự ra Huế đón sinh viên chúng tôi vào tham quan thành quả“cách mạng 1-11-1963”. Phi hành đoàn toàn là người Mỹ.

Đối với tướng Minh, sinh viên tranh đấu chống chế độ Ngô Đình Diệm lúc đó là “anh em”, là “những người chiến thắng chế độ Diệm”, nên chúng tôi được đón rước rất chu đáo thân tình. Còn đối với tướng Kỳ lúc này (20-7-1965), chúng tôi là những người đấu tranh cho hòa bình dân tộc, đối lập với chủ trương leo thang chiến tranh của ông.

Tướng Kỳ đã cho xe chờ sẵn, chúng tôi ra xe là được chở về ngay hội trường (Nhà hát thành phố, trước mặt khách sạn Caravelle). Cuộc hội thảo được tổ chức liên tục hai ngày hai đêm (48 tiếng). Thức ăn như cháo thịt, bánh mì, cà phê, sữa để sẵn dọc hành lang hai bên hội trường, ai đói tự ra tìm chọn thức ăn, hội thảo không nghỉ giải lao…

“Chỉ sợ cầm súng bắn vào đầu anh em tôi!”

Bên trong hội trường, lực lượng thanh niên sinh viên thân tướng Kỳ chia ra làm nhiều tốp, họ thay nhau ngồi chủ tọa đoàn, phát biểu và nghỉ ngơi cho nên lúc nào họ cũng hăng hái rôm rả. Còn tình hình bên ngoài hội trường cũng rất căng thẳng. Bởi thế khi thấy chúng tôi vào Sài Gòn, nhiều anh chị em sinh viên Sài Gòn từng tham gia chống Ngô Đình Diệm nhắc chúng tôi phải cảnh giác.

Lực lượng sinh viên Huế quá ít, lại mệt nên chúng tôi phải rất thận trọng mỗi lần “xuất quân”. Chúng tôi chuẩn bị sẵn nhưng không đăng ký phát biểu. Đợi đến khi nào chủ tọa đoàn mời mới lên. Chúng tôi nghe họ tố cộng, họ lên án miền Bắc, họ ám chỉ Việt cộng xâm nhập trong các phong trào tranh đấu ở Sài Gòn và ở Huế để chống Mỹ, chống chính quyền, gây rối loạn hậu phương của quân đội Việt Nam cộng hòa. Họ cũng ám chỉ sinh viên Huế do sợ đi lính nên chống chiến tranh.

Họ giới thiệu chủ trương đánh ra miền Bắc để lập lại hòa bình Việt Nam của tổng thống Johnson. Tất cả những ý tưởng ấy sẽ đưa đến chủ trương “Bắc tiến”. Họ khiêu khích sinh viên Huế nhưng chúng tôi vẫn ngồi chờ.

Thế rồi chủ tọa đoàn mời đích danh sinh viên Huế đăng đàn. Người được mời lên đầu tiên là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh Tường phát biểu rất nhiều nhưng gây ấn tượng nhất là câu: “Tôi không sợ đi lính, chỉ sợ cầm súng bắn vào đầu anh em, đồng bào của tôi thôi!”.

Lúc đó anh Tường nổi tiếng là người sống và hành động đấu tranh theo triết học hiện sinh, xem chiến tranh là phi lý. Do đó người ta nghe chứ chưa quy kết gì. Nhiều anh em sinh viên Huế khác phát biểu cũng không giấu được ý muốn đất nước hòa bình của mình.

 

Lúc đó ở Sài Gòn có chị Trần Thị Tuyết Hoa (sau này là vợ KTS Nguyễn Hữu Thái) nổi tiếng là “nữ vương hòa bình”. Dư luận thì cho tôi có vai trò như chị Hoa ở Huế. Tôi biết thế nào cũng phải lên diễn đàn.

Nếu tôi nói thẳng ý tưởng đấu tranh chống Mỹ, chống chiến tranh để lập lại hòa bình trong đầu tôi thì thế nào tôi cũng bị bắt ngay giữa hội trường. Vì thế, bám vào thông tin “chủ trương đánh ra miền Bắc để lập lại hòa bình Việt Nam của tổng thống Johnson”, tôi viết vội và đọc mấy câu thơ chứng minh cuộc chiến tranh này không có lý tưởng, và cuối cùng theo “nhân danh đường lối hòa bình của Johnson, tôi giết luôn tôi” mà thôi.

Không ký kiến nghị “Bắc tiến”

…Những phát biểu chống chiến tranh vận động hòa bình của sinh viên Huế không ngờ được nhiều người tán thành. Người tán thành ý kiến của sinh viên Huế đầu tiên là một phụ nữ lớn tuổi, to con, mặc áo dài, nói giọng Bắc.

Bà báo với hội thảo biết rằng gia đình bà ở miền Bắc. Nếu Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa thả bom và Bắc tiến sẽ làm chết người thân trong gia đình bà. Vì thế bà không tán thành chủ trương Bắc tiến. Phát biểu của bà được hoan nghênh nhiệt liệt. Người đàn bà can đảm ấy là luật sư Ngô Bá Thành. Tôi biết bà Ngô Bá Thành từ ấy.

Sau phát biểu của bà Ngô Bá Thành, nhiều sinh viên khác tiếp tục phát biểu không đồng tình với chủ trương Bắc tiến. Như thế đoàn sinh viên Huế đã khơi dậy được một xu hướng vận động hòa bình, đối trọng với chủ trương Bắc tiến của những người tổ chức nên cuộc hội thảo.

Thấy mục đích của cuộc hội thảo có thể không đạt được, đám thanh niên sinh viên tay chân của tướng Kỳ đăng đàn phản ứng mạnh mẽ xu hướng vận động hòa bình của sinh viên Huế. Họ không nói thẳng nhưng quy kết chúng tôi thơ ngây, bị “Việt cộng lợi dụng” chống Mỹ.

Phát biểu như thế là vừa đủ. Việc quan trọng còn lại là làm sao phá cho được việc đại diện thanh niên sinh viên toàn quốc ký vào kiến nghị gửi chính phủ VNCH xin Bắc tiến. Việc này sinh viên Huế nhờ vào tài ăn nói chặt chẽ đúng luật của hai người họ Trần là Xuân Kiêm và Anh Tuấn. Cuối cùng hai người họ Trần – đại diện sinh viên Huế – không ký vào bất cứ một kiến nghị Bắc tiến nào. Lý do vì đa số sinh viên Huế phát biểu không đồng tình.

Cuộc hội thảo của tướng Kỳ bày ra không đạt được kết quả. Nhiều người đi tìm để “hỏi tội” chúng tôi, nhưng họ không tìm được chúng tôi ở đâu cả. Bởi vì sau khi phát biểu, sau khi đọc thơ chúng tôi đã lặng lẽ lần lượt vào toilet thay áo quần và chuồn ra ngả sau về ẩn trong tư thất vị bộ trưởng công chánh thân Phật giáo trên đường Đoàn Thị Điểm.

Và sau đó đoàn chúng tôi chia thành nhiều tốp được xe dùng để đi chợ của gia đinh bộ trưởng đưa ra sân bay Tân Sơn Nhất đáp máy bay Air Việt Nam về Huế an toàn.

————————————

______________________

Kỳ tới: Đốt USIS và tòa lãnh sự Mỹ

 
NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s