Tự chủ mà vẫn nghẽn

Bảo Uyên Thứ Ba,  23/1/2018, 11:01 

(TBKTSG) – Hiện cả nước có 23 trường đại học công lập thực hiện thí điểm tự chủ toàn diện. Theo Nghị quyết số 77/NQ-CP năm 2014 (Nghị quyết 77) về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014-2017, những trường này được phép tự chủ trong các lĩnh vực: đào tạo, nghiên cứu khoa học; tổ chức bộ máy nhân sự và tài chính. Trong thực tế, các trường được và đã thực hiện quyền tự chủ của mình đến đâu?

Muốn tự chủ hiệu quả thì phải có nguồn lực kinh tế vững. Ảnh: Thành Hoa.

Nhìn toàn cục sau ba năm triển khai thí điểm, cơ chế tự chủ đã cởi trói cho các trường nhiều quy định bất cập trong Luật Giáo dục đại học (GDĐH) 2012. Cụ thể, trường được “nhập khẩu” giáo trình; hợp tác nghiên cứu với các trường, tổ chức quốc tế mà không cần phải thông qua cơ quan chủ quản. Các trường được chủ động đầu tư kinh phí cho nghiên cứu khoa học. Quy trình mở thêm ngành đào tạo được rút ngắn xuống còn 3-6 tháng thay vì mất gần một năm như trước kia. Nhờ đó, nhiều ngành nghề kịp thời được mở ra đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Thế nhưng, tinh thần tự chủ bị nghẽn lại khi các trường thực hiện những vấn đề liên quan đến tài chính và nhân sự. Dù không còn được đầu tư ngân sách, trường vẫn không thể tự đưa ra quyết định ở hai mảng này.

Lót sân gạch cũng phải xin phép Bộ

Thừa nhận những ưu điểm mà cơ chế tự chủ mang lại là rất lớn sau hai năm tham gia thí điểm nhưng ông Đỗ Văn Dũng, Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM, cho rằng nếu trường không mạnh dạn “xé rào” thì khó làm được nhiều việc. Bởi những quy định về xây dựng, đầu tư, tài chính dành cho trường vẫn không khác nhiều so với các trường công lập không tự chủ, đều phải qua cơ chế xin – cho.

“Mang tiếng là tự chủ nhưng năm ngoái, để lót gạch bãi giữ xe, trường cũng phải làm đơn xin phép Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT). Đơn gửi ra mấy tháng sau trường mới nhận được trả lời, lúc ấy mới dám làm, dù kinh phí xây dựng là do trường tự bỏ ra, hoàn toàn không phụ thuộc vào ngân sách nhà nước”, ông Dũng kể với phóng viên TBKTSG.

Theo ông Dũng, sở dĩ làm cái sân gạch cũng phải viết đơn xin Bộ GDĐT vì Nghị quyết 77 không qua được các quy định pháp luật khác như Luật Xây dựng… Nói cách khác, dù không còn nhận ngân sách nhà nước nhưng trường này vẫn là một cơ sở giáo dục công lập, có cơ quan chủ quản là Bộ GDĐT, đồng nghĩa với việc cơ sở vật chất của trường vẫn là tài sản công và chịu sự quản lý của luật trên.

Các trường không thể làm khác các quy định về tuyển dụng, bổ nhiệm chuyên gia lớn tuổi, chuyên gia nước ngoài làm quản lý chuyên môn, nếu không muốn vi phạm Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức. Các trường cũng không thể tự quyết chi tiêu, đầu tư mua sắm khác với quy định của Luật Đầu tư công.

Sự mâu thuẫn này còn gây khó khăn cho trường khi tiếp nhận nguồn vốn đầu tư bên ngoài. Nhiều doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ngành kỹ thuật có nhu cầu thuê đất trong khuôn viên trường để xây cơ sở thực nghiệm nhưng trường phải từ chối vì không thể tự quyết.

“Muốn hợp tác với họ thì phải làm đơn gửi lên nhiều cấp, ban ngành; quy trình phải qua nhiều bước. Nếu dự án được triển khai, trường sẽ thu về không dưới 10 tỉ đồng/năm. Nguồn thu này được dùng để đầu tư vào chương trình đào tạo, miễn học phí cho sinh viên nghèo, tăng thu nhập cho giảng viên. Không những mang lại lợi ích kinh tế, đây còn là không gian để sinh viên của trường thực hành. Nhưng rốt cuộc, đến nay, chúng tôi vẫn đành phải bỏ hoang miếng đất đó”, ông Dũng nói.

Ngay cả quy định về học phí, các trường tự chủ tuy được phép tăng mức thu nhưng cũng bị quy định về mức trần giới hạn lại.

Theo ông Dũng, quy định mức trần học phí không những gây khó khăn về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến sự cạnh tranh ở thị trường giáo dục.

“Trường nào chất lượng tốt, đầu tư kinh phí nhiều thì phải để họ được quyền quyết định mức thu học phí tương ứng. Nếu học phí cao mà môi trường học tập không tốt, ra trường thất nghiệp, lương thấp thì sinh viên, phụ huynh tự khắc sẽ tẩy chay. Nên xem giáo dục cũng là một loại sản phẩm hàng hóa và để thị trường tự điều chỉnh. Còn để đảm bảo bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, Nhà nước cần có những chính sách khác để hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, như chính sách vay tín dụng”, Ông Dũng nêu ý kiến.

Không được rót ngân sách, đa số các trường hiện “sống” bằng nguồn thu học phí. Theo GS.TS. Nguyễn Thị Cành, trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TPHCM, tỷ lệ này lên đến 80% tại các trường đang tham gia thí điểm tự chủ.

Các chính sách khác cản trở trường tiếp nhận đầu tư tài chính từ nguồn lực xã hội, học phí lại có quy định trần khiến không ít trường có năng lực tài chính kém chật vật giải quyết bài toán thu chi. Giải pháp mà nhiều trường chọn thực hiện là tăng lượng tuyển sinh đầu vào, mở rộng quy mô đào tạo để tăng ngân sách cho trường, dù cơ sở vật chất của trường khi ấy chưa đảm bảo cho lượng sinh viên tương ứng.

“Muốn tự chủ hiệu quả thì phải có nguồn lực kinh tế vững. Ở các trường đại học tiên tiến trên thế giới, nguồn tài chính của trường phần lớn là từ nguồn lực xã hội và những khoản thương mại hóa các nghiên cứu khoa học của trường. Nhưng Luật Đầu tư công, luật về thuế hiện nay không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào trường đại học”, bà Phan Thị Bích Nguyệt, Phó hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TPHCM, nói.

Bà Nguyệt đánh giá, tự chủ tài chính được lồng ghép trong rất nhiều văn bản pháp lý, từ Luật GDĐH, tới các nghị định, thông tư hướng dẫn… Tuy nhiên, do vẫn chưa có các văn bản hướng dẫn thật sự cụ thể nên trong quá trình thực hiện, nhà trường còn bị lúng túng giữa quyền cơ sở được tự quyết định và những quyền không được tự quyết định.

Nút thắt nhân sự

Một nút thắt khác khiến các trường vẫn chưa thể vận hành đúng với tinh thần tự chủ toàn diện là nhân sự. Nghị quyết 77 “khoán” cho trường tổ chức bộ máy nhân sự. Nhưng thực tế, khâu quản lý nhân sự từ tuyển dụng, luân chuyển, bổ nhiệm, chấm dứt hợp đồng vẫn phải dựa trên quy định cứng của Luật Viên chức.

Tại một hội thảo bàn về tự chủ đại học mới đây, bà Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng trường Đại học Luật TPHCM, đã chia sẻ chuyện trường mình bị “thổi còi” khi chủ động tuyển dụng theo cách riêng phù hợp với điều kiện thực tế của trường.

“Chỉ tiêu biên chế viên chức là giới hạn nên chúng tôi ưu tiên cho tuyển dụng giảng viên. Còn các vị trí như chuyên viên kỹ thuật, trường sẽ ký hợp đồng lao động để có thể thay đổi nội dung công việc của nhân viên này phù hợp với từng thời điểm của trường… Thế nhưng, trường đã bị nhắc nhở vì theo luật, các lao động được tuyển vào trường công lập đều được xét vào biên chế”, bà Quỳ cho hay.

Câu chuyện này không chỉ xảy ra ở Trường Đại học Luật TPHCM. Ông Dũng cho biết, tồn tại một thực tế là có không ít giảng viên, cán bộ nằm trong biên chế nhà nước không có năng lực đáp ứng được yêu cầu của trường nhưng trường không thể sa thải; ngược lại, có nhiều người có kinh nghiệm nhưng lại đến độ tuổi hưu, trường cũng không thể tự ý giữ lại.

“Như vậy có công bằng cho sinh viên không? Học ở một trường tự chủ đồng nghĩa với việc đóng học phí cao hơn nhưng lại không có nghĩa là chất lượng giảng dạy của thầy cô lúc nào cũng đảm bảo”, ông Dũng trao đổi với TBKTSG. Và theo ông, “nếu còn chưa cho trường tự chủ tài chính và tự chủ nhân sự thật sự thì tự chủ đại học hiện nay chỉ là nửa vời, không mấy ý nghĩa”.

Bên cạnh đó, dù có năng lực tài chính nhưng các trường cũng ngần ngại tuyển dụng người nước ngoài tham gia công tác giảng dạy, khi chưa thể tự quyết về nhân sự.

“Cơ chế tuyển dụng, trả lương cho nhân sự nước ngoài không rõ ràng làm cho cả hai bên nhà trường và người lao động vừa ngán vừa ngại”, hiệu trưởng một trường đại học tự chủ ở TPHCM nhìn nhận.

Ở một góc độ khác, điểm 2, điều 48 của Luật GDĐH nêu: “Chính phủ quy định chính sách đầu tư, chế độ đãi ngộ nhằm thu hút các nhà khoa học và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động tài trợ, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; quy định cụ thể điều kiện, thủ tục về hợp tác quốc tế quy định tại các điều 44, 45 và 46 của luật này”.

Bà Cành cho rằng: “Vấn đề thu hút, tuyển chọn nhân lực nên để cho cơ sở GDĐH tự chủ tự quyết định, không cần sự can thiệp của Chính phủ bằng các quy định”. “Nếu Chính phủ quy định chế độ đãi ngộ liệu có phù hợp với đặc thù với từng ngành nghề, điều kiện tài chính của cơ sở đào tạo và tính tự chủ về tài chính, tự chủ về nhân sự của các cơ sở GDĐH được quyền tự chủ?”, bà Cành đặt câu hỏi.

Theo bà Cành, từ kết quả khảo sát các trường đang thí điểm tự chủ cho thấy, dù theo quyết định thí điểm tự chủ đại học, các trường được tất cả các quyền của tự chủ đại học, nhưng hiện cơ chế tự chủ của các trường đại học công lập ở Việt Nam vẫn đang gặp những trở ngại về luật pháp (Luật Cán bộ, công chức, Luật Đầu tư công…). Các trường không thể làm khác các quy định về tuyển dụng, bổ nhiệm chuyên gia lớn tuổi, chuyên gia nước ngoài làm quản lý chuyên môn, nếu không muốn vi phạm Luật Công chức, viên chức. Các trường cũng không thể tự quyết chi tiêu, đầu tư mua sắm khác với quy định của Luật Đầu tư công. Luật GDĐH đã đưa ra các quyền tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học nhưng chưa có các khái niệm cụ thể về các quyền này. Một khi chưa có khái niệm cụ thể trong luật thì nghị định, thông tư hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thể sẽ bị méo mó, mang tính chủ quan của cơ quan quản lý nhà nước.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s